jump over navigation bar
Embassy SealBộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Đại sứ quán Hợp chúng quốc Hoa Kỳ - Hanoi, Vietnam flag graphic
Đại sứ quán Hoa Kỳ
 
  Phó Đại sứ Cựu Đại sứ Cựu Phó đại sứ

Phát biểu của Đại sứ Michael W. Marine

Phát biểu tại Phiên họp Thường niên của Phòng Thương mại Hoa Kỳ
Câu lạc bộ Báo chí, Hà Nội, ngày 18 tháng 9 năm 2006

Xin chào các quý vị.  Tôi vui mừng tới đây tối nay để chào hỏi các bạn cũ và tôi vui mừng được thấy một số khuôn mặt mới trong phòng này.  Đây sẽ là lần thứ ba, và có lẽ là lần cuối cùng, tôi tham dự Phiên họp Thường niên của Phòng Thương mại Hoa Kỳ tại Hà Nội với tư cách là Đại sứ tại Việt Nam, bởi vì nhiệm kỳ của tôi sẽ kết thúc trong năm tới.  Như một số vị ở đây còn nhớ, vào ngày 28 tháng 9 năm 2004, tôi đã phát biểu tại phiên họp này không lâu sau khi tôi tới Việt Nam.  Lúc đó, tôi nói rằng triển vọng là tươi sáng để quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam tiếp tục đi vào chiều sâu và mở rộng.  Tôi đã lưu ý rằng sự kiên trì sẽ là một chìa khoá để tiếp tục tiến triển khi chúng ta có được lòng tin trong việc hợp tác với nhau.  Tôi đã nói mối quan hệ song phương này là “non trẻ, nhưng rất hứa hẹn.”

Hai năm sau, tôi có thể tự hào nói rằng cả Hoa Kỳ và Việt Nam, rất nỗ lực, đã đi một chặng đường dài để tiến tới đạt được viễn cảnh này.  Chúng ta đã mở rộng thành công mối quan hệ hữu nghị và quan hệ đối tác của chúng ta trong nhiều lĩnh vực, trong đó có các quan hệ thương mại và mậu dịch mà tất cả các quý vị đều đặc biệt quan tâm.  Kể từ khi Hiệp định Thương mại Song phương (BTA) bắt đầu có hiệu lực vào cuối năm 2001, thương mại song phương của chúng ta đã tăng gấp năm lần, mà phần lớn sự tăng trưởng đó đã diễn ra trong thời gian hai năm qua.  Nhiều người Mỹ ở trong phòng này đang được hưởng lợi cả từ sự tăng trưởng này trong thương mại và từ những cải cách có liên quan mà Việt Nam tiến hành để thực hiện theo BTA.  Đồng thời, BTA cũng giúp cho hàng triệu nông dân, công nhân và các công dân khác của Việt Nam được hưởng cuộc sống phồn vinh hơn.  Những lợi ích rõ ràng của BTA đối với Việt Nam đã khích lệ các nhà lãnh đạo của Việt Nam tăng gấp đôi nỗ lực để tiến hành các cải cách và đưa ra những cam kết cần thiết để gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, một quá trình hiện đang diễn ra tại Geneva – và tại Washington.

Trước khi đề cập tới những thành công trong thương mại của chúng ta và những việc còn phải làm trong những lĩnh vực chủ chốt cần phải cải cách, cho phép tôi được nói về cuộc chơi hồi kết đối với việc gia nhập WTO của Việt Nam và những bước đi ở Hoa Kỳ để dành cho Việt Nam quy chế Quan hệ Thương mại Bình thường Vĩnh viễn (PNTR).

Tại Hoa Kỳ, quá trình chính trị đang tiếp diễn.  Uỷ ban Tài chính của Thượng nghị viện đã thông qua dự luật về PNTR vào ngày 31 tháng 7, nhưng cả Hạ nghị viện và Thượng nghị viện đều chưa bỏ phiếu về dự luật này.  Như quý vị có thể hình dung, các cuộc bầu cử Quốc hội giữa kỳ hiện đang ảnh hưởng đến quá trình này và việc sắp xếp thời gian làm việc về tất cả các dự luật.  Quý vị đều đã xem những phóng sự tin tức rằng một số ngành công nghiệp, đáng chú ý là ngành dệt may, đã bày tỏ lo ngại về việc thiếu những cơ chế bảo vệ trong thoả thuận song phương của chúng ta về việc Việt Nam gia nhập WTO.  Tất nhiên, các vấn đề nhân quyền và tự do tôn giáo cũng đã được nêu lên đối với cuộc bỏ phiếu này.  Những lo ngại và quan điểm này được thể hiện trong ý kiến phát biểu của một số thành viên Quốc hội, là bình thường trong quá trình dân chủ của chúng ta, nhưng được đưa ra trong bối cảnh tình hình chung đang được cải thiện ở Việt Nam, đặc biệt là về tự do tôn giáo.  Các lãnh đạo Quốc hội đã nói về việc hoàn tất bỏ phiếu về dự luật sau đợt bầu cử giữa kỳ và trước khi Tổng thống Bush tới Hà Nội để tham dự Hội nghị các Nhà Lãnh đạo APEC.  Nhưng, tất cả chúng ta đều nhận thấy rằng đó là một cửa sổ cơ hội rất hẹp.

Tôi rất lạc quan rằng quy chế PNTR sẽ được trao, và lạc quan một cách thận trọng rằng quá trình này sẽ hoàn tất trước khi Hội nghị các Nhà Lãnh đạo APEC bắt đầu vào ngày 18 tháng 11.  Các cấp cao nhất của Chính quyền vẫn quyết tâm để PNTR sớm được thông qua và tích cực làm việc với các uỷ ban và thành viên liên quan của Quốc hội để giúp làm cho điều này trở thành hiện thực.  Gần đây nhất, vấn đề này đã được nhấn mạnh bởi Bộ trưởng Tài chính Henry Paulson trong chuyến thăm của ông tới Hà Nội hồi đầu tháng này để tham dự Hội nghị các Bộ trưởng Tài chính APEC.

Cùng nhau, Việt Nam và Hoa Kỳ sẽ đối mặt với thách thức của việc đưa quá trình PNTR đi tới thắng lợi cuối cùng trong khi chúng ta có những thách thức khác trong rất nhiều lĩnh vực khác, cùng nhau hướng tới các mục tiêu chung của chúng ta.  Đây là bức tranh lớn hơn mà hôm nay tôi muốn mô tả cho tất cả các quý vị.

Tất nhiên, điều quan trọng là phải nhớ rằng Việt Nam vẫn còn có những yêu cầu cần phải hoàn thành trước khi trở thành thành viên WTO.  Việt Nam đã kết thúc tất cả các cuộc đàm phán song phương, trong đó tất nhiên bao gồm một thoả thuận song phương về tiếp cận thị trường được đàm phán mạnh mẽ với Hoa Kỳ.  Các cuộc đàm phán đa phương với Ban Công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO đang tiếp diễn và đi đúng hướng.  Phiên họp chính thức gần đây nhất của Ban Công tác diễn ra vào ngày 19 tháng 7 tại Geneva và tất cả các bên quan tâm, trong đó có Hoa Kỳ, đang tiếp tục làm việc để hoàn tất bản báo cáo của Ban Công tác, mà đó sẽ tạo thành cơ sở cho Nghị định thư Gia nhập của Việt Nam.  Việt Nam hy vọng rằng Nghị định thư Gia nhập sẽ được chuyển tới Đại hội đồng WTO vào tháng 10.  Một khi văn bản đó được nhất trí thông qua, Quốc hội Việt Nam sau đó sẽ cần phải phê chuẩn Nghị định thư Gia nhập tại một trong hai kỳ họp còn lại của mình trong năm nay.  Các kỳ họp đó sẽ diễn ra từ ngày 17 tháng 10 đến 10 tháng 11 và từ ngày 20 tháng 11 đến 6 tháng 12.  Một khi văn bản phê chuẩn được chuyển tới WTO tại Geneva và sau một khoảng thời gian 30 ngày chờ đợi, Nghị định thư đó sẽ bắt đầu có hiệu lực.

Như tôi đã đề cập ở phần đầu bài phát biểu, hai năm trước tôi đã nói mối quan hệ song phương này là “non trẻ và rất hứa hẹn.”  Với việc Việt Nam gia nhập WTO và làm chủ nhà hội nghị APEC trong thời gian sắp tới, tôi sẽ đưa ra một dự đoán nữa - rằng chúng ta đang sẵn sàng để đưa mối quan hệ của chúng ta sang một giai đoạn mới sâu sắc hơn và dẫn tới nhiều mối liên kết chặt chẽ hơn trong nhiều lĩnh vực hơn.  Khi chúng ta chuyển sang thập kỷ thứ hai sau khi bình thường hoá quan hệ, tôi nhìn thấy trước một mối quan hệ đối tác được cả hai bên vun đắp nhiều hơn.  Một mặt, điều này có nghĩa là Việt Nam sẽ tiếp tục đi theo con đường cải cách kinh tế và pháp luật hiện nay của mình với những cải thiện khá vững chắc trong môi trường kinh doanh và sự tin tưởng chung ngày càng tăng vào tính minh bạch của hệ thống.  Những cải cách này sẽ dẫn tới những thay đổi thực sự trong khu vực doanh nghiệp nhà nước, tạo thêm không gian phát triển cho khu vực tư nhân, bắt đầu bảo hộ về mặt pháp luật một cách hiệu quả tài sản trí tuệ, và một tiến trình cụ thể hướng tới thiết lập một hệ thống pháp quyền.

Tất nhiên, vẫn còn có những thách thức đối với viễn cảnh này.  Thông tin từ bản Báo cáo Môi trường Kinh doanh 2007 của Ngân hàng Thế giới cho thấy rằng Việt Nam đã tụt sáu bậc xuống vị trí thứ 104 trong số 175 nước về môi trường kinh doanh là không đáng phấn khởi.  Tất cả những cải cách pháp quy chậm trễ,  các chính sách cồng kềnh, việc thực thi hợp đồng yếu kém, các biện pháp bảo vệ nhà đầu tư tạm bợ của Việt Nam đều góp phần gây ra sự tụt dốc này.  Trừ phi Việt Nam có thể chiến đấu một cách hiệu quả chống lại căn bệnh ung thư tham nhũng ở tất cả các cấp, như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã cam kết sẽ làm như vậy trong bài diễn văn nhậm chức của mình, những rào cản đối với những cải cách toàn diện sẽ vẫn là cao và khả năng thành công của Việt Nam trong việc chuyển đổi nền kinh tế thành một nước có mức thu nhập trung bình sẽ là không chắc chắn.  Để phát triển một mối quan hệ toàn diện sâu sắc hơn giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, Hà Nội cũng sẽ phải xem xét lại một số nguyên tắc trong chính sách đối ngoại của mình, nhất là lập trường “làm bạn với tất cả”.  Với tư cách là một nước hưởng lợi của hệ thống thương mại toàn cầu, chúng ta mong đợi Việt Nam sẽ có lập trường rõ ràng hơn về “những người bạn” đe dọa sự ổn định trong khu vực hoặc sự ổn định toàn cầu -- những nước như Bắc Triều Tiên, Iran và Miến Điện.  Ngoài ra, chúng ta hy vọng và mong đợi rằng Việt Nam sẽ tiến tới tạo không gian thông thoáng hơn để cho các công dân của mình bày tỏ ý kiến, thực hành tín ngưỡng tôn giáo và tham gia vào các hệ thống cởi mở hơn để đảm bảo trách nhiệm giải trình bao gồm cả quyền được lựa chọn những người đại diện của họ.

Tin tốt lành là, bất chấp những thách thức của việc kinh doanh tại Việt Nam, tinh thần doanh nghiệp Mỹ đã mang lại những câu chuyện thành công trong nhiều lĩnh vực ngành nghề khác nhau.  Năm vừa qua đã chứng kiến một số thành công quan trọng trong thương mại đối với các công ty Mỹ.  Vào tháng 12, IBM đã thắng thầu một hợp đồng 50 triệu đô la để hiện đại hoá hệ thống máy tính của Bộ Tài chính Việt Nam.  Vào tháng 5, Lockheed Martin đã được chọn để cung cấp vệ tinh thông tin đầu tiên của Việt Nam, một dự án có giá trị xấp xỉ 170 triệu đô la.  Motorola đã đạt được tiến bộ to lớn trong thị trường máy điện thoại di động, tăng thị phần của mình từ dưới 2% cách đây hai năm lên đến nay là hơn 20%.

Trên mặt trận đầu tư cũng vậy, năm nay các công ty Hoa Kỳ đã đạt được những mốc quan trọng.  Intel đã được cấp giấy phép để xây dựng một cơ sở sản xuất công nghệ cao trị giá 600 triệu đô la ở bên ngoài Thành phố Hồ Chí Minh.  Cũng đã có tiến triển quan trọng trong việc đảm bảo sự tham gia của Hoa Kỳ trong việc phát triển cơ sở hạ tầng tại Việt Nam, với việc SSA Marine được chấp thuận hồi tháng 8 để tiến hành một dự án lớn tại cảng Cái Mép ở Thành phố Hồ Chí Minh.  Trong năm tới, chúng ta mong đợi sẽ phát triển thêm trên cơ sở những thành công này và sẽ tập trung nỗ lực của chúng ta để hỗ trợ các công ty Hoa Kỳ theo đuổi một loạt các dự án tại Việt Nam; trong đó có việc bán thêm các máy bay sản xuất tại Hoa Kỳ, đạt được sự chấp thuận cho hai dự án điện lực lớn do Hoa Kỳ đề xuất và có thêm các công ty bảo hiểm Hoa Kỳ được cấp giấy phép hoạt động.
Nếu được thực hiện đầy đủ, các dự án này và những dự án khác mà số lượng quá nhiều để có thể liệt kê hết sẽ có tiềm năng biến đổi mạnh mẽ quy mô quan hệ song phương của chúng ta và góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế của Việt Nam.  APEC sẽ tạo cho Việt Nam một cơ hội để giới thiệu những thành tựu của mình, đưa ra một tuyên bố mạnh mẽ về các cam kết cải cách của mình và đóng một vai trò rõ rệt hơn trong hoạt động hợp tác khu vực.  Đó sẽ là một cơ hội cho các nhà lãnh đạo APEC, trong đó có Tổng thống Bush, chia sẻ ý kiến và những vấn đề hai bên cùng quan tâm.  Hội nghị thượng đỉnh các Tổng giám đốc doanh nghiệp APEC cũng sẽ tập hợp lại những trí tuệ kinh doanh lớn để cộng tác và hợp tác với sự suy xét thấu đáo.  Và tôi biết rằng AmCham sẽ đóng một vai trò trọng yếu để làm cho sự kiện đó trở nên thành công.

Mặc dù còn nhiều việc ở phía trước chúng ta, đây là một giai đoạn thú vị trong mối quan hệ song phương của chúng ta – trên mặt trận kinh doanh cũng như trong những nỗ lực của chúng ta để thúc đẩy những lợi ích bao trùm của chúng ta và xây dựng sự hiểu biết lẫn nhau sâu sắc hơn giữa nhân dân hai nước chúng ta.  Mỗi người trong số quý vị ở đây đều đóng vai trò trọng yếu trong những quá trình phát triển này.  Các lãnh đạo của AmCham cũng xứng đáng được khen ngợi vì những cống hiến to lớn của họ trong việc phục vụ cộng đồng doanh nghiệp.  Thay mặt nhân dân Mỹ và Chính quyền Bush, tôi muốn cảm ơn các vị về tất cả những gì quý vị đã làm để xây dựng mối quan hệ này và để giúp quảng bá phong cách kinh doanh Mỹ trên khắp thế giới.

Phía trước chúng ta có cả những thách thức và những phần thưởng, nhưng tôi vẫn kiên định với suy nghĩ lạc quan của mình rằng mối quan hệ đối tác mạnh mẽ và tình hữu nghị giữa Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ tiếp tục lớn mạnh.  Tôi chúc tất cả quý vị thành công trong năm tới.  Cảm ơn quý vị.

lên đầu trang ^

Công cụ:

Printer_icon.gif In trang này



 

    Trang Web này được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ quản lý.
    Chúng tôi không chịu trách nhiệm về nội dung và tính bảo mật thông tin của các trang Web khác được liên kết đến.


Đại sứ quán Hoa Kỳ