Ngài Đại sứ Michael W. Michalak
Họp báo kỷ niệm một năm của nhiệm kỳ
Ngày 20 tháng 8 năm 2008
Đại sứ Michalak: “Xin chào các bạn. Một năm trước đây khi tôi đến Hà Nội, tôi không thể nói tiếng Việt. Sau khi tôi học tiếng Việt, tôi có thể nói tiếng Việt một ít. Tôi nói tiếng Việt không thạo”. [Phát biểu bằng tiếng Việt] Và sau đây tôi sẽ bắt đầu nói tiếng Anh [cười].
Tôi hơi hồi hộp một chút. Tôi chưa bao giờ thực sự có một lễ kỷ niệm lần thứ nhất nào cả. Đây là một điều mới lạ đối với tôi.
Tôi nghĩ rằng một trong những việc tốt nhất tôi đã làm được trong năm đầu tiên là học được một chút tiếng Việt. Và tôi có thể nói với các bạn rằng tiếng Việt thực sự là một ngôn ngữ khó.
Tôi cho rằng có lẽ một trong những thành tựu lớn lao nhất của tôi trong năm năm đầu tiên là chuyến thăm rất thành công rực rỡ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tới Washington và gặp gỡ Tổng thống Bush.
Mục tiêu chính của tôi trong cương vị Đại sứ tại Việt Nam là mở rộng và làm sâu sắc hơn lòng tin, tình hữu nghị và mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Tôi nghĩ rằng qua chuyến thăm của Thủ tướng Dũng, hai nhà lãnh đạo đã nâng mối quan hệ của chúng ta lên một tầm cao mới.
Hai bên sẽ tiếp tục thảo luận về quan hệ kinh tế thương mại; đây là lĩnh vực đặc biệt quan trọng và theo nhiều cách thức khác nhau đã trở thành trung tâm của quan hệ hai nước. Chúng ta cũng đã ký một số thoả thuận rất quan trọng và đã thảo luận chi tiết về giáo dục, thay đổi khí hậu, an ninh và hợp tác giữa hai nước. Tôi tin rằng đây là những vấn đề mới trong mối quan hệ của chúng ta.
Như các bạn biết, khi tôi mới đến Việt Nam, tôi đã nói với mọi người là tôi có ba ưu tiên. Thực tế giờ đây tôi có tới bốn ưu tiên. Tôi sẽ nói với các bạn về ưu tiên thứ tư này trong ít phút nữa.
Một trong những ưu tiên của tôi là tiếp tục mở rộng và tăng cường quan hệ kinh tế, thương mại. Trong bài phát biểu chúng tôi đã chuyển tới các bạn, các bạn sẽ thấy một vài con số chứng minh mối quan hệ của chúng ta đã thực sự được tăng cường. Thương mại hai chiều đã tăng trưởng đáng kể. Cũng có rất nhiều thành thực khác nữa trong lĩnh vực này trong năm đầu tiên của tôi.
Trong số các thành tựu đạt được trong 12 tháng qua, các bạn cũng sẽ nhận ra mối liên hệ chặt chẽ với các ưu tiên của chính phủ Việt Nam. Ví dụ, về kinh tế thương mại, Thủ tướng Dũng trong chuyến thăm Washington đã yêu cầu chúng tôi mở rộng thị trường cho hoa quả nhiệt đới của Việt Nam. Tôi vừa mới được biết hai ôngtenơ thanh long chuẩn bị được xuất khẩu sang Mỹ. Như vậy, trong lĩnh vực này chúng ta đã có một số tiến triển.
Khi tôi có cuộc gặp ra mắt Thủ tướng Dũng, ông có ghi nhận rằng mỗi Đại sứ Mỹ Hoa Kỳ tới Việt Nam đều liên quan đến một số sự kiện thương mại quan trọng. Đại sứ Peterson và Đại sứ Burkhart đã làm việc rất tích cực về Hiệp định Thương mại Song phương. Đại sứ Michael Marine đã rất tích cực trong việc Việt Nam ra nhập WTO và việc trao quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn đối với Việt Nam.
Thủ tướng gợi ý rằng có lẽ điều thích hợp đối với tôi là việc ký Hiệp định Đầu tư Song phương với Việt Nam. Hãy thử đoán điều gì đã diễn ra? Trong chuyến đến thăm của Thủ tướng, hai bên đã thoả thuận sẽ bắt đầu các cuộc đàm phán về Hiệp định Đầu tư Song phương với Việt Nam. Đây là việc làm phù hợp với lợi ích của cả Mỹ và Việt Nam.
Như các bạn đều biết, giáo dục là một trong những mối quan tâm hàng đầu của tôi. Tôi cũng đã nói chuyện và tích cực làm việc để nỗ lực cải thiện quan hệ giáo dục giữa Mỹ và Việt Nam. Trước khi sang Việt Nam tôi đã hứa sẽ cố gắng hết mình để tăng gấp đôi số sinh viên Việt Nam sang Mỹ.
Số visa cấp cho sinh viên sang Mỹ học tập tới nay đã tăng 70% so với cách đây một năm. Tôi nghĩ rằng tôi đã làm tốt trong quá trình đạt được mục tiêu của mình. Trong chuyến thăm Washington của Thủ tướng, chúng tôi đã ký một Bản ghi nhớ về việc thành lập Nhóm Công tác Việt-Mỹ về Giáo Dục. Chúng tôi sẽ tiếp tục làm việc tích cực với các đối tác Việt Nam để tìm cách tăng cường hợp tác giữa hai nước.
Tôi cũng đã nói rằng một trong những ưu tiên khác của tôi là tiếp tục trao đổi với chính phủ Việt Nam về vấn đề nhân quyền. Mặc dù vẫn còn một số khác biệt trong vấn đề này, hai bên cũng có nhiều lĩnh vực tương đồng khác mà chúng ta đã đạt được một số tiến triển. Đã có các phái đoàn của chính phủ Việt Nam sang Mỹ để nghiên cứu hệ thống của Hoa Kỳ. Sẽ còn có một phái đoàn tương đối lớn nữa tiếp tục việc nghiên cứu tìm hiểu này. Tự do tôn giáo tiếp tục có tiến bộ tại Việt Nam; ngày càng có nhiều nhà thờ được đăng ký và nhiều cơ hội người dân thực hành tôn giáo.
Tất nhiên chúng ta vẫn còn những khác biệt, và hai bên đã có chương trình đối thoại nhân quyền hàng năm nhằm giải quyết các khác biệt trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau. Tôi nghĩ rằng có rất nhiều lĩnh vực mà chúng ta có thể hợp tác hơn nữa. Chúng ta cùng đồng ý rằng củng cố Quốc Hội là một ý tưởng tốt và chúng tôi đang tìm cách trợ giúp kỹ thuật trong lĩnh vực đó. Chúng tôi tán thành việc cải thiện hệ thống pháp lý, thành lập một hội luật sư và soạn thảo luật về hiệp hội nhằm cho phép các tổ chức phi chính phủ giúp đỡ Việt Nam nhiều hơn nữa. Đây cũng là điều tốt. Chúng tôi mong muốn tiếp tục hợp tác trong những lĩnh vực đó. Chống tham nhũng là một vấn đề mà ai cũng nhận ra rằng cần phải được cải thiện ở khắp mọi nơi trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Tính minh bạch là kẻ thù lớn nhất của tham nhũng và chúng tôi nỗ lực làm việc với chính phủ Việt Nam nhằm cải thiện sự minh bạch trong các giao dịch tài chính, giao dịch pháp lý và trong giao dịch chung giữa người dân và chính phủ.
Như vậy, mặc dù chưa làm được tất cả những gì tôi muốn làm trong lĩnh vực này, tôi vẫn cho rằng chúng ta đã làm tốt trong việc đạt được các tiến bộ.
Ưu tiên thứ tư của tôi là cố gắng mua đất để xây một toà sứ quán mới [cười]. Có thể các bạn cho rằng điều đó buồn cười, nhưng nếu bạn đi hết toà nhà này và một số toà nhà khác của chúng tôi ở trong thành phố, bạn sẽ thấy chúng chật chội đến mức nào và bạn sẽ hiểu sự cần thiết phải có một toà Đại sứ mới. Tôi dự định sẽ cố gắng tiếp tục nói chuyện với các quan chức cấp cao cho đến khi chúng tôi mua đuợc đất.
Về tổng thể, mục tiêu của tôi ở đây là tăng cường sự tín nhiệm và tin tưởng của nhân dân, chính phủ Việt Nam và của Đảng đối với Hoa Kỳ. Tôi làm việc này bằng cách cố gắng tiếp xúc với càng nhiều người càng tốt và gặp gỡ các quan chức chính phủ, cán bộ Đảng và những người dân thường. Đó là lý do tại sao tôi cố gắng học tiếng Việt.
Nếu có ai đó nghi ngờ về các dự định của Hoa Kỳ thì tôi nghĩ rằng Tổng thống Bush, qua chuyến thăm Washington của Thủ tướng Dũng, đã tóm tắt rất đầy đủ. Ông đã nhắc lại trong Tuyên bố Chung Việt Nam-Hoa Kỳ về việc Mỹ ủng hộ toàn vẹn lãnh thổ, an ninh và chủ quyền quốc gia của Việt Nam.
Trong năm đầu tiên, tôi càng ngày càng thích cuộc sống tại Việt Nam. Tôi rất thích gặp gỡ mọi người và kết bạn với rất nhiều người Việt Nam. Hoa Kỳ chúc Việt Nam những điều tốt đẹp nhất. Và tôi ở đây để thực hiện những gì có thể để những điều tốt đẹp đó diễn ra.
Sau đây, tôi sẽ trả lời câu hỏi của các bạn.
Câu hỏi: Tôi là phóng viên báo Vietnam Economic News. Trong bài phát biểu của ông, chúng tôi thấy có rất nhiều tiến bộ trong quan hệ giữa hai nước và cũng đã có rất nhiều thành tựu. Song vẫn còn một vấn đề. Đó là sự hợp tác giữa hai nước trong việc giải quyết vấn đề nạn nhân bị phơi nhiễm dioxin. Chúng tôi đã nghe nói có một dự án trị giá hàng triệu đô-la, song chúng tôi không biết kế hoạch cho các bước tiếp theo là gì? Xin ông có thể cho biết kế hoạch và bước sắp tới sẽ được thực hiện để giải quyết vấn đề này?
Đại sứ Michalak: Hiện tại chúng tôi có ba triệu đô-la sử dụng cho các dự án về khắc phục hậu quả đối với môi trường tại Việt Nam. Chúng tôi gần như đã sẵn sàng với dự án đầu tiên, tôi cho rằng sẽ được khởi động trong vòng hai hoặc ba tháng tới. Hiện nay chúng tôi vẫn đang ở giai đoạn cuối của quá trình điều phối với Chính phủ Việt Nam về lựa chọn đề xuất dự án phù hợp cho các mục tiêu của chúng tôi.
Chúng tôi cũng phối hợp với các quốc gia có cùng quan điểm để cố gắng điều phối hoạt động trợ giúp của chúng tôi nhằm giảm mức độ ô nhiễm và hỗ trợ người khuyết tật mà không tính đến nguyên nhân của tình trạng khuyết tật. Chúng tôi sẽ tiếp tục làm điều đó.
Chúng tôi cũng tích cực tham vấn với với Văn phòng Ban chỉ đạo 33 và sẽ tiếp tục việc này để quyết định xem dự án nào sẽ được tiếp tục tiến hành. Như tôi đã nói, chúng tôi vẫn luôn trong quá trình trao đổi ý kiến với Văn phòng Ban chỉ đạo33; trên thực tế tháng sau chúng tôi sẽ có một cuộc họp với Uỷ ban Cố vẫn Hỗn hợp tại Hà Nội để xem xét các vấn đề về dioxin và ô nhiễm khác.
Tôi cũng nghĩ rằng chúng ta cần nói một chút về vấn đề bom mìn chưa nổ (UXO). Đây cũng là một vấn đề lớn tại Việt Nam. Tôi vừa đi thăm tỉnh Quảng Trị để làm việc với các tổ chức phi chính phủ (NGO) đang hoạt động trong lĩnh vực này. Chúng tôi dự định sẽ gặp gỡ đại diện của chính phủ Việt Nam để tiếp tục thảo luận và cố gắng tìm cách để chúng tôi có thể tăng trợ giúp về lĩnh vực UXO. Đây là mối quan tâm lớn của tôi và tôi thực sự mong muốn làm việc tích cực về vấn đề đó.
Các bạn cần cho tôi biết hiện tôi có đang tươi cười hay không. Vì lần trước tôi dự một cuộc họp tại Uỷ ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cùng với một số nghị sỹ Mỹ, các nhà báo đã chụp ảnh chúng tôi và trong ảnh chúng tôi trông rất nghiêm nghị [cười]. Mọi người đã hỏi tôi là chúng tôi đang tức giận về điều gì? [cười]. Chúng tôi không tức giận gì cả. Cuộc họp đó có kết quả rất tốt, và tôi cho rằng vì đó là cuộc họp cuối cùng trong ngày nên chúng tôi có phần mệt mỏi [cười].
Vậy nếu các bạn có chụp tấm hình nào như vậy thì xin đừng đăng lên báo nhé [cười]. Tôi sẽ cố gắng cười nhiều hơn.
Xin mời câu hỏi tiếp theo.
Câu hỏi: Tôi là phóng viên báo điện tử Vietnam Net. Xin ông cho biết tiến triển của việc mở Lãnh sứ quán Mỹ tại Đà Nẵng? Đồng thời, ông có biết gì về việc mở Lãnh sứ quán Việt Nam tại Houston hay không?
Đại sứ Michalak: Trước tiên, phải nói rằng nguồn tin của bạn rất tốt [cười]. Tất cả những gì tôi có thể nói với bạn vào thời điểm này là chúng tôi đang tích cực thảo luận với Bộ Ngoại giao về một loạt vấn đề lãnh sự bao gồm cả việc đó. Vẫn chưa có quyết định gì cả, nhưng chắc chắn chúng tôi sẽ àm việc về vấn đề này. Thực tế là tuần tới chúng tôi sẽ có một cuộc họp nữa. Đây là vấn đề rất phức tạp và tôi nghĩ chắc các bạn cũng không muốn nghe quá chi tiết. Tuy nhiên, chúng tôi hiểu mối quan tâm lớn của chính phủ Việt Nam và họ cũng biết mối quan tâm lớn của chúng tôi. Do đó hai bên sẽ tích cực làm việc với nhau.
Câu hỏi: Tôi là phóng viên báo Sài Gòn Tiếp thị. Tôi muốn được biết thêm về kế hoạch xây toà Đại sứ mới, tức là ưu tiên thứ tư của ông. Tôi nghe đồn là ông muốn có một lô đất tại khu Mỹ Đình, gần Sân vận động quốc gia [cười].
Đại sứ Michalak: Đây cũng là một điều về Sài Gòn. Đó là luôn luôn có những tin đồn trôi nổi [cười].
Không, không phải ở đó. Khu đất đó ở phía tây Hà Nội. Mọi người đều biết rồi, song tốt hơn hết là tôi không nên nói vì bây giờ chúng tôi vẫn còn trong quá trình thương lượng. Nhưng ngay ở Hà Nội cũng có một số tin đồn đấy. Bạn hãy thử xem chúng là gì [cười].
Câu hỏi: Tôi được biết Hạ viện Mỹ đang xem xét một dự thảo luật về chương trình giám sát hàng dệt may của Việt Nam. Đây là phần mở rộng của chương trình đang có. Chính phủ Mỹ có quan điểm như thế nào về chương trình này? Ông có nghĩ rằng chương trình sẽ được mở rộng trong nhiệm kỳ của chính quyền Bush?
Đại sứ Michalak: Như các bạn biết, chương trình giám sát hàng dệt may hiện nay sẽ kết thúc khi Chính quyền đương nhiệm hết nhiệm kỳ. Đã có một bản dự thảo luật. Tôi thực sự không biết việc phê chuẩn dự thảo luật này đến đâu. Tôi biết nó đã được đưa ra, song tôi không chắc liệu nó đã được chuyển tới uỷ ban hay chưa, do vậy dự luật đó mới chỉ ở giai đoạn đầu trong quá trình xem xét của Quốc hội. Tôi nghĩ rằng tôi muốn đợi xem dự luật đó nhận được sự hỗ trợ ra sao và nó sẽ đi đến đâu. Có rất nhiều vấn đề chính trị khi Chính quyền hiện nay ở vào giai đoạn cuối. Vì vậy thời điểm này là hơi sớm để có thể nói chính xác cái gì sẽ diễn ra, song chúng tôi theo dõi tình hình rất kỹ lưỡng. Trên thực tế phái đoàn gần đây nhất của Quốc hội sang Việt Nam cũng chưa biết gì về dự luật đó. Như vậy nó vẫn còn hết sức mới.
Câu hỏi: Ông nói rằng Mỹ và Việt Nam đã bắt đầu thảo luận Hiệp định Đầu tư Song phương. Cho đến nay việc này đã đi đến đâu? Đã có uỷ bàn nào được thành lập chưa? Xin cảm ơn ông.
Đại sứ Michalak: Chúng tôi mới đạt được thoả thuận trong chuyến đến thăm của Thủ tướng và mới bắt đầu đàm phán. Thực tế, tôi nghĩ hai bên đã có nhiều cuộc đàm phán sơ bộ. Chúng tôi vẫn đang trong quá trình xác định thời gian cho vòng đàm phán đầu tiên. Tôi hy vọng rằng các cuộc đàm phán sẽ diễn ra trong khoảng tháng 9 hoặc 10.
Câu hỏi: Tôi là phóng viên báo Sức Khoẻ và Đời sống. Xin ông cho biết nhận xét về hợp tác giữa Hoa Kỳ và Việt Nam trong các vấn đề y tế cũng như về các chương trình của PEPFAR (Chương trình Cứu trợ AIDS khẩn cấp của Tổng thống Hoa Kỳ). Các hoạt động về AIDS trong nửa đầu năm 2008 như thế nào?
Đại sứ Michalak: Liên quan đến các hoạt động về AIDS trong nửa đầu năm 2008, có rất nhiều dự án khác nhau cũng như các con số chính xác về số người được sử dụng thuốc kháng vi-rút, số người được điều trị trong các chương trình sử dụng methadone, số người được tư vấn. Rất khó để đưa ra bức tranh đây đủ về các hoạt động này với thời lượng ngắn ngủi chúng ta có hôm nay. Tôi gợi ý bạn đến văn phòng PERFAR của chúng tôi để có được số liệu chính xác. Bạn cũng có thể tìm thấy rất nhiều thông tin và số liệu về các nỗ lực trong lĩnh vực này trên trang web của chúng tôi.
Trong bốn năm vừa qua, chúng ta đã đi từ một chương trình với ngân sách khoảng 20 triệu đô-la một năm, đến hôm nay, chương trình đó đã có ngân sách hàng năm lên đến khoảng 88 triệu đô-la. Chúng tôi tập trung vào sáu tỉnh thành và hiện đã xem xét khả năng mở rộng lên bảy hoặc tám.
Đồng thời với chương trình PEPFAR với trọng tâm là người chung sống với HIV/AIDS, chúng tôi cũng đã triển khai hoạt động trên nhiều lĩnh vực y tế khác như Cúm gia cầm.
Tất cả các chương trình này đều được triển khai trên cơ sở đối tác đa phương, đa quốc gia. Tuy nhiên, tôi cho rằng Hoa Kỳ theo nhiều cách khác nhau đang đóng vai trò chủ đạo trong lĩnh vực này.
Nhiều chương trình do USAID thực hiện đang giúp cải thiện các cơ sở khám chữa bệnh cho người khuyết tật. Chúng tôi đang làm việc nhằm giúp nâng cao năng lực trên nhiều lĩnh vực y tế khác nhau trên khắp Việt Nam. Tôi cho rằng hai bên đã xây dựng được một chương trình hợp tác y tế sâu rộng.
Một trong những sự kiện quan trọng trong năm làm việc đầu tiên của tôi là chuyến thăm của Bộ trưởng Y tế và Phúc lợi Con người Hoa Kỳ. Ông đã có các cuộc gặp rất thành công với lãnh đạo Bộ Y tế và các bộ, ngành khác liên quan đến lĩnh vực y tế tại Việt Nam.
Như vậy, đây là lĩnh vực tôi đang mong muốn tiếp tục được mở rộng các chương trình của chúng tôi. Chúng tôi đang thảo luận với Chính phủ Việt Nam để rà soát tất cả các chương trình hợp tác y tế giữa hai bên và xem xét xem lĩnh vực nào chúng tôi muốn mở rộng trong tương lai.
Câu hỏi: Tôi là phóng viên báo Tuổi Trẻ. Xin ông cho biết tại sao Hoa Kỳ và Việt Nam cần có Hiệp định Đầu tư Song phương (BIT) khi mà Việt Nam đã gia nhập WTO cũng như Việt Nam và Nhật đã có hiệp định về đầu tư, mở ra cánh cửa cho đầu tư. Chúng ta có thể thấy lượng vốn FDI rất lớn. Như vậy Mỹ và Việt Nam trông đợi điều gì từ BIT?
Đại sứ Michalak: Hai nước đã có hoạt động đầu tư trong khuôn khổ Hiệp định Thương mại Song phương (BTA), WTO. Chúng ta cũng có các cuộc thảo luận sâu hơn về đầu tư trong khuôn khổ Hiệp định Khung về Thương mại và Đầu tư (TIFA). Ngoài ra chúng ta còn có nhiều thoả thuận khác mà chúng tôi gọi là “WTO+”. Nói cách khác, các thoả thuận này đòi hỏi các cam kết mạnh mẽ hơn và tự do hoá hơn nữa ở cả hai phía Việt Nam và Mỹ so với WTO.
Hiệp định Đầu tư Song phương trên thực tế sẽ đưa một số cơ chế bảo vệ pháp lý nhất định ở hai nước lên tầm tiêu chuẩn quốc tế tốt nhất về bảo vệ đầu tư, hay như chúng tôi gọi là “tiêu chuẩn vàng”. Điều này sẽ làm tăng mức độ tin tưởng của các nhà đầu tư Mỹ muốn làm ăn tại Việt Nam. Các nhà đầu tư nươc ngoài càng cảm thấy tin tưởng và an tâm bao nhiêu thì họ càng muốn đầu tư vào Việt Nam bấy nhiêu. Do đó, tôi tin rằng Hiệp định Đầu tư Song phương sẽ giúp thu hút nhiều đầu tư hơn nữa vào Việt Nam.
Câu hỏi: Tôi là phóng viên AFP. Sau một năm tại Việt Nam, ông nghĩ sự thay đổi nào là lớn nhất, dù là tích cực hay tiêu cực, về vấn đề nhân quyền, tự do tôn giáo và tự do báo chí tại Việt Nam? Theo ông điều gì là vấn đề lớn nhất mà ông, thay mặt cho Chính phủ Mỹ, sẽ hối thúc Việt Nam thực hiện để cải thiện tình hình hiện nay? Xin cảm ơn.
Đại sứ Michalak: Tôi cho rằng vấn đề lớn nhất vẫn là quyền tự do ngôn luận. Hiến pháp Việt Nam đảm bảo quyền cho công dân được tự do bày tỏ quan điểm; tự do ngôn luận hiển nhiên cũng là một giá trị then chốt của nước Mỹ. Tuy vậy, có hai định nghĩa khác nhau về tự do ngôn luận, một của Việt Nam và một của Hoa Kỳ.
Chúng tôi tin rằng tự do ngôn luận rộng rãi hơn sẽ cho phép có sự tham gia và trao đổi thông tin nhiều hơn nữa giữa người dân và chính phủ. Chúng tôi tin rằng đó là một điều tốt. Về tự do báo chí, chúng tôi vẫn tiếp tục quan ngại về vụ việc bắt giữ các nhà báo gần đây. Chúng tôi cho rằng điều này có ảnh hưởng tiêu cực đối với các nhà báo khác, những người muốn được tự do đưa tin về bất kỳ đề tài nào. Chúng tôi hy vọng chính phủ sẽ sớm đưa ra các giải thích đầy đủ về tội danh, các phát hiện về vụ việc và các kết quả điều tra cuối cùng.
Mặc dù hai bên còn có những khác biệt như vậy, tôi vẫn muốn nhắc lại rằng chính phủ Việt Nam bằng nhiều cách khác nhau cũng đang cố gắng cho phép sự tham gia hơn nữa, đặc biệt là từ phía khu vực doanh nghiệp, trong quá trình ra quyết định về các vấn đề kinh tế.
Như vậy, tôi cho rằng ở Việt Nam hiện có thể đang diễn ra một quá trình xây dựng lòng tin. Khi chính phủ có thêm lòng tin đối với người dân, sẽ có thể có tự do ngôn luận hơn nữa. Chúng ta hãy cùng chờ xem.
Về tự do tôn giáo, như tôi đã nói, tôi cho rằng chúng ta đã thấy rất nhiều tiến bộ trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, điều chúng tôi thấy ở một số địa phương là lãnh đạo ở đó dường như chưa hiểu các luật của Chính phủ Việt Nam. Ở một số nơi chính quyền tiếp tục nhũng nhiễu người dân khi họ thực hành tôn giáo của mình, trong khi đó ở một số nơi khác thì việc này hoàn toàn tự do và cởi mở.
Chúng tôi hy vọng Chính phủ sẽ tăng cường các nỗ lực đào tạo cho các cán bộ địa phương, những người dường như không hiểu về luật pháp, nhằm giúp họ hiểu chính xác những gì được pháp luật cho phép.
Câu hỏi: Tôi là phóng viên báo Đầu tư. Trong chuyến thăm của Thủ tướng đễn Mỹ, Hoa Kỳ đã cam kết sẽ giúp đỡ Việt Nam về giáo dục, biến đổi khí hậu, trao quy chế GSP (Hệ thống Ưu đãi Thuế quan Phổ cập) cho Việt Nam. Xin ông cho biết các cam kết này đã được thực hiện đến đầu?
Riêng về quy chế GSP, ông nghĩ rằng khi nào Việt Nam sẽ được nhận quy chế này? Tôi được biết Hoa Kỳ đã cung cấp cho Việt Nam một số yêu cầu mà Việt Nam cần đáp ứng để được trao GSP. Ông có thể cho biết cụ thể các yêu cầu đó là gì?
Đại sứ Michalak: Tôi không biết chi tiết cụ thể về tất cả các yêu cầu. Nhưng tôi có thể cho bạn biết một số điểm chung nhất như sau:
Chính phủ Việt Nam chính thức gửi hồ sơ xin cấp quy chế GSP khoảng 1 tháng rưỡi hoặc 2 tháng trước. Tôi tin rằng giai đoạn 60 ngày dành cho việc cho ý kiến nhận xét vừa kết thúc. Trong khoảng thời gian đó, chúng tôi đã nhận được một số lượng lớn ý kiến đóng góp. Rất nhiều trong số đó ủng hộ việc trao GSP cho Việt Nam. Nhưng cũng có nhiều ý kiến bày tỏ quan ngại về vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và các tiêu chuẩn về lao động tại Việt Nam.
Việc chính thức xin cấp GSP là một bước trong cả một quá trình. Quá trình đó bao gồm nhiều bước; nó vạch ra một số giới hạn về những gì Chính phủ Mỹ có thể và không thể làm. Tôi biết rằng chúng ta đã có một số thảo luận về các vấn đề liên quan đến GSP. Nhưng tôi cũng biết rằng chúng tôi không thể nói: này, nếu bạn làm việc này, bạn sẽ chắc chắn được nhận GSP. Tôi không cho rằng chúng tôi không thể làm điều đó vì GSP là cả một quá trình. Tuy vậy, hai bên cũng đã có một số cuộc thảo luận sơ bộ về các vấn đề quan tâm. Tôi cho rằng Chính phủ Việt Nam đã biết rõ các bước tiếp theo là gì và chúng tôi hy vọng hai bên sẽ đạt được tiến bộ.
Một điều bạn không nhắc đến là vấn đề quy chế kinh tế thị trường. Bộ Thương mại Mỹ và Bộ Công thương Việt Nam đang trong quá trình thành lập một tổ công tác để tiếp tục tham vấn về vấn đề này.
Về giáo dục, tôi đã nói rằng hai bên đồng ý thành lập Tổ công tác Việt-Mỹ về giáo dục. Chúng ta đang trong quá trình lựa chọn thành viên cho tổ công tác này. Tôi hy vọng trong vài tuần tới sẽ có thể công bố các thành viên và tiến hành làm việc.
Trong chuyến thăm vừa qua, chúng tôi cũng đã tổ chức một hội nghị bàn tròn với sự tham gia của Thủ tướng [Nguyễn Tấn Dũng] và đại diện của khoảng 15 trường đại học và cao đẳng của Mỹ nhằm thảo luận các biện pháp tăng cường hơn nữa hợp tác giáo dục với Việt Nam. Các cuộc thảo luận đã giúp tạo ra các quan hệ liên kết mà chúng tôi tin rằng sẽ mở ra các quan hệ và đối thoại nhiều hơn nữa trong thời gian tới.
Về biến đổi khí hậu, hai bên đã đồng ý thành lập nhóm làm việc trong khuôn khổ Thoả thuận về Khoa học Công nghệ để xem xét vấn đề này. Đây là một vấn đề rất thú vị. Tôi được biết đồng bằng sông Mêkông, có lẽ là khu vực đầu tiên của Việt Nam sẽ chịu tác động của biến đổi khí hậu, có đặc điểm sinh thái rất giống với đồng bằng Mississippi của Mỹ. Chúng tôi có một viện nghiên cứu về sinh thái và biến đổi khí hậu ở đồng bằng Mississippi. Là một bộ phận của Nhóm Làm việc về Biến đổi Khí hậu, viện nghiên cứu này sẽ thành lập một cơ sở tại Đại học Cần Thơ để xây dựng các dự án tìm hiểu biến đổi khí hậu và sự tương đồng giữa đồng bằng Mississippi và đồng bằng Mêkông.
Chúng tôi cũng đang xem xét các dự án về cải thiện công tác dự báo thời tiết, viễn thám, quản lý thiên tai và các vấn đề khác liên quan đến biến đổi khí hậu.
Câu hỏi: Tôi là phóng viên BBC. Ông có thể cho biết ý kiến về việc thăm dò dầu khí tại Việt Nam? ExxonMobil do áp lực từ phía Trung Quốc đã phải dừng một dự án tại biển Nam Trung Hoa. Xin ông cho biết ý kiến về việc này. Ngoài ra, xin cho biết khung thời gian cho việc xây Đại sứ quán mới. Xin cảm ơn ông.
Đại sứ Michalak: Tất nhiên chúng tôi không muốn ai can thiệp vào hoạt động của các công ty đang thực hiện các hợp đồng thương mại của mình. Tôi cho rằng các công ty mới là người quyết định họ muốn hoạt động ở đâu và hợp tác với ai. Một số công ty của Mỹ có tầm cỡ như các quốc gia nhỏ vậy. Do đó chúng tôi để họ tự quyết định họ muốn làm ăn ở đâu.
Về việc xây Đại sứ quán mới, trước hết chúng tôi cần mua được đất. Chúng tôi đã thảo luận rất nhiều năm về việc mua đất. Tôi hy vọng chúng tôi sẽ dàn xếp sớm vấn đề đất, trước cuối năm nay. Bạn có thể trích dẫn câu nói này của tôi [cười].
Sau đó, mọi việc sẽ phụ thuộc vào vấn đề ngân sách tại Mỹ, khi chúng tôi nhận được tiền để bắt đầu tiến hành xây dựng. Nhưng việc có được đất là rất quan trọng. Khi qua được bước đó, thường sẽ mất từ hai đến năm năm cho việc xây dựng.
Câu hỏi: Tôi là phóng viên báo Quân Đội Nhân Dân. Sau nhiều chuyến thăm cấp cao của quan chức Việt Nam đến Mỹ, liệu tới đây sẽ có chuyên thăm cấp cao nào từ Mỹ đến Việt Nam hay không?
Đại sứ Michalak: Rất khó để trả lời câu hỏi này vì trước hết, chúng ta không quan chức cao cấp nhất trong một hoặc hai tháng tới sẽ là ai. Chúng ta sẽ phải đợi và chờ xem. Cuộc gặp cao cấp tới đây sẽ diễn ra trong khuôn khổ hội nghị APEC tại Peru. Tổng thống Bush và Chủ tịch Triết sẽ có cơ hội gặp nhau ở đó. Sau đó, hai bên sẽ có cơ hội gặp gỡ tại New York trong cuộc họp của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc. Nhưng rất khó để nói khi nào sẽ có chuyến thăm cấp cao tiếp theo của Mỹ đến Việt Nam. Theo bạn thì sẽ là ai? Ông Obama? Hay ông McCain?
Tôi không biết điều này có phải là sự thực hay không, nhưng tôi nghe đồn rằng cả hai ứng cử viên Tổng thống Mỹ đều nói họ rất quan tâm đến Việt Nam. Tôi hy vọng là dù người thắng cử là ai đi nữa, chúng tôi cũng sẽ cố gắng hết sức để sớm đưa người đó sang thăm Việt Nam. Đó sẽ là nhiệm vụ của tôi trong năm nhiệm kỳ thứ hai của mình.
Câu hỏi: Tôi là phóng viên báo Kyodo News. Ông đánh giá nền kinh tế Việt Nam ở thời điểm hiện tại như thế nào?
Đại sứ Michalak: Tôi đã tự hỏi khi nào thì sẽ có người hỏi câu hỏi này. Tôi nghĩ rằng khi Việt Nam tiếp tục hội nhập vào nền kinh tế thế giới, Việt Nam sẽ trải qua một số tác động của kinh tế thế giới. Lạm phát toàn cầu đã đến Việt Nam. Ngoài ra, việc tín dụng tăng trưởng quá nhanh trong năm 2007 cũng là một trong những nguyên nhân chính gây ra tình trạng lạm phát ở Việt Nam.
Tôi tin rằng Chính phủ Việt Nam đã ứng phó rất tốt đối với tình trạng lạm phát và suy giảm của nền kinh tế. Ứng phó ở đây tôi muốn nói đến việc Chính phủ đã tiến hành tham vấn ngay trong nội bộ về việc giải quyết các vấn đề kinh tế cũng như tham khảo ý kiến từ bên ngoài. Họ đã hỏi ý kiến của các chuyên gia kinh tế trên toàn thế giới về các động thái chính sách tốt nhất cần thực hiện, vì đây là lần đầu tiên Việt Nam gặp phải các vấn đề ở tầm cỡ này.
Tôi muốn nhấn mạnh rằng vẫn còn quá sớm để nói rằng tất cả các giải pháp đều sẽ thành công, tuy nhiên cho đến nay các số liệu đều có vẻ khả quan.
Tôi cho rằng thông điệp dành cho Chính phủ Việt Nam hiện nay là hãy tiếp tục các giải pháp đó. Chính phủ đã có một chương trình tốt, nhưng cần duy trì nó trong ít nhất hai hoặc ba quý tới. Khi các số liệu có vẻ khả quan hơn, sẽ xuất hiện các áp lực yêu cầu chấm dứt thực hiện các giải pháp trên, kêu gọi tiến hành giảm lãi suất và bắt đầu chi tiêu trở lại. Hầu hết các chuyên gia mà tôi đã từng nói chuyện đều cho rằng vẫn còn quá sớm để thay đổi tiến trình thực hiện các giải pháp. Ngay lúc này thì các chương trình đang được triển khai rất tốt, nhưng chúng cần được tiếp tục trong một thời gian dài để đảm bảo rằng lạm phát sẽ được kiềm chế.
Do đó, trả lời cho câu hỏi về nền kinh tế, cho rằng dường như Chính phủ đang làm đúng nhưng họ cần phải tiếp tục việc đó trong một thời gian dài hơn để xem liệu các giải pháp có thực sự có tác dụng hay không.
Câu hỏi: Tôi là phóng viên Info TV thuộc Đài Truyền hình Việt Nam. Chính phủ Mỹ có chính sách rất cởi mở về hỗ trợ người nghèo mua nhà ở. Nhưng dường như chính sách đó là một nguyên nhân dẫn đến các vấn đề hiện nay của kinh tế Mỹ. Ông có cho rằng Chính phủ Mỹ đã đưa ra chính sách tồi hay không?
Theo ông bài học cho Việt Nam qua sự kiện này là gì? Tôi hiểu rằng thị trường nhà đất ở Việt Nam và Mỹ hoàn toàn khác nhau.
Đại sứ Michalak: Đúng vậy, tôi cho rằng thị trường bất động sản ở Mỹ và Việt Nam khá khác biệt. Nhưng tôi cho rằng nói các chương trình của Chính phủ Mỹ cho người nghèo là nguyên nhân của các vấn đề hiện nay là không công bằng. Tôi không tin điều đó.
Tôi cho rằng các chương trình của Mỹ về nhà ở công cộng, nhà ở cho người nghèo là những chương trình được thiết kế cho người nghèo. Do đó có sự kỳ vọng rất thấp là các khoản vay trong các chương trình đó sẽ được hoàn trả.
Vấn đề nảy sinh khi người cho vay trông đợi các khoản vay sẽ được hoàn trả, nhưng lại không thực hiện các bước kiểm tra tín dụng để đảm bảo rằng người vay sẽ có khả năng hoàn trả.
Tôi chắc rằng có rất nhiều bài học từ tình hình hiện nay. Tôi hy vọng một lúc nào đó Việt Nam sẽ thành lập một hệ thống thế chấp cho phép người dân có thể mua nhà ở dễ dàng hơn. Khi Việt Nam sẵn sàng làm điều đó, chắc chắn tôi sẽ nói chuyện với các chuyên gia ở Bộ Tài chính, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ cũng như ngân hàng Fannie Mae và Freddy Mac. Tôi tin rằng hai ngân hàng này sẽ có rất nhiều bài học có thể chia sẻ cho Việt Nam. Tất nhiên nếu đến lúc đó họ vẫn còn tồn tại [cười].
Cảm ơn các bạn – cuộc nói chuyện của chúng ta rất tuyệt vời. Cảm ơn các bạn đã cùng tôi kỷ niệm một năm làm việc tại Việt Nam của mình hôm nay.