Phỏng vấn Đại sứ Michael W. Marine
Đại sứ Michael W. Marine trả lời phỏng vấn trực tuyến trên Vietnam Net
Ngày 10/8/2007
Xin lưu ý: VietnamNet đã biên tập lại hoặc đã xoá các đoạn văn được đánh dấu khi họ đăng cuộc đối thoại này trên trang web của họ.
Câu hỏi: Xin cảm ơn ngài Đại sứ đã tham dự buổi giao lưu trực tuyến với độc giả Việt Nam. Có lẽ đây là một trong những ngày cuối cùng của Ngài trong nhiệm kỳ của mình.
Đại sứ Michael Marine: Rất vui lòng.
Câu hỏi: Câu hỏi đầu tiên dành cho ngài. Hãy cùng nhìn lại thời gian 3 năm của ngài tại Việt Nam. Ngài đến Việt Nam năm 2004, và giờ đây chúng ta chuẩn bị nói lời tạm biệt. Vậy trong thời gian ngài đảm nhiệm cương vị Đại sứ tại Việt Nam, điều gì khiến ngài cảm thấy vui và hài lòng?
Đại sứ Marine: Có rất nhiều điều khiến tôi hài lòng trong 3 năm qua. Bất cứ ai theo dõi tình hình quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ trong ba năm qua đều có thể thấy rằng đã có những thay đổi lớn lao, tích cực. Hai bên đã trao đổi nhiều phái đoàn cấp cao: nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải thăm Hoa Kỳ, Tổng thống George W. Bush thăm Việt Nam trong khuôn khổ hội nghị APEC. Gần đây nhất, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã đến Washington và California. Đó đều là những diễn tiến quan trọng.
Chúng ta cũng thấy có sự tiến bộ trong từng lĩnh vực cụ thể. Trao đổi thương mại hai chiều tiếp tục tăng trưởng. Đầu tư của Mỹ vào Việt Nam đã tăng nhanh. Hai nước cũng đã tìm ra các cách thức để hợp tác trong vấn đề nhạy cảm về tôn giáo, trên cơ sở đó Hoa Kỳ đã đưa Việt Nam ra khỏi danh sách các quốc gia đặc biệt quan tâm về tôn giáo.
Đó chỉ là một vài ví dụ. Nếu nhìn vào tổng thể mối quan hệ, có thể thấy đã có sự phát triển và tiến bộ ở tất cả các lĩnh vực. Có thể khẳng định quan hệ hai nước đã phát triển mạnh mẽ hơn nhiều so với 3 năm trước.
Câu hỏi: Trong thời gian ba năm, chắc hẳn cũng tồn tại những khó khăn, trở ngại trong tiến trình đạt được tầm quan hệ hiện nay giữa hai nước. Ngài có thể chia sẻ về các vấn đề, khó khăn này?
Đại sứ Marine: Các vấn đề chúng ta gặp phải trong ba năm qua hầu hết đã được giải quyết. Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề chưa giải quyết được. Tôi hy vọng chúng ta sẽ có thể đạt được thoả thuận cho chúng trong thời gian không xa. Ví dụ, có một số thoả thuận thương mại, đầu tư, hai bên đã đàm phán, thoả thuận nhiều lần nhưng chưa đi đến kết luận cuối cùng.
Ngoài ra, chúng ta cũng chưa xây dựng được chương trình Peace Corps tại Việt Nam. Nếu chương trình này được thực hiện, sẽ có các phái đoàn tình nguyện đến Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh dạy tiếng Anh. Đó sẽ là một biểu tượng tốt của tầm quan hệ song phương hiện nay.
Ngoài ra, một vấn đề tôi hy vọng sẽ được giải quyết sớm là thỏa thuận về khu đất để xây dựng toà sứ quán mới. Toà đại sứ hiện nay quá nhỏ, không tương xứng với tầm quan hệ hai nước.
Ngoài ra, còn có những vấn đề dài hạn hơn mà hai bên cần tiếp tục trao đổi. Chúng ta có sự khác biệt về vấn đề nhân quyền và về cách thức giải quyết tốt nhất cho vấn đề đó. Chúng ta có một khuôn khổ đối thoại về nhân quyền rất hữu ích. Tuy nhiên, cũng cần có các chương trình hành động nhằm tiếp tục hoàn thiện nền pháp quyền và quản lý nhà nước hiệu quả tại Việt Nam, cho phép chúng ta tìm hiểu cách thức cùng làm việc về vấn đề nhân quyền.
Câu hỏi: Về việc xây dựng Đại sứ quán mới, chúng tôi được biết Đại sứ quán Hoa Kỳ sẽ được nhận một khu đất gần Hồ Tây. Tuy nhiên tại sao đến thời điểm này vẫn chưa xây dựng?
Đại sứ Marine: Thực tế chúng tôi đã đạt được thoả thuận về một khu đất ở Ciputra, tức là phía bắc Hồ Tây, để xây dựng toà đại sứ mới. Nhưng thoả thuận về địa điểm chỉ là bước đầu. Hiện nay chúng tôi đang đàm phán về các điều kiện thuê đất như giá thuê, các cơ sở hạ tầng đi kèm, v.v.
Chúng tôi đã nêu giá đề nghị của chúng tôi. Chính phủ Việt Nam cho rằng giá đó quá thấp nhưng vẫn chưa đưa ra giá yêu cầu. Do đó vấn đề vẫn còn bị tắc lại.
Câu hỏi: Tại sao ngài không đưa ra giá cao hơn?
Đại sứ Marine: Đàm phán là quá trình làm việc, thoả thuận giữa hai phía. Không thể chỉ có một bên đưa ra giá. Chúng tôi cần biết Chính phủ Việt Nam muốn gì, và trên cơ sở đó, hai bên có thể làm việc để đạt được thỏa thuận chung.
Vấn đề thậm chí phức tạp hơn vì cơ chế sở hữu đất đai của hai nước khác nhau. Việt Nam có thể mua đất của Mỹ và sở hữu mãi mãi. Nhưng ở Việt Nam, chúng tôi chỉ được thuê đất. Do đó chúng tôi cần thuê trong thời gian dài để đảm bảo việc đầu tư của mình.
Toà đại sứ mới khi được xây dựng sẽ là một toà nhà hoành tráng. Đây sẽ là một khoản đầu tư lớn của Hoa Kỳ vào tương lai của Việt Nam và tương lai của mối quan hệ song phương Việt - Mỹ.
Câu hỏi: Phải chăng hiện nay các ngài còn đang đợi câu trả lời của Bộ Kế hoạch Đầu tư?
Đại sứ Marine: Không. Mà từ Bộ Ngoại giao vì chúng tôi là một cơ quan ngoại giao. Ngoài ra còn từ chính quyền thành phố Hà Nội. Đây là hai cơ quan đứng ra thương thảo.
Câu hỏi: Chúng tôi hy vọng các nhà chức trách Việt Nam sẽ sớm thoả thuận được các điều kiện, và các ngài sẽ có một mảnh đất đẹp để xây dựng một toà đại sứ tuyệt vời tại Ciputra.
Đại sứ Marine: Tôi muốn trở lại Việt Nam để cắt băng khánh thành toà đại sứ đó. Tất nhiên, chúng ta cũng biết là cần có thời gian để hoàn thành việc xây dựng .
Câu hỏi: Câu hỏi từ ông Lê Vũ Hoàng, Đại học Ngoại thương. Xin Đại sứ cho biết điều ngài tâm đắc nhất trong nhiệm kỳ tại Việt Nam của mình?
Đại sứ Marine: Tôi đến Việt Nam lần đầu năm 1988. Thời điểm đó có rất ít các hoạt động kinh tế, thậm chí ngay cả ở Hà Nội chứ không chỉ ở các vùng nông thôn. Khi đó, quan hệ hai nước ở quy mô rất hẹp. Hai bên chỉ có thể đối thoại về những vấn đề rất quan trọng vào thời điểm đó, bao gồm việc tìm kiếm người Mỹ mất tích trong chiến tranh và cách thức các tổ chức phi chính phủ Mỹ có thể hỗ trợ người dân Việt Nam gặp khó khăn.
Ngày nay, khi nhìn vào Việt Nam, có hai điều tôi làm tôi thấy vui: Thứ nhất, đó là mức độ hoạt động kinh tế lớn lao và nguồn năng lượng dồi dào hiển hiện từ suốt đầu này đến đầu kia của đất nước. Việt Nam đang chuyển động và chuyển động đúng hướng.
Thứ hai, mối quan hệ song phương Việt Nam – Hoa Kỳ đang phát triển rộng khắp, đa dạng và rất tích cực. Hai điều này gắn bó chặt chẽ với nhau. Việc Hoa Kỳ hiện là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam chính là một động lực cho sự tăng trưởng kinh tế mà tôi vừa đề cập.
Câu hỏi: Ngài có lời khuyên gì để chúng tôi có thể phát triển công nghệ và dịch vụ dựa trên các tiềm năng về kiến thức và năng lực của mình?
Đại sứ Marine: Tôi có hai lời khuyên. Một là, hãy tập trung vào giáo dục. Tôi cho rằng các bạn trẻ Việt Nam không cần lời khuyên này, vì thực tế họ đã và đang làm điều đó. Tuy nhiên, các bạn trẻ cần trang bị cho mình những kỹ năng cần thiết và phù hợp cho bối cảnh thị trường của thế kỷ XXI.
Hệ thống giáo dục Việt Nam hiện nay đang bị kéo căng. Tôi đã có một bài phát biểu về vấn đề này tại TP. Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, sẽ có các cách thức để khắc phục và tôi tin rằng điều đó sẽ xảy ra. Mỗi cá nhân cần tập trung vào việc sử dụng các cơ hội có được để tự hoàn thiện mình đến mức cao nhất thông qua giáo dục.
Lời khuyên thứ hai của tôi là hãy đừng lo sợ. Hãy lao vào cạnh tranh, tìm kiếm các thách thức, sẵn sàng chấp nhận mọi công việc và để tài năng của mình toả sáng.
Việc gia nhập WTO đã mở ra một thế giới với đầy cơ hội cho đất nước và con người Việt Nam. Điều quan trọng là các bạn phải nắm bắt được các cơ hội đó.
Câu hỏi: Câu hỏi của ông Đặng Văn Một ở tỉnh Bình Dương. Sau khi rời nhiệm sở tại Việt Nam, ngài sẽ về Mỹ hay đến làm việc tại một nước khác? Nếu được hỏi về đất nước Việt Nam, ngài sẽ nói gì?
Đại sứ Marine: Tôi chưa có kế hoạch rõ ràng cho tương lai. Tôi sẽ nghỉ công việc Chính phủ vào tháng 10 tới và sẽ dành vài tháng để cân nhắc kế hoạch tiếp theo.
Tuy nhiên, tôi hy vọng rằng các khả năng mới sẽ tự xuất hiện và sẽ đưa tôi trở lại Việt Nam làm việc về quan hệ Việt - Mỹ trên một tư cách khác.
Nếu nói về Việt Nam với những người khác, tôi sẽ trả lời thật đơn giản: Hãy đến và nhìn Việt Nam bằng chính con mắt của mình. Đừng nghĩ rằng bạn đã biết về Việt Nam. Tôi cho rằng riêng người Mỹ vẫn có xu hướng nhìn nhận Việt Nam như một đất nước của 35 năm về trước. Họ sẽ có một sự ngạc nhiên dễ chịu khi đến Việt Nam. Tôi sẽ khuyên họ đến Việt Nam. Tôi cũng sẽ kêu gọi các doanh nghiệp Mỹ đến và tìm kiếm cơ hội kinh doanh tại Việt Nam.
Câu hỏi: Theo ngài làm thế nào để chúng ta tăng cường hiểu biết lẫn nhau, giúp người Mỹ hiểu rõ hơn về Việt Nam và đến Việt Nam nhiều hơn để du lịch và kinh doanh? Ngược lại, làm thế nào để người Việt Nam hiểu Mỹ nhiều hơn? Thực tế có nhiều người Việt Nam không hiểu rõ về Hoa Kỳ. Làm thế nào để có nhiều người Việt Nam đến Hoa Kỳ hơn?
Đại sứ Marine: Tôi nghĩ chúng ta cần tiếp tục làm những việc chúng ta đang làm. Chúng ta cần sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng, truyền thông để truyền đạt các thông điệp về Hoa Kỳ đến người dân Việt Nam và ngược lại. Tôi cho rằng Đại sứ quán Việt Nam tại Washington và Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại San Francisco cũng có thể sử dụng các hình thức truyền thông để giúp người Mỹ hiểu về Việt Nam.
Ngoài ra, các bạn trẻ Việt Nam có thể làm một việc mang lại lợi ích lớn nhất là tập trung vào học tiếng Anh. Đáng tiếc là không nhiều người Mỹ nói được tiếng Việt, nhưng tôi cho rằng nhiều bạn trẻ Việt Nam học và nói tiếng Anh tốt. Điều này có lợi cho họ, giúp tăng cơ hội giao tiếp với những người khách từ đến từ phương xa.
Câu hỏi: Các tổ chức phi chính phủ (NGOs) cũng đóng vai trò trong việc tăng cường giao lưu văn hoá. Chúng ta cần làm gì để đưa họ đến Việt Nam, xây dựng các chương trình nhằm giúp người dân Việt Nam hiểu về Mỹ và văn hoá Mỹ nhiều hơn?
Đại sứ Marine: Có hàng trăm NGOs có trụ sở tại Mỹ đang hoạt động ở Việt Nam. Rất nhiều trong số này đang tìm cách mở rộng hoạt động tại những vùng miền trước đây chưa có hoạt động. Tuy nhiên, vấn đề trọng tâm là cách thức tiếp cận, liên kết, xử lý của lãnh đạo địa phương. Nếu lãnh đạo địa phương hoan nghênh và tạo điều kiện, các NGOs và doanh nghiệp sẽ đến địa phương để hoạt động. Nhưng không có sự hoan nghênh, khuyến khích, họ sẽ tìm đến nơi khác.
Tôi nghĩ cộng đồng người Mỹ gốc Việt cũng đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối Hoa Kỳ và Việt Nam. Bàn tay hữu nghị của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đưa ra đối với cộng đồng người Mỹ gốc Việt ở California, New York, Washington có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tạo ra điều kiện cho cộng đồng này đóng vai trò tích cực hơn nữa tại Việt Nam.
Với thời gian trôi qua, nhiều người Mỹ gốc Việt đã rất thành công ở nước Mỹ. Họ được đào tạo, học hành tốt, kinh doanh thành công và trở nên giàu có. Họ tự hào là người Mỹ và cũng tự hào về gốc gác Việt Nam của mình. Chúng ta hãy tận dụng điều đó để củng cố quan hệ hai nước.
Câu hỏi: Quan hệ giữa Việt Nam và cộng đồng người Mỹ gốc Việt tại Mỹ vẫn có những vấn đề nhạy cảm và phức tạp. Bên cạnh những nhóm người trẻ tuổi tích cực, thiện chí và chủ động có những hoạt động đóng góp cho quan hệ hai nước, cũng có những người đi ngược lại, quá khích, gây trở ngại cho mối quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ. Thậm chí ngay cả khi chính phủ Việt Nam đã ban hành một số chính sách, nhà nước Việt Nam sẵn lòng xây dựng quan hệ với cộng đồng người Mỹ gốc Việt tại Hoa Kỳ, những người này vẫn không muốn tạo dựng quan hệ với Việt Nam. Theo ngài, có giải pháp nào cho vấn đề này?
Đại sứ Marine: Tôi nghĩ rằng không thể thuyết phục tất cả những người Mỹ gốc Việt ở Mỹ quay trở lại và làm việc vì Tổ quốc Việt Nam. Một số người vẫn còn rất cay đắng do các trải nghiệm trong và sau chiến tranh. Do đó, không thể thuyết phục được tất cả.
Nhưng điều cần thiết là chúng ta hãy tiếp tục chìa bàn tay thân thiện ra và làm việc tích cực với những ai sẵn lòng nắm lấy bàn tay đó để tăng cường quan hệ.
Nhân đây, tôi nghĩ rằng cần thận trọng khi dùng cụm từ “cực đoan”. Có nhiều người trong cộng đồng chỉ trích Chính phủ bởi họ mong muốn có tự do chính trị nhiều hơn tại Việt Nam. Tôi cũng mong muốn điều đó. Vậy liệu tôi có phải là một người cực đoan? Tôi không cho là thế.
Câu hỏi: Tôi tôn trọng quan điểm của ngài. Hãy nói về vấn đề truyền thông. Để người Mỹ hiểu Việt Nam, cần có một hệ thống truyền thông hữu hiệu cho phép báo chí và website của Việt Nam đến được với nhiều người Mỹ hơn. Theo ngài giải pháp cho việc này là gì?
Đại sứ Marine: Thông tin trên báo chí Việt Nam cần được chuyển dịch sang tiếng Anh. Nếu không, số lượng người đọc sẽ rất ít.
Tôi không phải là chuyên gia về máy tính, nhưng tôi biết hiện có những phần mềm giúp cho việc chuyển tải ngôn ngữ này trở nên dễ dàng hơn. Ở Việt Nam, Đại sứ quán và Tổng lãnh sự quán Hoa Kỳ gửi thông tin đều đặn cho báo chí Việt Nam. Họ rất thích nhận được thông tin và sử dụng chúng một cách chính xác.
Việc trao đổi thông tin thực sự giữa hai nước còn phải tính đến các quy định của hai chính phủ. Phía Việt Nam gửi tài liệu tiếng Việt hoặc tiếng Anh sang Mỹ rất dễ dàng nhưng các công ty Mỹ thì không như vậy.
Nếu không có sự tự do luân chuyển thông tin, Việt Nam sẽ không thể sử dụng hết diện tiềm năng của mình.
Câu hỏi: Câu hỏi của ông Trịnh Hoàng Giang, Tập đoàn VNPT. Xin gửi lời chào đến ngài và chúc mừng ngài về nhiệm kỳ của mình tại Việt Nam. Như ngài đã đề cập, quan hệ Việt - Mỹ đã chuyển sang một giai đoạn mới, một thời kỳ hợp tác song phương, hai bên cùng có lợi trên cơ sở bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau. Ngài mô tả mức độ hợp tác của mối quan hệ này như thế nào?
Đại sứ Marine: Những gì ông mô tả rất chính xác. Đó quả thực là những gì đang diễn ra. Quan hệ hợp tác hai nước đã đi vào giai đoạn mới. Tôi đã đề cập các lĩnh vực chúng ta đã đạt được tiến bộ, các lĩnh vực đang có tiến bộ, và còn nhiều khía cạnh khác.
Tôi muốn lấy ví dụ về quan hệ giữa quân đội hai nước. Ba năm trước khi tôi đến Việt Nam, đây là một mảng bị tụt lại phía sau trong tổng thể mối quan hệ. Nhưng bây giờ điều đó không còn đúng nữa. Vượt ra khỏi phạm vi các cuộc trao đổi giữa các lãnh đạo quân sự cao cấp, chúng ta giờ đây đã có nhiều chuyến thăm của các tàu Mỹ, gần đây nhất có tàu bệnh viện USS Peleliu tới Đà Nẵng. Hai nước mở rộng việc đào tạo tiếng Anh cho cán bộ quân sự, cung cấp phòng học tiếng giúp nhiều cán bộ hơn nữa được học tiếng Anh. Mỹ cũng sẽ bán các phụ tùng, thiết bị quân sự cho Việt Nam. Cách đây 3 năm, điều này là không có.
Ngoài ra, đối với các vấn đề di sản chiến tranh như POW/MIA, tháo gỡ bom mìn chưa nổ, vấn đề chất da cam/dioxin, v.v. cũng có các tiến bộ. Những tiến bộ này giúp hai bên có thể đi xa hơn nữa trong việc giải quyết các vấn đề nói trên.
Câu hỏi: Quan điểm và chính sách kinh tế của Mỹ đối với Việt Nam sắp tới có gì thay đổi và phát triển hơn nữa không?
Đại sứ Marine: Chúng tôi đang bước vào mùa bầu cử. Năm 2008 sẽ diễn ra bầu cử Tổng thống Hoa Kỳ. Tôi không dự đoán được đảng nào sẽ chiến thắng, nắm giữ hai viện trong Quốc hội Mỹ. Nhưng tôi không nghĩ việc đảng nào chiến thắng sẽ ảnh hưởng đến mức độ hợp tác mà Hoa Kỳ đang có với Việt Nam. Quan hệ sẽ diễn tiến theo hướng tăng trưởng hơn nữa. Năm nay, thương mại hai chiều sẽ đạt 10 tỷ USD và sẽ còn tiến tới mức 15 tỷ USD. Không có lí do gì để không đạt được mức này và thậm chí cao hơn nữa.
Đầu tư của Mỹ vào Việt Nam đang tăng lên. Hiện còn nhiều dự án đang chờ quyết định chính thức.
Hiệp định Khung về Đầu tư và Thương mại (TIFA) vừa được ký kết tháng 6/2007 đã tạo ra khuôn khổ cho hai bên trao đổi về quyền sở hữu trí tuệ, quyền lao động, cải thiện môi trường đầu tư. Đó là những điều kiện quan trọng để tăng cường hơn nữa hợp tác kinh tế giữa hai nước.
Câu hỏi: Hệ thống thẩm định, tham chiếu và tòa kinh tế của Mỹ có khách quan hay không trong các vụ kiện phá giá khi Mỹ nhập khẩu hàng thực phẩm của Việt Nam?
Đại sứ Marine: Câu trả lời ngắn gọn là có. Tòa kinh tế của Mỹ công bằng, hệ thống làm việc minh bạch, quy định luật pháp rõ ràng. Quá trình thẩm định và đưa ra phán quyết công bằng với tất cả các bên.
Nếu bạn nhìn vào quá trình diễn ra vấn đề này, bạn có thể thấy, các nhà xuất khẩu của Việt Nam đã học được từ hệ thống của chúng tôi,. Họ học được các quy định, biết cách vận hành theo quy định đó và đã rất thành công. Nhờ đó, xuất khẩu từ Việt Nam sang Mỹ tăng 25% mỗi năm. Ngay những nhà sản xuất cá tra, cá basa đã hồi phục được, vượt xa, lớn mạnh và thịnh vượng hơn.
Câu hỏi: Thị trường Mỹ liệu có thể "gần" thị trường Việt Nam hơn nữa được không? Chính sách ứng xử, hệ thống và các rào cản được cho là khó khăn nhất đối với hàng Việt Nam khi thâm nhập thị trường Mỹ là gì?
Đại sứ Marine: Tôi chưa thật hiểu rõ ý của bạn, nhưng tôi cho rằng vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là nhân tố quan trọng. Đã có những tiến bộ nhưng cần nhiều hơn nữa nếu muốn thị trường hai nước gần nhau hơn.
Ví dụ, Việt Nam mong muốn phát triển mạnh mẽ CNTT để trở thành nước cung cấp phần mềm, chương trình IT lớn ở khu vực và thế giới. Nhưng nếu quyền sở hữu trí tuệ không được bảo vệ, các công ty Mỹ sẽ ngần ngại, không muốn hợp tác, làm việc và đầu tư ở Việt Nam.
Gần đây, Chính phủ có quyết định tất cả các phần mềm Chính phủ sử dụng phải là phần mềm mua bản quyền từ Microsoft. Đó là động thái tích cực, là bước đi quan trọng đầu tiên. Các trường đại học và doanh nghiệp cũng cần làm việc đó. Tôi tin là máy tính của VietNamNet sử dụng các phần mềm có bản quyền hợp pháp. Nhưng không phải ở công ty nào cũng như vậy.
Câu hỏi: Có nhiều độc giả Việt Nam tham dự vào buổi giao lưu này. Họ gửi lời chúc tốt đẹp đến ngài và cám ơn ngài vì những đóng góp cho việc tăng cường quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.
Câu hỏi từ Thu Uyên và Đặng Đình Quý từ Đà Lạt. Ngài đã chứng kiến nhiều thay đổi quan trọng trong quan hệ hai nước. Vậy sẽ có những thay đổi nào trong thời gian tới? Ngoài ra, quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ có thể nâng tầm để trở thành đối tác chiến lược của nhau giống như quan hệ Mỹ - Nhật, Mỹ - Úc hay không?
Đại sứ Marine: Trong tương lai gần, có thay đổi nào nữa trong quan hệ hai nước hay không thì tôi không biết. Nhưng có những vấn đề chúng ta vẫn còn cần phải làm việc cùng nhau. Một tuần nữa, tân đại sứ Michalak sẽ đến Việt Nam. Ông có kinh nghiệm riêng, mối quan tâm riêng và vì thế sẽ có tác động đến diễn tiến quan hệ hai nước theo cách của mình.
Mô tả về mối quan hệ là đối tác chiến lược hay không về ngữ nghĩa thực ra không quan trọng lắm. Mỹ thực sự muốn Việt Nam là một nước vững mạnh, ổn định, độc lập. Chúng tôi muốn làm việc với Việt Nam để bảo đảm hoà bình, ổn định trong khu vực. Điều đó tốt cho nước Mỹ và cả khu vực. Hiện nay, Việt Nam đang nộp đơn để thành viên của Hội đồng Bảo an LHQ vào năm 2008. Nếu điều đó xảy ra, chúng tôi mong sẽ tiếp tục làm việc với Việt Nam để giải quyết các vấn đề ở cấp độ toàn cầu. Để đạt được điều đó, chúng ta cần xây dựng quan hệ giống như xây dựng bức tường, đặt từng viên gạch một. Cần nắm bắt bất cứ cơ hội nào có thể.
Còn để nói quan hệ bao giờ sẽ trở thành đối tác chiến lược, thì không ai có thể trả lời chính xác. Điều rõ ràng đối với tôi và nhiều quan sát viên là quan hệ hai nước đang ngày càng mạnh mẽ hơn và đang đi đúng hướng.
Như Tổng thống Bush đã nói tại Phòng bầu dục khi Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết thăm Mỹ, điều quan trọng để hai nước phát triển quan hệ, phát triển toàn diện tiềm năng quan hệ hai nước là hai nước phải làm việc với nhau về vấn đề nhân quyền.
Câu hỏi: Xin ông đánh giá về tình hình nhân quyền của Việt Nam hiện nay, không phải là 3 tháng trước.
Đại sứ Marine: Trong vòng vài tháng, không có nhiều thay đổi. Nhưng tôi sẽ cố đưa ra một đánh giá thẳng thắn.
Tôi nghĩ bức tranh khá lẫn lộn, có những tiến bộ ở nơi này nhưng không có tiến bộ ở nơi khác. Rõ ràng là về mặt tự do tôn giáo đã có tiến bộ. Đại đa số các tín đồ Việt Nam đều được thực hiện các tín ngưỡng của họ một cách tự do. Như thế là tốt.
Vẫn có những lĩnh vực như đăng ký các giáo đoàn, thái độ của một số quan chức địa phương, và chúng tôi đang theo dõi, nhưng chúng ta có cơ chế để làm việc cùng nhau về các vấn đề này.
Xét về khái niệm rộng nhất, nhân quyền đã có cải thiện ở Việt Nam với việc người Việt Nam có quyền tự do hơn khi lựa chọn nơi ở, việc làm, các cơ hội cải thiện điều kiện kinh tế. Tất cả những điều đó đã cải thiện và tiếp tục cải thiện và điều đó thật là quan trọng.
Khi tôi nói "lẫn lộn", có nghĩa là có phần tốt và có phần xấu, và phần cần phải làm việc nhiều hơn là các quyền tự do chính trị cơ bản. Tự do ngôn luận, tự do hội họp và tự do lập hội.
Tôi nghĩ để xã hội Việt Nam đạt được toàn bộ tiềm năng của mình, mọi người cần có khả năng tập hợp lại với nhau, có một quan điểm và thể hiện quan điểm đó 1 cách tự do. Tôi nghĩ điều đó có tính xây dựng và lành mạnh đối với bất cứ xã hội nào.
Tôi nhận thức rằng hệ thống và lịch sử của Việt Nam khác với chúng tôi và vì vậy chúng ta cũng cần làm việc tích cực để hiểu nhau. Tôi không cho rằng những điều này sẽ thay đổi chỉ sau 1 đêm, nhưng tôi hy vọng rồi sẽ có những thay đổi trong tương lai vì tôi tin rằng điều đó là rất tốt đối với Việt Nam.
Câu hỏi: Câu hỏi của ông Phạm Minh Trí ở thành phố Hồ Chí Minh. Nhân quyền là vấn đề nhạy cảm, và đôi khi trở thành nhân tố làm cản trở quan hệ hai nước do mỗi nước có điều kiện và hoàn cảnh riêng. Do đó cần từng bước giải quyết vấn đề này. Ý kiến của ngài như thế nào?
Đại sứ Marine: Tôi cho rằng ý kiến của ông Trí rất đúng và rất hợp lý. Đó là lý do tại sao cuộc đối thoại của chúng ta thật là quan trọng. Việc tôi có thể lên VietnamNet và nói về những điều vấn đề này cũng thật là quan trọng. Cần phải tìm hiểu những ý kiến này theo một cách thức cởi mở để mọi người đều có thể thoải mái về những thay đổi có thể xảy ra.
Nhưng chúng ta đang nói về các quyền cơ bản, các quyền được chấp nhận một cách phổ quát và thực tế được quy định trong các công ước Liên hiệp quốc trong đó có một công ước do Việt Nam ký kết. Từng bước một là thích hợp. Chắc chắn sẽ thích hợp vì sự thay đổi cần phải diễn ra theo nhịp độ mà nhân dân và chính quyền Việt Nam muốn có. Điều trọng yếu là phải có tiến bộ, hướng tới những quyền được chấp nhận một cách phổ quát dành cho mọi người.
Tôi nghĩ bước đi chủ chốt đầu tiên là loại bỏ bất cứ luật nào ở Việt Nam trái với Hiến pháp bảo đảm quyền tự do ngôn luận. Nhưng có những luật, như Điều 88 [Bộ luật Hình sự], coi việc tuyên truyền chống chính phủ là tội hình sự, điều đó trái với nguyên tắc trong Hiến pháp về tự do ngôn luận.
Tôi nghĩ Việt Nam cần sớm tiến tới mức độ mà khi người dân kêu gọi dân chủ và đa đảng thì người ta không bị bắt giữ và bỏ tù. Việt Nam không cần phải chấp nhận những ý kiến đó nhưng cần phải sẵn lòng nghe chúng.
Câu hỏi: Ở Việt Nam gần đây người dân có thể đóng góp ý kiến và thậm chí có thể chỉ trích chính phủ trên báo chí, ông có nghĩ có sự hiểu nhầm giữa chống chính phủ và chỉ trích chính phủ?
Đại sứ Marine: Có một ranh giới ở đây. Chính quyền Việt Nam đặt cái ranh giới đó ở chỗ này trong khi phần còn lại của thế giới thường đặt ranh giới đó xa hơn.
Chống chính phủ bằng lời nói, nói rằng chính phủ sai rồi và chính phủ cần phải thay đổi cái này, cái kia, đó là tự do ngôn luận và cần được cho phép. Chống chính phủ bằng bạo lực là điều sai trái và không được phép ở bất cứ xã hội nào.
Câu hỏi: Tôi muốn nêu với ông một ví dụ. Gần đây trên VietnamNet và trên một vài tờ báo khác, có nhiều bài viết của độc giả chỉ trích và chống lại 1 kế hoạch của chính quyền địa phương thành phố Hà Nội xây dựng 1 Disneyland ở công viên Thống Nhất.
Đại sứ Marine: Tôi đồng ý là hiện nay người ta có nhiều không gian thảo luận những vấn đề như thế này hơn so với cách đây 10 năm. Cách chính quyền xử lý những người biểu tình vì đất đai ở thành phố HCM lại là một ví dụ khác. Tôi không cho rằng báo chí đã đưa tin đầy đủ về vụ đó.
Câu hỏi: Ở VieetnamNet chúng tôi đã đưa nhiều tin về vụ đó và những chỉ trích về vụ đó. Và chúng tôi đã tổ chức đối thoại trực tuyến với nguyên Bộ trưởng Tài nguyên và Môi trường trên VietnamNet. Xin hỏi ông câu hỏi khác, ông có cho rằng nhân quyền ở Việt Nam hiện nay đã tốt hơn, so với cách đây 3 năm?
Đại sứ Marine: Một số khía cạnh đã tốt hơn. Một số khía cạnh thì tồi đi. Xin nói lại, những nhãn mác như thế này thường không có ích lắm. Tôi nghĩ cần phải đi vào chi tiết để hiểu rõ điều gì đang diễn ra.
Câu hỏi: Câu hỏi từ ông Nguyễn Tiến Dũng ở Hà Nội. Tôi muốn biết về những điểm yếu của người Việt chúng tôi. Chỉ bằng cách ấy, chúng tôi mới có thể cải thiện và làm mình tốt hơn. Tôi sẽ rất vui nếu ngài có thể chia sẻ về những điều khiến ngài không hài lòng nhất trong thời gian ngài ở Việt Nam?
Đại sứ Marine: Tôi không biết mình có thể vừa là một nhà ngoại giao vừa trả lời câu hỏi này không. Có hai điều tôi thấy khó khăn khi ở Việt Nam. Đó là hình thái giao thông. Tôi cho rằng các nhà chức trách đang có bước đi để cải thiện tình hình và tôi hoan nghênh nỗ lực đó. Họ đang cố gắng tăng cường việc thực thi luật đường bộ và bắt buộc người điều khiển xe máy dội mũ bảo hiểm. Đó là điều tuyệt vời.
Nhưng chính những người lái xe phải có trách nhiệm khi đi trên đường, phải hiểu rõ cách thức lái xe của họ trên đường nguy hiểm như thế nào.
Điều thứ hai là ngành dịch vụ ở Việt Nam còn mới mẻ, đặc biệt với khách sạn, cửa hàng và các ngành dịch vụ khác. Nhân viên phục vụ đã khá tốt trong nhà hàng, khách sạn, nhưng ở các cửa hàng, cửa hiệu thì cần cải thiện tốt hơn. Họ phải biết là họ đang cạnh tranh với các cửa hàng cửa hiệu của Thái Lan, Trung Quốc. Những người khách nếu không cảm thấy thoải mái khi đến cửa hàng, họ sẽ mang những ấn tượng rất xấu. Và điều quan trọng là họ sẽ không tiêu tiền ở Việt Nam.
Câu hỏi: Ngài sẽ làm gì sau khi rời Việt Nam?
Đại sứ Marine: Tôi đã nói về vấn đề này lúc trước. Tôi chỉ biết rõ một điều là tôi sẽ không nghỉ hưu và chỉ đi câu cá. Tôi còn năng lực và muốn đóng góp điều gì đó cho các dự án, giúp giải quyết các vấn đề. Ví dụ như thế này, trước khi đến đây sáng nay, tôi có gặp bộ trưởng Trần Thị Trung Chiến. Bà có kế hoạch nhận làm Chủ tịch hội phòng chống HIV/AIDS. Tôi thấy đó là một công việc tuyệt vời. Và tôi mong mình sẽ có cơ hội để làm những công việc như vậy.
Câu hỏi: Ông Peterson sau khi rời Việt Nam làm công việc kinh doanh. Ngài có nghĩ mình sẽ có cơ hội kinh doanh ở Việt Nam hay không?
Đại sứ Marine: Cơ hội lúc nào cũng có. Tôi không tiên đoán được tương lai. Chúng ta hãy chờ xem.
Câu hỏi: Câu hỏi của ông Hoàng Văn Hưng ở thành phố Hồ Chí Minh. Ngài đã hoàn thành tốt nhiệm kỳ 3 năm ở Việt Nam. Chúng tôi sẽ luôn chào mừng ngài trở lại và mong ngài tiếp tục đóng góp nhiều hơn cho quan hệ hai nước, giúp người Mỹ hiểu hơn về Việt Nam, dù ngài không còn là Đại sứ ở Việt Nam. Khi chia tay Việt Nam, điều gì khiến ngài lưu luyến nhiều nhất?
Đại sứ Marine: Cảm ơn vì những lời nói tốt đẹp của ông. Điều quan trọng là chúng ta cần công nhận rằng những đóng góp của tôi tôi dù tuyệt vời như thế nào đi nữa cũng là nhờ sự nỗ lực của hàng trăm nhân viên của Đại sứ quán và Tổng lãnh sự quán Hoa Kỳ tại TP. Hồ Chí Minh.
Được là đại diện cho đất nước mình trên tư cách Đại sứ luôn là một điều đặc biệt, và còn đặc biệt hơn nữa khi được làm việc Việt Nam. Có nhiều điều làm tôi lưu luyến Việt Nam: những món ăn ngon, đặc biệt ở đồng bằng sông Cửu Long, hải sản rất ngon, phong cảnh Việt Nam rất đẹp, nhất là những rặng núi ở miền Bắc. Nụ cười trẻ thơ khi tôi đi thăm các tỉnh từ Bắc tới Nam, tôi luôn chơi đùa cùng các cháu. Nhưng tiếc là tôi không nói được tiếng Việt. Ấn tượng lâu dài nhất của tôi là sự nhiệt huyết của người dân Việt Nam. Họ hết sức cố gắng để cải thiện đời sống của mình và đưa đất nước tiến lên.
Câu hỏi: Quay lại nước Mỹ, ngài nhìn nhận tương lai của nước Mỹ như thế nào?
Đại sứ Marine: Đây là một câu hỏi hay và phức tạp. Về bản chất, tôi là người lạc quan. Nước Mỹ cũng có những vấn đề của mình nhưng tôi tin nước Mỹ biết cách tìm giải pháp để giải quyết và vượt qua những vấn đề đó. Nếu phải tiên đoán, tôi cho rằng nước Mỹ sẽ vẫn là nền kinh tế mạnh nhất thế giới, và Mỹ sẽ tiếp tục làm việc cùng bạn bè, đồng minh để đảm bảo thế giới này an toàn.
Câu hỏi: Câu hỏi của ông Lê Xuân Thêm ở thành phố Hồ Chí Minh. Ngài có thể lí giải tại sao nhiều người, nhiều nước trên thế giới ghét nước Mỹ?
Đại sứ Marine: Tôi cho rằng mỗi nhà ngoại giao, mỗi nhà báo, mỗi người dân Mỹ cần phải làm tốt hơn để giải thích nước Mỹ đang làm gì và tại sao nước Mỹ lại hành xử như vậy. Nước Mỹ cũng như người dân Mỹ cần nỗ lực hơn nữa để hiểu quan điểm của người dân và các nước khác.
Đối với một số vấn đề như khủng bố, đây là vấn đề rất lớn và cần có hành động bằng bạo lực để đáp trả. Tất nhiên, có những người chắc chắn sẽ phản đối và điều đó không thể tránh được, và chúng tôi không thể quan tâm quá mức.
Câu hỏi: Câu hỏi từ bà Lê Diệu Hằng ở Hà Nôi. Tại sao các cộng đồng Hồi giáo chỉ tấn công và khủng bố nước Mỹ?
Đại sứ Marine: Tôi không nghĩ các cộng đồng Hồi giáo muốn chiến đấu chống Mỹ. Tôi nghĩ có những thành phần trong những cộng đồng đó quyết tâm dùng khủng bố để tấn công hệ thống giá trị mà thế giới, không chỉ Mỹ, công nhận.
Cuộc chiến không phải để chống lại người Hồi giáo hay đạo Hồi. Đây là cuộc chiến chống những kẻ tham gia khủng bố. Tôi nghĩ đại đa số những người Hồi giáo cũng mong muốn những điều mà tất cả chúng ta đều mong muốn - hoà bình, an ninh và thịnh vượng.
Câu hỏi: Tại sao các kẻ khủng bố, Hồi giáo cực đoan chỉ tấn công nước Mỹ mà không tấn công các nước khác?
Đại sứ Marine: Nếu nhìn vào con số thống kê, có thể thấy, chúng cũng tấn công nhiều nơi khác như Ma-rốc, Tây Ban Nha, Paris, London, v.v. Mong muốn sử dụng khủng bố để đạt mục đích rõ ràng là một vấn đề thực sự. Và chúng ta phải tìm ra biện pháp để chấm dứt điều đó. Nói bằng lời thì không đủ mà cần sử dụng vũ lực. Thế giới cần làm việc cùng nhau, không chỉ riêng nước Mỹ.
Nạn khủng bố cũng tồn tại ở khu vực Đông Nam Á: Philippine, Inđônêxia, Thái Lan… Chúng ta cần làm việc với những nước khác để giải quyết vấn đề này.
Câu hỏi: Cuốn sách Politicans Losts của Mỹ đánh giá rằng: Càng ngày Mỹ càng thiếu những nhà chính trị can đảm, hiến thân vì lợi ích chung mà càng nhiều người vì lợi ích của các nhóm lợi ích nhỏ, việc làm không đi với lời nói, khiến mất lòng tin vào lãnh đạo của nước Mỹ. Ngài đánh giá điều này như thế nào?
Đại sứ Marine: Tôi chưa đọc quyển sách đó nên không thể đánh giá gì về giá trị của nó. Nhưng đó chỉ là quan điểm thôi, chứ chưa hẳn đã là một thực tế. Điều quan trọng và tuyệt vời của nền dân chủ là chúng ta có thể thay đổi ý kiến, bầu ra một người đại diện, nếu không ưng, có thể phế truất, thay thế họ. Chính người dân thực hiện các quyền đó, đánh giá quan chức, nếu làm không tốt, họ có thể thay thế bằng người xứng đáng hơn.
Hiện nay, nước Mỹ đang lựa chọn ứng cử viên của đảng cho cuộc tranh cử Tổng thống Mỹ 2008. Có rất nhiều sự lựa chọn các ứng viên. Họ ở vị trí khác nhau, quan điểm khác nhau.
Câu hỏi: Ngài có gì muốn nhắn nhủ tới bạn đọc VietNamNet trước khi rời Việt Nam?
Đại sứ Marine: Có nhiều điều tôi có thể nói nhưng chắc chắn chúng ta không muốn mất thêm 2 giờ đồng hồ.
Suy nghĩ của tôi khi chia tay là người VN cần phải làm việc vì đất nước mà họ mong muốn, họ phải đưa ra câu hỏi, nêu ra ý tưởng, chất vấn và làm việc chặt chẽ với lãnh đạo để làm đất nước hùng mạnh hơn. Kiếm tiền thì không đủ, và có nhiều việc để xây dựng đất nước hơn là chỉ phát triển kinh tế. Việc tham gia vào một chương trình như thế này rất tốt, hoạt động bổ ích, nhưng còn những việc có ích khác như bảo vệ môi trường, hỗ trợ thiên tai, HIV/AIDS, v.v. Tôi mong các bạn trẻ Việt Nam sẽ tham gia hoạt động này.
- Xin cảm ơn ngài Đại sứ đã tham dự buổi giao lưu. Cảm ơn ngài vì những đóng góp vào việc xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Cảm ơn ngài đã ba lần tham gia vào các buổi giao lưu trực tuyến với VịetnamNet. Xin chúc ngài và gia đình sức khoẻ, thành công. Mong sẽ được giao lưu với ngài trong cương vị mới.
Đại sứ Marine: Xin cảm ơn.