jump over navigation bar
Embassy SealBộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Đại sứ quán Hợp chúng quốc Hoa Kỳ - Hanoi, Vietnam flag graphic
Đại sứ quán Hoa Kỳ
 
  Phó Đại sứ Cựu Đại sứ Cựu Phó đại sứ

Phát biểu của Đại sứ Michael W. Marine

HOA KỲ VÀ VIỆT NAM: TẦM NHÌN CHO MỘT MỐI QUAN HỆ ĐANG TIẾN TRIỂN
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 9 năm 2006

Chào các quý vị. Tôi hy vọng quý vị đều biết, Hoa Kỳ và Việt Nam đã phát triển một mối quan hệ chặt chẽ và tình hữu nghị đang tăng lên trong mười một năm qua kể từ khi bình thường hóa quan hệ ngoại giao. Hôm nay, sau khi làm việc với tư cách là Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam vừa mới được hơn hai năm, tôi muốn dành chút thời gian để điểm lại tình hình quan hệ song phương của chúng ta hiện nay và phác họa những gì mà tôi thấy là triển vọng tươi sáng cho việc phát triển và làm sâu đậm hơn nữa các mối quan hệ của chúng ta.

Năm ngoái, chúng ta đã tổ chức kỷ niệm mười năm ngày bình thường hóa quan hệ. Dịp đó đã được cả hai nước tổ chức kỷ niệm như là một mốc quan trọng, không phải về mặt thời gian, mà đúng hơn là do sự tiến triển đầy ý nghĩa và thường khiến người ta kinh ngạc mà chúng ta đã đạt được trên nhiều lĩnh vực. Không ai có thể phủ nhận rằng chúng ta đã đi được một chặng đường dài từ sự khởi đầu đầy do dự đến một tập hợp đầy đủ và phong phú những lợi ích chung mà chúng ta chia sẻ ngày hôm nay. Chỉ cần lấy 15 tháng vừa qua làm ví dụ! Vào giữa năm 2005, nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải đã tiến hành chuyến thăm mang tính lịch sử và rất thành công của mình tới Hoa Kỳ. Kể từ chuyến thăm đó, Bộ trưởng Quốc phòng, Bộ trưởng Y tế và Dịch vụ con người, Bộ trưởng Tài chính và Bộ trưởng Cựu chiến binh của Hoa Kỳ, Chủ tịch Hạ nghị viện Hoa Kỳ, và tân Đại diện Thương mại Hoa Kỳ cũng như Tư lệnh Bộ chỉ huy Thái Bình Dương của Hoa Kỳ và hàng trăm quan chức khác của Chính phủ Hoa Kỳ đã tới Việt Nam để gặp gỡ các đối tác của mình. Các quan chức cao cấp của Chính phủ Việt Nam cũng đã và đang đi thăm theo chiều ngược lại, gần đây nhất là Bộ trưởng Y tế, bà Trần Thị Trung Chiến. Sự giao lưu và đối thoại ở cấp cao này sẽ còn tiếp tục, với đỉnh điểm là chuyến thăm của Tổng thống George W. Bush tới Việt Nam vào mùa thu năm nay để tham dự Hội nghị Các Nhà lãnh đạo Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC).

Tốc độ chưa từng thấy, phạm vi rộng lớn và tính chất cao cấp của các hoạt động giao lưu của chúng ta trong 15 tháng qua đánh dấu một bước đột phá sang một cấp độ hợp tác mới. Quả thực, tôi không dự đoán sự phát triển đột biến này khi tới đây hai năm trước. Nhưng, giờ đây nhìn lại có thể dễ dàng thấy thành công này là một kết quả trực tiếp của sự tiến triển tiếp theo của những điều đang diễn ra thậm chí ngay tại thời điểm đó. Trước hết, sự gia tăng mạnh mẽ trong thương mại song phương, được bắt đầu bằng Hiệp định Thương mại Song phương năm 2001, đã và đang tăng lên một cách vững chắc, và các hoạt động giao lưu giữa nhân dân hai nước chúng ta cũng đã và đang mở rộng nhanh chóng. Ngoài lĩnh vực đó, chúng tôi đã phát triển một mối quan hệ mạnh mẽ với Bộ Y tế và các đối tác khác khi chúng tôi cung cấp thêm những khoản tài trợ đáng kể cho cuộc chiến chống HIV/AIDS và bệnh cúm gia cầm. Chúng ta đã xây dựng được một kênh đối thoại mang tính xây dựng và hợp tác về nhân quyền và tự do tôn giáo. Các hoạt động nhân đạo của chúng ta để tìm kiếm di hài những người mất tích trong chiến tranh, để cải thiện cuộc sống của những người khuyết tật, và để giải quyết vấn đề bom mìn chưa nổ tiếp tục phát triển nhanh chóng. Các hoạt động trao đổi văn hóa và giáo dục và các cuộc tiếp xúc quân sự của chúng ta đều được mở rộng. Sự hợp tác của chúng ta trên các diễn đàn khu vực và toàn cầu đang được cải thiện.

Các nhà lãnh đạo của chúng ta đang tiếp tục gặp gỡ và thảo luận về tất cả các lĩnh vực cùng quan tâm này. Chúng ta cần tự hào về những gì đã đạt được trong mười một năm qua.

Để đảm bảo rằng quan hệ đối tác của chúng ta tiếp tục thể hiện tính bền vững, thực chất và kiên định, giờ là lúc để tiến về phía trước một cách nghiêm túc, chín chắn và chiến lược. Quan hệ đối tác của chúng ta phải được cả hai bên vun đắp và có lợi cho cả hai nước chúng ta. Nếu nền tảng đó được thiết lập vững chắc, cùng với việc phát triển quan hệ, các mối liên kết của chúng ta sẽ có tác động và ảnh hưởng đáng kể vượt quá khuôn khổ song phương, tách động tích cực tới các lợi ích khu vực và toàn cầu của chúng ta.

Khi chúng ta tiến về phía trước trong việc xây dựng các mối liên kết của mình, tôi tin tưởng rằng chúng ta sẽ có thể đưa mối quan hệ của chúng ta sang một giai đoạn mới sâu sắc hơn để dẫn tới các mối liên kết chặt chẽ hơn trong một loạt các lĩnh vực khác nhau. Tôi tin tưởng như vậy vì một lý do đơn giản. Có thể tóm tắt nó trong một câu: Hoa Kỳ và Việt Nam có chung những lợi ích quốc gia quan trọng.

Cả Hoa Kỳ và Việt Nam đều là những đối tác thương mại. Cả hai nền kinh tế của chúng ta đều phát triển mạnh trên sự mở rộng nhanh chóng các hoạt động thương mại và một môi trường toàn cầu ổn định để tiến hành các hoạt động thương mại đó. Mối quan tâm chung của Hoa Kỳ và Việt Nam tới sự ổn định trong khu vực và trên thế giới đã liên kết chúng ta lại trong các nỗ lực hợp tác của mình để chống chủ nghĩa khủng bố. Cả về mặt song phương và thông qua các tổ chức như APEC, Diễn đàn Khu vực ASEAN và sắp tới là Tổ chức Thương mại Thế giới, chúng ta đang cùng nhau làm việc để thúc đẩy hơn nữa một kỷ nguyên phát triển kinh tế toàn cầu thông qua các thị trường mở và tự do thương mại. Những nỗ lực này đã và sẽ tiếp tục mở cửa xã hội của chúng ta cho nhau, giúp nhân dân Mỹ hiểu và cảm nhận được sâu sắc hơn nền văn hóa và lịch sử Việt Nam, và xây dựng những trụ cột của quá trình dân chủ hóa của Việt Nam. Các mối liên kết của chúng ta sẽ góp phần ngăn chặn và tháo ngòi nổ cho các cuộc xung đột trong khu vực.

Chia sẻ các mối quan tâm và mục tiêu chung là một điều quan trọng. Nhưng niềm tin của tôi rằng các quan hệ của chúng ta sẽ tiếp tục phát triển sâu đậm hơn trong thập kỷ tới cũng dựa trên những lý do cụ thể. Trước hết, cho phép tôi được đề cập tới vấn đề tăng trưởng kinh tế và ý nghĩa của nó đối với mối quan hệ song phương đang tiến triển của chúng ta.

Việt Nam đã tiến hành một số đợt cải cách, mỗi đợt lại thúc đẩy kinh tế tăng trưởng lên một mức mới. Thông qua quá trình “Đổi Mới” được phát động cách đây hai thập kỷ, các nhà lãnh đạo của Việt Nam đã mở cửa cho sự tăng trưởng và phát triển. Kể từ khi Hiệp định Thương mại Song phương Hoa Kỳ - Việt Nam bắt đầu có hiệu lực vào tháng 12 năm 2001, thương mại song phương của chúng ta đã tăng gấp năm lần, mang lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho hàng triệu người dân Việt Nam và làm cho các nhà lãnh đạo Việt Nam vững tin hơn đưa đất nước tiến trên con đường gia nhập WTO. Việc chuyển đổi cơ cấu pháp quy và pháp luật của Việt Nam theo yêu cầu của quá trình này đã cải thiện môi trường kinh doanh ở đây cho tất cả các nước, chứ không chỉ riêng Hoa Kỳ. Với những đặc quyền và trách nhiệm của tư cách thành viên WTO, hệ thống thương mại của Việt Nam sẽ tiến tới tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế, đánh dấu sự trỗi dậy của mình với tư cách là một thành viên đầy đủ của cộng đồng kinh tế quốc tế.

Trong thế giới ngày nay, chúng ta không thể nói về thương mại mà lại không đề cập tới vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, là một yêu cầu then chốt nữa đối với tư cách thành viên WTO và là một lĩnh vực quan tâm có thể hiểu được của tất cả các nhà doanh nghiệp, trong đó có các nhà sáng chế và cách tân cũng như các tác giả và những người biểu diễn của Việt Nam. Việc thực thi một cách thận trọng và nhất quán Luật Sở hữu trí tuệ được thông qua gần đây của Việt Nam sẽ là một bước tiến quan trọng cần thiết để Việt Nam có khả năng bảo hộ tài sản trí tuệ của các nhà sáng chế và tác giả của Việt Nam cũng như của các nước khác. Nó cũng sẽ chứng tỏ là vấn đề trọng yếu đối với việc tiếp tục phát triển mối quan hệ kinh tế song phương giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Do tầm quan trọng của vấn đề này, Hoa Kỳ đang tích cực nỗ lực để giúp Việt Nam cải thiện khả năng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Chỉ mới tháng trước, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao và Tòa án Nhân dân Tối cao, với sự hỗ trợ của Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID), đã tổ chức các chương trình tập huấn về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại Hà Nội và ở đây tại Thành phố Hồ Chí Minh. Các chương trình này nằm trong số một loạt các chương trình và hoạt động trao đổi mà chúng tôi đang hỗ trợ, tất cả đều nhằm giúp Việt Nam chuẩn bị và hoàn tất tốt đẹp việc gia nhập WTO.

Việc trở thành thành viên WTO là quan trọng, nhưng đó chỉ là một chương trong quá trình tự do hóa kinh tế đang diễn ra của Việt Nam. Ở một mức độ cơ bản hơn, Việt Nam đã cam kết tiến hành cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước của mình, mà hiện thời vẫn lấn át sự phát triển khu vực tư nhân và làm hạn chế khả năng và nhiệt tình của các nhà đầu tư nước ngoài để tham gia đầy đủ vào nền kinh tế Việt Nam. Song song với việc chuyển đổi các doanh nghiệp nhà nước sẽ là sự nổi lên của một khu vực tư nhân đang lớn mạnh với một khu vực tài chính linh hoạt, minh bạch và hoạt động theo hướng thị trường. Những thay đổi có tầm quan trọng sống còn này cần phải đi kèm với việc tăng cường một cách toàn diện các hệ thống pháp luật và tòa án nhằm thiết lập nguyên tắc pháp quyền thực sự để giải quyết các tranh chấp và làm cho các giao dịch kinh tế trở nên minh bạch. Những tiến triển này, với điều kiện là chúng được thực hiện một cách hiệu quả, sẽ làm tăng thêm rất nhiều nhiệt tình của các công dân Mỹ tới kinh doanh và đầu tư tại Việt Nam.

Mặc dù tôi tin tưởng rằng chúng ta sẽ cùng chia sẻ một tương lai tươi sáng, vẫn còn có những thách thức đối với triển vọng tăng trưởng của Việt Nam cũng như các mối liên kết song phương của Việt Nam với Hoa Kỳ. Một vật cản đối với cả cải cách kinh tế và phát triển chính trị là vấn đề tham nhũng. Trong bài diễn văn nhậm chức của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, ông nói rằng Việt Nam “kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu - xem đây là một trọng tâm công tác của Chính phủ trong thời gian tới”. Tôi đồng ý với Thủ tướng. Tham nhũng là một căn bệnh ung thư đe dọa sự ổn định và lành mạnh của nền kinh tế Việt Nam. Những dư vị của tham nhũng như vụ tiêu cực PMU-18 là đủ để làm cho các nhà đầu tư nước ngoài tiềm năng hướng về nơi khác. Tham nhũng huỷ hoại và làm giảm giá trị của hệ thống pháp luật, tại một thời điểm mà việc thiết lập một hệ thống pháp quyền thực sự là vấn đề sống còn cho thành công của Việt Nam trong tương lai. Theo tổ chức Minh bạch Quốc tế, các mức độ tham nhũng của Việt Nam đang tăng lên. Việt Nam đã tụt từ vị trí thứ 85 vào năm 2002 xuống vị trí thứ 117 (trong số 159 quốc gia) vào năm 2005.

Tất nhiên, tham nhũng không chỉ là mối quan ngại của Việt Nam hay ở Việt Nam. Tại kỳ họp APEC năm ngoái, các nhà lãnh đạo có mặt tại đó đã thừa nhận rằng sẽ không thể đạt được mục tiêu thịnh vượng kinh tế của APEC nếu không giải quyết một cách hiệu quả trên toàn khu vực vấn đề tham nhũng, cả ở trong các nền kinh tế quốc nội và trong các giao dịch kinh doanh quốc tế, và từ chối dành nơi ẩn náu an toàn cho những kẻ phạm tội tham nhũng. Các nhà lãnh đạo đã nhất trí rằng nạn tham nhũng huỷ hoại hoạt động của nền kinh tế, làm suy yếu các thể chế dân chủ và nguyên tắc pháp quyền, phá vỡ trật tự xã hội, làm công chúng mất niềm tin và tạo ra một môi trường để phát triển mạnh hoạt động tội phạm có tổ chức, chủ nghĩa khủng bố và các mối đe dọa khác đối với an ninh của con người.

Mối quan ngại này được Hoa Kỳ chia sẻ mạnh mẽ. Trên cơ sở những việc đã làm tại APEC và các diễn đàn khác, vào ngày 10 tháng 8, Tổng thống Bush đã công bố “Chiến lược Quốc gia về Quốc tế hóa các Nỗ lực chống lại Chế độ Đạo tặc trị”. Làm việc với các đối tác quốc tế, trong đó có nhóm G-8, APEC và Liên Hợp Quốc, chiến lược này nhằm không cho phép những kẻ đạo tặc có chức quyền được nhập cảnh hay tìm được nơi cất giấu tài chính, truy tố các tội phạm tham nhũng, tăng cường hành động đa phương chống lại nạn hối lộ và tăng cường xây dựng năng lực về quản trị doanh nghiệp.

Như tôi đã đề cập, chúng tôi phấn khởi trước cam kết của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Chính phủ của ông về chống tham nhũng ở Việt Nam và, cùng với các đối tác quốc tế khác, chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ trong cuộc chiến quan trọng này ở bất cứ nơi nào có thể được.

Một thách thức có liên quan đối với Việt Nam, và đối với việc tăng cường mối quan hệ song phương của chúng ta, là sự cần thiết phải tạo không gian thông thoáng hơn cho các công dân Việt Nam được đến với nhau để bày tỏ ý kiến của mình, thúc đẩy trách nhiệm giải trình chính trị và từ đó tăng cường lòng tin của công chúng. Một xã hội dân sự phát triển mạnh mẽ trên cơ sở một hệ thống pháp luật minh bạch và nhấn mạnh việc tranh luận công khai những vấn đề người dân quan tâm là một bức tường bảo vệ chắc chắn chống lại nạn tham nhũng. Không có một hình thức hệ thống chính trị nào nhất thiết phải đảm bảo công bằng cho tất cả, nhưng tất cả các hệ thống công bằng đều dựa trên sự tham gia rộng rãi về mặt chính trị của các công dân của mình. Về điểm này, tôi phấn khởi với thực tế là hiện người ta đang thảo luận những thay đổi đáng kể về quyền lực và thẩm quyền của Quốc hội Việt Nam. Tôi tin Việt Nam sẽ nhận thấy rằng các lợi ích quốc gia của mình sẽ được phục vụ tốt bởi một cơ quan lập pháp hoạt động tích cực hơn và mang tính đại diện nhiều hơn. Tự do báo chí là một yếu tố chủ yếu nữa cần được dung dưỡng ở đây. Khi xã hội phát triển đầy đủ, báo chí đóng vai trò như một công cụ kiểm soát có hiệu quả đối với các hành vi lộng hành và là một diễn đàn minh bạch để tranh luận công khai. Tiếng nói của giới truyền thông tại Việt Nam về tất cả các vấn đề cần phải được lắng nghe.

Chúng tôi hoan nghênh tiến bộ gần đây trong các lĩnh vực nhân quyền và tự do tôn giáo. Việt Nam đã tiến hành một số bước, trong đó có việc phóng thích một số cá nhân bị cầm tù vì đã bày tỏ một cách hòa bình chính kiến hoặc đức tin tôn giáo của họ, điều này thể hiện rằng Việt Nam đã nghiêm túc xem xét những quan ngại của cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, vẫn còn những vấn đề đáng quan ngại, chẳng hạn như tốc độ chậm chạp trong việc đăng ký cho các nhà thờ ở phía bắc Việt Nam. Chúng tôi kêu gọi Việt Nam tiếp tục giải quyết những vấn đề mà quốc tế quan ngại, bao gồm việc mở rộng hơn nữa không gian cho tín ngưỡng tôn giáo và tăng thêm sự khoan dung của Chính phủ đối với việc bày tỏ một cách hòa bình các chính kiến mà đôi khi là đối lập.

Tôi sẽ chỉ ra một lĩnh vực nữa trong đó có cả thách thức và hy vọng mà tôi nhận thấy với tư cách là Đại sứ Hoa Kỳ ở đây. Ảnh hưởng ngày càng tăng của Việt Nam trong ASEAN và sự đóng góp và tham gia quan trọng của Việt Nam trong các diễn đàn đa phương khác -- được thể hiện rõ bằng những việc mà Việt Nam làm trong năm nay với tư cách là nước chủ nhà của APEC -- là một phần của quá trình mà đang tạo ra những mong đợi từ cộng đồng quốc tế để Việt Nam đóng một vai trò rõ ràng hơn trong khu vực và trên trường quốc tế, trong đó có thể bao gồm việc tham gia các hoạt động giữ gìn hòa bình quốc tế cũng như một ghế trong Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc. Nói một cách thẳng thắn, tôi nghĩ rằng Việt Nam sẽ thấy ngày càng khó có thể duy trì chính sách đối ngoại “làm bạn với tất cả các nước” hiện nay của mình khi Việt Nam đảm nhiệm những trách nhiệm lớn hơn trong thế giới rất phức tạp của năm 2006 và xa hơn nữa; một thế giới trong đó sự ổn định trong khu vực và trên toàn cầu bị đe dọa bởi những quốc gia như Iran, Bắc Triều Tiên và Miến Điện. Iran và Bắc Triều Tiên đã là chủ đề tranh luận và hành động của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc; tình hình hiện nay ở Miến Điện cũng cần phải được thảo luận tại Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc.

Các hành động của Iran đòi hỏi các quốc gia có trách nhiệm phải thừa nhận thực tế rằng tình đoàn kết truyền thống với Iran và sự tôn trọng các cơ chế chống phổ biến hạt nhân quốc tế là những điều không tương hợp. Chế độ ở Tehran cần phải nghe thấy tiếng nói từ tất cả các chính phủ có trách nhiệm rằng việc Iran theo đuổi vũ khí hạt nhân là điều không thể chấp nhận được. Các quan hệ chính trị của Việt Nam với Bình Nhưỡng đã có từ hàng thập kỷ; tuy nhiên, việc Bắc Triều Tiên thú nhận đã bắt cóc các công dân nước ngoài, hỗ trợ chủ nghĩa khủng bố, phát triển vũ khí hạt nhân, tham gia phổ biến các loại vũ khí huỷ diệt hàng loạt và các hệ thống phóng các loại vũ khí đó, dính líu vào hoạt động buôn lậu ma tuý và sản xuất tiền giả đã khiến nước này bị cộng đồng quốc tế chối bỏ và xa lánh. Việt Nam có vị thế thích hợp để sử dụng “tình hữu nghị truyền thống” của mình với Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên để giúp thuyết phục Bắc Triều Tiên từ bỏ những hành động này và chấm dứt sự cô lập của mình với cộng đồng quốc tế. Một nỗ lực như vậy của Việt Nam sẽ đẩy nhanh sự trỗi dậy của chính mình với tư cách là một nền kinh tế hiện đại và một đối tác có trách nhiệm và có phần lợi ích trong hòa bình và an ninh quốc tế.

Miến Điện là một nước nữa gây quan ngại rộng khắp về những mối đe dọa liên quốc gia nảy sinh từ đó, chẳng hạn như: các loại ma tuý mà đã làm tràn ngập Đông Nam Á; các dòng người tỵ nạn mà đã là nguồn cung cấp cho các mạng lưới buôn người; các vụ vi phạm nhân quyền mà đã gây ra một vết nhơ chính trị khiến cho ASEAN phải xấu hổ và làm phức tạp thêm các mối quan hệ quốc tế của tổ chức này. Trong trường hợp này cũng vậy, Việt Nam có vị thế thích hợp để đóng một vai trò cùng với các đồng sự ASEAN của mình giải quyết các mối quan ngại của quốc tế về Miến Điện, và mức độ chủ động đi đầu của Việt Nam trong ASEAN sẽ là một dấu hiệu quan trọng về những khả năng trong tương lai khi Việt Nam muốn đảm nhiệm vai trò thành viên của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc.

Việc tiến hành những chuyển đổi thích hợp trong chính sách đối ngoại của Việt Nam như tôi đề xuất ở trên sẽ hỗ trợ các lợi ích quốc gia của Việt Nam trong sự ổn định của khu vực và trên thế giới, và sẽ làm cho các chính sách của Việt Nam phù hợp với các chính sách của các nước láng giềng và các đối tác thương mại lớn của Việt Nam. Ngoài ra, việc có lập trường phù hợp với quan điểm nhất trí của quốc tế sẽ giúp thắt chặt quan hệ với nhiều quốc gia quan trọng, chứ không chỉ với Hoa Kỳ. Hoa Kỳ - và tôi dự đoán là tất cả các cường quốc khác - sẽ hoan nghênh tiếng nói của Việt Nam về các vấn đề quan trọng này.

Để kết thúc, với tư cách là Đại sứ Hoa Kỳ, tôi vô cùng tự hào về mối quan hệ đối tác trên thật nhiều lĩnh vực mà chúng tôi đã cùng Việt Nam xây dựng trong những năm qua. Sự hỗ trợ của Hoa Kỳ dành cho Việt Nam đã lên tới hơn 65 triệu đô la vào năm 2005. Một phần số tiền đó là dành để hỗ trợ hơn bốn triệu người khuyết tật Việt Nam, trong đó có các nạn nhân của thương tật chiến tranh, khuyết tật thể chất, và các thảm họa. Kể từ năm 2004, Kế hoạch Khẩn cấp của Tổng thống về Cứu trợ HIV/AIDS đã chi gần 80 triệu đô la cho các chương trình chăm sóc, phòng ngừa và điều trị HIV tại đây để bảo vệ dân chúng khỏi bị mắc phải bệnh dịch đang phổ biến này. Với hơn 50 triệu đô la dành cho chương trình này tại Việt Nam trong năm tài chính 2007, chúng tôi cam kết làm việc hết mình với Bộ Y tế và các nhóm khác trong việc điều trị, chăm sóc và phòng ngừa, và nhất là trong việc chống lại sự miệt thị và phân biệt đối xử đối với những người có HIV/AIDS, một vấn đề quan trọng mà Luật Phòng chống HIV/AIDS mới của Việt Nam đề cập tới. Năm nay, 5 triệu đô la cũng được dành cho việc phòng ngừa và sẵn sàng ứng phó dịch cúm gia cầm ở Việt Nam, để giúp bảo vệ người dân Việt Nam khỏi căn bệnh đó. Trong khi các đối tượng hưởng lợi chủ yếu từ các chương trình này là người dân Việt Nam, các vấn đề sức khoẻ này có ảnh hưởng vượt xa ra ngoài khu vực châu Á. Tất cả chúng ta đều cần phải làm việc cùng nhau để ngăn chặn những đại dịch toàn cầu.

Tóm lại – Tôi tin tưởng rằng Việt Nam sẽ tiếp tục tiến hành những thay đổi cần thiết ở trong nước để đảm bảo sự thịnh vượng trong tương lai và hạnh phúc cho người dân của mình, với trọng tâm không chỉ tập trung vào tăng trưởng kinh tế, mà còn tập trung vào việc phát triển hướng tới mục tiêu của ngài Thủ tướng về một chế độ không có tham nhũng, được xây dựng trên một hệ thống pháp luật minh bạch và công bằng và có sự tham gia rộng rãi hơn của công chúng. Tôi hy vọng rằng - nhận thức rõ những lợi ích của chính mình – Việt Nam sẽ chọn phương án tăng cường hợp tác về những thách thức đối với sự ổn định trong khu vực và trên thế giới mà chúng đe dọa tất cả chúng ta. Tôi tin chắc rằng nhân dân hai nước chúng ta sẽ tiếp tục trở nên gần gũi nhau hơn thông qua hoạt động thương mại và đầu tư, thông qua các hoạt động trao đổi giáo dục, kỹ thuật và giao lưu giữa nhân dân hai nước, và khi cả hai xã hội của chúng ta cùng trải qua “quá trình toàn cầu hoá”.

Các xu hướng này sẽ giúp xây dựng nền móng cho một kỷ nguyên hợp tác song phương mới thậm chí còn sâu đậm hơn nữa. Về phía Hoa Kỳ, tôi nhìn thấy trước vai trò tiếp tục cộng tác của Hoa Kỳ. Tôi dự đoán rằng chúng tôi sẽ vẫn là đối tác thương mại quan trọng nhất của Việt Nam và quá trình hội nhập kinh tế song phương của chúng ta sẽ tiếp tục tiếp diễn. Chúng tôi sẽ tiếp tục sẵn sàng giúp Việt Nam đối mặt với các thách thức - từ các loại bệnh tật đến các thiên tai – như chúng tôi đã làm trước đây. Chúng tôi cũng sẽ sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm từ lịch sử của chúng tôi trong việc chống tham nhũng, cải thiện hoạt động quản lý quốc gia và đảm bảo các quyền con người của công dân chúng tôi. Với những phương thức như vậy, tôi hy vọng rằng người dân Việt Nam sẽ thấy chúng tôi là những người bạn tốt và là những đối tác quan trọng. Trên cơ sở đó, chúng ta có thể làm được nhiều điều. Xin cảm ơn.

lên đầu trang ^

Công cụ:

Printer_icon.gif In trang này



 

    Trang Web này được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ quản lý.
    Chúng tôi không chịu trách nhiệm về nội dung và tính bảo mật thông tin của các trang Web khác được liên kết đến.


Đại sứ quán Hoa Kỳ