Đại sứ Michael W. Michalak
Đại sứ Michael W. Michalak giao lưu trực tuyến với độc giả Vietnam Net
Ngày 20-11-2007
VietnamNet: Chào mừng ngài Đại sứ Michael Michalak đến với trường quay của chúng tôi. Hôm nay là ngày Nhà giáo Việt Nam. Rất nhiều độc giả của chúng tôi quan tâm đến vấn đề giáo dục đào tạo. Việt Nam hiện đang phải đối mặt với một vấn đề lớn là khó khăn trong việc đào tạo nguồn nhân lực và lực lượng lao động. Hoa Kỳ là quốc gia có năng lực mạnh về vấn đề này. Vậy liệu Hoa Kỳ có thể giúp Việt Nam đào tạo nguồn nhân lực của mình một cách tốt hơn như thế nào?
Đại sứ Michael Michalak: Cảm ơn VietnamNet đã mời tôi đến đây. Tôi rất vui được có mặt tại đây. Xin chào tất cả các độc giả đang theo dõi cuộc giao lưu này qua mạng Internet.
Câu hỏi đầu tiên là về vấn đề nguồn nhân lực, lĩnh vực giáo dục và ngày Nhà giáo Việt Nam. Trước hết tôi xin gửi lời chúc mừng và cảm ơn đến tất cả các thầy cô giáo Việt Nam. Tôi biết các bạn đang làm một công việc hết sức khó khăn. Nhưng đó là một công việc vô cùng quan trọng. Hiển nhiên giáo dục là một trong những giá trị mà tôi tin rằng cả Việt Nam và Mỹ cùng chia sẻ. Đó cũng là lĩnh vực mà cả hai nước đều chú trọng.
Trước khi tới Việt Nam, tôi đã cam kết với các Thượng nghị sỹ Mỹ tại buổi điều trần trước Thượng viện Mỹ là sẽ cố gắng tăng gấp đôi số lượng sinh viên Việt Nam sang du học tại Mỹ. Chúng tôi đang thực hiện cam kết này bằng nhiều cách. Một số cách thức trong số đó sẽ giúp chúng tôi hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam.
Tôi nghĩ rằng có ba cách để cải thiện mối quan hệ Việt-Mỹ trong lĩnh vực giáo dục. Cách thứ nhất là tiếp tục thực hiện và mở rộng chương trình học bổng Fulbright và các chương trình thuộc Quỹ Giáo dục Việt Nam (VEF) của Hoa Kỳ. Cả hai chương trình này đều giúp đưa sinh viên Việt Nam sang học ở Mỹ và đưa một số sinh viên Mỹ sang Việt Nam.
Cách thứ hai tôi muốn thực hiện để mở rộng quan hệ giáo dục giữa Hoa Kỳ và Việt Nam là làm việc với khu vực tư nhân của Mỹ. Hầu hết các công ty tư nhân của Hoa Kỳ đang hoạt động tại Việt Nam đều có các chương trình đào tạo quan trọng nào đó.
Tôi dự định vào tháng Giêng sang năm sẽ tổ chức hội thảo với sự tham gia của đại diện Chính phủ Hoa Kỳ, các chuyên gia giáo dục, các đại diện cho Quỹ Giáo dục Việt Nam VEF và đại diện các trường đại học Mỹ. Chúng tôi sẽ thảo luận về những nguồn lực hiện có, các chương trình đào tạo phía Mỹ có thể cung cấp, cũng như vấn đề nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực của Việt Nam. Tôi hy vọng chúng tôi có thể đưa ra một hệ thống chương trình đào tạo hữu ích cho Chính phủ và người dân Việt Nam. Sau hội thảo này, tôi hy vọng sẽ gặp gỡ Chính phủ Việt Nam để thảo luận về các chương trình đó, xác định xem liệu có chương trình nào có thể áp dụng tại Việt Nam hay không.
Cách thứ ba cũng rất quan trọng trong việc mở rộng quan hệ giáo dục hai bên là cử các viên chức lãnh sự Mỹ đến các cơ sở đào tạo của Việt Nam, gặp gỡ học sinh, sinh viên giải thích các thủ tục để các em có thể xin visa du học tại Mỹ thành công.
Trong vòng 12 tháng qua, Phái đoàn Ngoại giao Hoa Kỳ tại Việt Nam đã cấp 5.600 visa liên quan đến giáo dục, tăng 54% so với năm ngoái. Điều này cho thấy chúng tôi đã và đang cố gắng tăng số học sinh sinh viên Việt Nam sang du học ở Mỹ.
Tôi đã nói tôi có ba cách để giúp cải thiện quan hệ giáo dục Việt-Mỹ. Trên thực tế còn một cách thứ tư nữa. Đó là giúp nâng cao chất lượng đào tạo tiếng Anh ở Việt Nam. Chúng tôi thấy nhiều sinh viên rất có khả năng và có thể học tập tốt tại Hoa Kỳ. Nhưng trình độ tiếng Anh của họ vẫn chưa đủ đáp ứng yêu cầu.
Chúng tôi có rất nhiều ý tưởng có thể giúp cải thiện vấn đề này. Một trong số đó là đưa Tổ chức Hòa bình Mỹ (Peace Corps) vào Việt Nam. Thành viên của tổ chức này là các giáo viên tiếng Anh rất giỏi. Hiện nay chúng tôi có chuyên gia làm việc thường trú với Bộ Giáo dục Đào tạo Việt Nam. Chuyên gia này đang giúp Bộ Giáo dục xây dựng và cập nhật giáo trình đào tạo tiếng Anh tại các trường của Việt Nam. Chúng tôi cũng định kỳ tổ chức các hội thảo cho giáo viên tiếng Anh tại các địa phương trên toàn quốc.
Như vậy, có thể thấy chúng tôi đang làm việc trên nhiều mặt trận khác nhau như Chính phủ Mỹ, khu vực tư nhân, luật lệ, đào tạo tiếng Anh. Tôi nghĩ đây là một chương trình hành động khá toàn diện và chúng tôi hy vọng có thể làm tốt hơn trong thời gian tới.
VietnamNet: Ông đã vừa trả lời tất cả các điểm trong câu hỏi do bạn Hoàng Văn Hùng, Thành phố Hồ Chí Minh gửi tới. Tuy nhiên, bạn đọc này muốn đưa ra thêm một câu hỏi khác. Hiện nay, Pháp và Đức đang lập kế hoạch xây dựng trường Đại học tại Việt Nam. Vậy Mỹ có kế hoạch tương tự hay không? Liệu kế hoạch đó có được triển một cách nhanh chóng để Hoa Kỳ không chậm chân so với hai quốc gia đó hay không?
Đại sứ Michael Michalak: Tôi không nghĩ Hoa Kỳ chậm chân hơn so với bất cứ nước nào. Năm 1994, chương trình học bổng Fulbright đã mở thêm Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright (FETP) tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tôi chắc chắn là anh Tuấn cũng rất quen thuộc với chương trình này. Chương trình do Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh triển khai và được trường John F. Kennedy (Đại học Harvard) mà anh từng theo học phối hợp chủ trì. Mặc dù đây chưa phải là một mô hình trường đại học đầy đủ nhưng chương trình này cũng cung cấp các khóa học rất hay về kinh tế ứng dụng và chính sách công kéo dài một năm. Chúng ta cũng vừa đề cập đến tầm quan trọng của việc các cán bộ lãnh đạo của Việt Nam có khả năng nói chuyện về vấn đề chính sách công và các học thuyết kinh tế. Hơn thế nữa, chương trình FETP-Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright- sẽ sớm có thêm các khóa học master về quản trị kinh doanh mà theo tôi sẽ rất có ích cho người dân và Chính phủ Việt Nam cũng như cho cộng đồng doanh nghiệp.
Mặc dù Chính phủ Mỹ chưa có chương trình thành lập trường Đại học tại Việt Nam, chúng tôi cũng thường xuyên hỗ trợ quá trình tiếp xúc giữa các trường đại học Mỹ và các trường đại học Việt Nam, đã giúp các trường đại học của hai nước thiết lập quan hệ đối tác có lợi cho cả hai bên. Như vậy chúng ta hiện có một trường John F. Kennedy mini ở Việt Nam. Chúng ta cũng có các chương trình hợp tác giữa các trường đại học hai nước, giúp các trường này cùng trở nên vững mạnh hơn. Tôi nghĩ thế cũng là rất tốt.
VietnamNet: Điều đó có nghĩa là ông đánh giá cao Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright của ông Thomas Vallely?
Đại sứ Michael Michalak: Đúng là như vậy. Tôi mới chỉ gặp ông Thomas Vallely một lần, nhưng chúng tôi đã có một cuộc nói chuyện dài và rất thú vị. Nếu anh biết ông ấy, anh sẽ hiểu rằng đó là một con người vô cùng đặc biệt. Cuộc nói chuyện nào với ông ấy cũng rất thú vị. Ông ấy luôn có những ý tưởng lớn.
VietnamNet: Hiện nay các chương trình giáo dục khác nhau của Chính phủ Hoa Kỳ mới chỉ cung cấp một số lượng học bổng hạn chế cho Việt Nam. Ông có dự định đề xuất với Chính phủ Hoa Kỳ cung cấp thêm học bổng dành cho cả quan chức và người dân Việt Nam hay không?
Đại sứ Michael Michalak: Gần như chắc chắn là như thế. Tuy nhiên, như anh biết đấy, tôi có thể đưa ra bất kỳ đề xuất nào tôi muốn. Nhưng cũng có những giới han trong vấn đề ngân sách. Trong giới hạn ngân sách đó, chúng tôi sẽ tiếp tục đấu tranh như đã từng làm trước đây để có thêm các nguồn lực cho chương trình Fulbright tại Việt Nam.
Tôi đã đề cập đến mong muốn tổ chức một hội thảo lớn gồm những tổ chức và cá nhân hoạt động trong lĩnh vực giáo dục của Mỹ vào một thời điểm nào đó trong năm sau. Một trong những vấn đề tôi muốn xem xét tại hội thảo này là cách thức sử dụng các nguồn lực hiện có một cách hiệu quả hơn để đưa thêm nhiều sinh viên Việt Nam sang học ở Hoa Kỳ.
Tôi chắc chắn rằng là người từng theo học tại trường John F. Kenedy, anh luôn luôn tìm kiếm các nguồn lực mới, nhưng cũng luôn tự đổi mới mình đề sử dụng những nguồn lực đang có.
VietnamNet: Các nguồn lực cũng có sẵn trên mạng lưới Internet.
Đại sứ Michael Michalak: Đúng vậy.
VietnamNet: Bạn Bình Minh hỏi “Sinh viên Việt Nam nghèo và không có nhiều tiền, nhưng họ có khả năng học, họ là những sinh viên giỏi. Vậy họ làm thế nào để có thể đến Mỹ du học? Ông có lời khuyên nào cho họ hay không?”
Đại sứ Michael Michalak: Về việc này chính anh cũng đã có một ý tưởng hay. Đó là Internet. Các bạn có thể tìm kiếm trên mạng Internet thông tin về các trường đại học của Mỹ. Hầu như tất cả các trường đại học ở Mỹ đều có chương trình hỗ trợ tài chính cho SV nước ngoài. Như vậy luôn có mức độ hỗ trợ tài chính nhất định cho các sinh viên đáp ứng đầy đủ các yêu cầu.
Trang web của Đại sứ quán Mỹ cũng cung cấp thông tin về các nguồn hỗ trợ tài chính. Ở mục giáo dục của website này, các bạn có thể tìm kiếm các chương trình học bổng hoặc các hình thức hỗ trợ tài chính khác. Lúc này là công việc dành cho các bạn sinh viên Việt Nam. Nhưng như anh đã nói, họ hoàn toàn có khả năng làm công việc tìm kiếm đó. Hãy vào Internet, truy cập website của Đại sứ quán Mỹ hoặc Tổng lãnh sự quán Mỹ tại Thành phố Hồ Chí Minh. Các bạn sẽ tìm thấy rất nhiều thông tin mà tôi hy vọng sẽ rất có ích cho các bạn.
VietnamNet: Không chỉ Việt Nam đề cao vấn đề giáo dục. Nước Mỹ cũng chú trọng rất nhiều đến vấn đề này. Gần đây, trong diễn văn nhậm chức của mình, Chủ tịch trường Harvard bà Drew Faust cũng đặt ra vấn đề cần có tư duy mới về giáo dục đại học. Với tư cách Đại sứ Mỹ tại Việt Nam, ông có tư duy mới gì về giáo dục đại học?
Đại sứ Michael Michalak: Ý anh nói tư duy mới giống như việc tôi cần đi học đại học? [cười]. Có lẽ tôi cũng cần thật đấy.
Tôi cho rằng ở Mỹ luôn có chỗ cho những tư duy mới. Người ta cũng luôn luôn suy nghĩ về hình thức đào tao mới. Tôi cũng đồng ý là Chủ tịch Harvard đã kêu gọi có một số tư duy mới về giáo dục tại buổi lễ nhậm chức của mình. Mới đây, giám đốc mới được bổ nhiệm của Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) Henrietta Fore cũng kêu gọi phải có tư duy mới về giáo dục. Bà đặc biệt quan tâm đến quan hệ đối tác giữa tư nhân và chính phủ để xem xét xem có thể cải thiện chất lượng giáo dục trên phạm vi toàn cầu như thế nào. Tôi cũng hy vọng tại hội thảo tới đây về giáo dục, tôi sẽ nói chuyện với các trường đại học và công ty của Mỹ để đưa ra một số tư duy mới về giáo dục đại học.
Tôi nghĩ ở bất cứ lĩnh vực nào cũng luôn có cơ hội cho tư duy mới hình thành, chắc chắn không chỉ ở nước Mỹ mà còn ở bất cứ đâu trên thế giới. Tôi tin rằng ở Việt Nam cũng đang có luồng ý tưởng mới về giáo dục đào tạo. Gần đây, Bộ trưởng Giáo dục Việt Nam đã kêu gọi đào tạo 20 nghìn tiến sỹ trong 10 năm tới. Đây là một tư duy sáng tạo và đầy tham vọng. Phía Mỹ muốn làm tất cả những gì có thể để giúp Việt Nam đạt được mục tiêu đó.
VietnamNet: Theo ông, Mỹ sẽ giúp đào tạo được bao nhiêu người trong số đó? Bao nhiêu nghìn tiến sỹ mới?
Đại sứ Michael Michalak: Ngài Bộ trưởng đề nghị chúng tôi giúp đào tạo 2.500 tiến sĩ. Chúng tôi sẽ xem chúng tôi có thể làm được gì.
VietnamNet: Năm ngoái tại trong một hội nghị của cựu học viên Đại học Harvard tại New Delhi, nguyên Hiệu trưởng Đại học Harvard, ông Larry Summer có phát biểu đề cập đến một ý: Nước Mỹ cần thay đổi cách suy nghĩ và cách nhìn nhận về thế giới. Nước Mỹ cần đến các nước khác để hiểu về họ, không nên ngồi một chỗ và suy đoán về các nước. Ông cũng nói rằng các giáo sư của Đại học Harvard cũng cần làm điều tương tự. Ông nghĩ sao về điều này?
Đại sứ Michael Michalak: Tất nhiên rồi. Tại sao lại không nhỉ? [cười]. Tôi thấy luôn luôn có những người Mỹ cho rằng số người có đầu óc và tư tưởng quốc tế ở Mỹ quá ít. Tôi thừa nhận rằng ngay cả bản thân tôi cũng đã có lúc nghĩ như vậy, tức là cho rằng người Mỹ cần phải có tư tưởng quốc tế hơn. Nhưng tôi không chắc rằng điều này là một tiến trình mới mẻ. Vì trong 5-10 năm qua, cả thế giới đã và đang trải qua quá trình toàn cầu hóa. Quá trình này đang buộc chúng ta phải trở nên “quốc tế” hơn, hiểu rõ hơn so với trước đây về mối liên hệ giữa nước mình với phần còn lại của thế giới.
Sáng nay tôi có đọc bài báo về trường Đại học Delaware. 70% sinh viên của trường này có ít nhất một lần học ở nước ngoài. Chương trình MBA của họ yêu cầu các học viên phải qua ít nhất 5 khóa đào tạo được dạy bằng thứ tiếng thứ 2 không phải là tiếng Anh. Nhiều trường đại học tổng hợp như Đại học Washingon hay Đại học Duke thường đưa sinh viên MBA của mình ra nước ngoài thực hiện nghiên cứu tình huống về các vấn đề chính sách hoặc công nghiệp ở các nước đó. Và tôi chắc rằng anh cũng biết rõ là các giáo sư Harvard liên tục đi đến các nước khác.
Tôi nghĩ quá trình mà ông Larry Summer đề cập đã và đang diễn ra trên toàn nước Mỹ cũng như ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới nếu quốc gia đó muốn thành công.Việt Nam cũng vậy. Mọi người đều hiểu rằng chỉ có thể coi mình là người được giáo dục đầy đủ khi đã ra bên ngoài và đi đến các nước khác.
VietnamNet: Quá trình toàn cầu hóa rất quan trọng. Nó cũng mang đến khái niệm công dân toàn cầu. VietNamNet cũng đặt ra vấn đề tư duy về công dân toàn cầu, vấn đề cách thức sống, học tập và làm việc trong một môi trường toàn cầu. Nước Mỹ hiện đang làm gì đối với vấn đề này? Nước Mỹ giáo dục người dân tư duy về toàn cầu hóa và vấn đề công dân thế giới như thế nào?
Đại sứ Michael Michalak: Đây thực sự là một câu hỏi hay. Và là một câu hỏi rất rất lớn.
Nhưng trước khi trả lời câu hỏi này, tôi xin bổ sung thông tin về trang web của Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội và Lãnh sự quán tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tôi có địa chỉ của hai trang web này ở đây. Đó là: http://vietnam.usembassy.gov và http://hochiminh.usconsulate.gov. Đây là các địa chỉ bạn có thể tìm kiếm thông tin về việc xin visa du học và các chương trình hỗ trợ tài chính. Bạn cũng có thể tìm thông tin về các trường đại học khác nhau để lựa chọn nơi học phù hợp nhất cho mình. Chúng tôi luôn chào đón các sinh viên Việt Nam. Các website này sẽ giúp bạn tìm được trường tốt ở Mỹ.
Trở lại với câu hỏi của anh, nước Mỹ suy nghĩ gì về khái niệm công dân toàn cầu và về quá trình toàn cầu hóa trong bối cảnh nước Mỹ? Điều này còn tùy thuộc vào việc mọi người muốn nói đến điều gì. Internet đã làm cho mỗi công dân Mỹ sống trong một không gian rộng lớn hơn so với phạm vi khu dân cư của chính mình. Con gái của tôi hàng đêm đều nói chuyện với bạn bè ở Washington D.C. từ Hà Nội. Hàng ngày tôi cũng liên lạc với bạn bè của mình trên toàn thế giới qua Internet. Nếu tôi có bất kỳ câu hỏi gì về máy tính, tôi có thể lên mạng chát và hỏi ai đó có thể ở Ấn Độ, Philippine hoặc Nebraska.
Như vậy một thứ mà Internet đã làm được là mang thế giới đến với chúng ta qua một phạm vi không gian chỉ nhỏ bằng chiếc màn hình máy tính. Hầu hết tất cả các trường đại học của Mỹ hiện nay đều yêu cầu sinh viên phải có máy tính xách tay (laptop). Ngay con gái tôi đang học trung học ở Hà Nội cũng phải có máy tính để làm bài tập ở nhà, bởi thầy giáo chỉ nói bài tập về nhà nằm trên website này hay website kia. Tôi không biết trang web đó ở Việt Nam, ở Mỹ hay ở châu Âu. Nhưng điều đó cũng không thực sự quan trọng.
Như vậy, khái niệm toàn cầu hóa đã mang ý nghĩa của một chuỗi cung ứng toàn cầu, trong đó một sản phẩm được làm từ nhiều nơi trên thế giới, lắp ráp và đưa đến khách hàng. Sản phẩm đó có thể là một chiếc xe ô tô Ford, một đôi giày Nike được may hoàn chỉnh tại Việt Nam, hoặc có thể là một tấm bằng đại học. Cũng giống như người quản lý sản xuất phải nhận các bộ phận được làm ra từ các nơi trên thế giới để tạo nên một sản phẩm hoàn chỉnh, người giáo viên cũng phải biết tập hợp kiến thức và kinh nghiệm từ khắp nơi trên thế giới để tạo nên một thứ sản phẩm giáo dục có thể cung cấp cho sinh viên. Ít nhất đó là quan điểm của tôi về vấn đề này.
VietnamNet: Có rất nhiều câu hỏi gửi đến Đại sứ mà thời gian không cho phép trả lời hết. Chúng tôi sẽ chọn lọc các câu hỏi. Đây là một câu hỏi khác dành cho ông. Trước khi sang Việt Nam, ông hình dung thế nào về Việt Nam và ông biết gì về giáo dục Việt Nam?
Đại sứ Michael Michalak: Tôi hầu như không biết gì về giáo dục của Việt Nam trước khi sang đây. Nhưng tôi đã sống ở châu Á trước đây và tôi hình dung rằng người dân Việt Nam cũng rất chú trọng giáo dục.
Trước khi đến Việt Nam, tôi cũng không biết mình sẽ kỳ vọng được nhìn thấy điều gì. Nhưng tôi được biết rằng Việt Nam đã phát triển rất nhanh chóng, đặc biệt là sau khi ký kết Hiệp định thương mại song phương Việt-Mỹ. Nhưng tôi chưa từng hình dung rằng đất nước này lý thú đến vậy.
Đến Việt Nam, có những điều khiến tôi ngạc nhiên một cách dễ chịu. Tuyệt vời nhất là sự đôn hậu và thân thiện của người dân Việt Nam. Họ muốn thành công, sẵn sàng làm việc chăm chỉ, mong muốn giúp Việt Nam ngày càng phát triển hơn.Tôi cũng cảm thấy vui vì Hoa Kỳ có thể giúp Việt Nam trên con đường phát triển này.
VietnamNet: Một bạn đọc ở Thành phố Hồ Chí Minh hỏi tại sao cho đến thời điểm này Mỹ vẫn chưa trở thành nhà đầu tư lớn nhất ở Việt Nam?
Đại sứ Michael Michalak: [Cười] Tôi nhận được câu hỏi này rất nhiều lần. Câu trả lời đơn giản của tôi là: các công ty của Mỹ không quan tâm đến việc đầu tư vào Việt Nam vì vị trí xếp hạng nhà đầu tư. Họ không quyết định đầu tư để giành vị trí số một. Các nhà đầu tư Mỹ tìm kiếm cơ hội đầu tư tốt nhất trên toàn thế giới. Hiện tại họ rất quan tâm đến Việt Nam vì họ thấy rất nhiều cơ hội đầu tư ở đây. Thực tế nhiều người nói với tôi phải rất cẩn thận khi nhìn vào chỉ số xếp hạng đầu tư.
Đây cũng là một ví dụ khác về toàn cầu hóa. Một công ty của Mỹ đầu tư 1 tỷ đô-la vào một nhà máy ở ngoại ô Thành phố Hồ Chí Minh. Nhưng khoản đầu tư đó bắt nguồn từ văn phòng đặt ở Hồng Kông của công ty này. Như vậy nó được tính là đầu tư từ Hồng Kông mà trên thực tế vẫn là đầu tư của Mỹ. Tôi không chú trọng lắm đến các con số. Cái tôi quan tâm là những công ty nào vào Việt Nam. Chúng ta có Intel, một công ty lớn linh kiện bán dẫn lớn; có GE, một tập đoàn lớn về tuốc-bin sức gió đang xem xét khả năng xây nhà máy, chế tạo động cơ phản lực hoặc các cơ hội đầu tư khác; có các công ty khác như Citibank mong muốn đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực tài chính; Alcoa muốn đầu tư vào lĩnh vực khai thác sản xuất nhôm; Ganon muốn xây dựng nhà máy điện, v.v. Rất nhiều công ty hiện đã sẵn sàng đầu tư vào Việt Nam và đều đang chờ sự đồng ý của Chính phủ Việt Nam để tiến hành các dự án của mình.
Tôi có thể nói rất nhiều về vấn đề môi trường đầu tư. Nhưng có lẽ anh muốn chuyển sang các câu hỏi khác.
VietnamNet: Trong chuyến thăm Hoa Kỳ của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết vừa qua, tại Nhà Trắng, Chủ tịch Triết và Tổng thống Bush đã nói Chính phủ Hoa Kỳ và Chính phủ Việt Nam sẽ cùng nắm tay nhau, cùng nhìn về tương lai để xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn cho nhân dân và chính phủ hai nước. Với tư cách là Đại sứ Mỹ tại Việt Nam, trong bối cảnh mới này, ông sẽ làm gì để hai nước hiểu nhau hơn? Hoa Kỳ sẽ làm gì để giúp Việt Nam phát triển và trở thành một quốc gia giàu mạnh hơn?
Đại sứ Michael Michalak: Chính phủ và người dân Việt Nam sẽ phải là những người quyết định Việt Nam sẽ phát triển như thế nào và trở thành một nước như thế nào trong 5-10 năm tới. Nước Mỹ có thể giúp tư vấn cho Việt Nam. Chúng tôi có thể đưa ra khuyến nghị và tư vấn ở tất cả các lĩnh vực.
Khi tôi đến Việt Nam, trong các cuộc gặp và nói chuyện với Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và các quan chức cao cấp trong chính phủ, tôi đều nói đến 3 ưu tiên trong thời gian tôi làm việc tại đây. Tôi cho rằng những ưu tiên này đều có thể giúp cải thiện cuộc sống ở Việt Nam rất nhiều.
Ưu tiên thứ nhất là tiếp tục khuyến khích Chính phủ Việt Nam có các tiến bộ trong lĩnh vực nhân quyền. Có một điều chắc chắn là tình hình liên quan đến vấn đề này ở Việt Nam đã được cải thiện rất nhiều so với 5, 10 hoặc 15 năm trước. Nhưng vẫn còn một số lĩnh vực mà Chính phủ có thể cải thiện hơn nữa. Chủ tịch Nguyễn Minh Triết và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng khẳng định sẽ sẵn sàng đối thoại về vấn đề này.
Ưu tiên thứ hai là phát triển sâu sắc và mạnh mẽ hơn quan hệ kinh tế - thương mại hai nước. Tôi tin rằng hiện nay Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Đồng thời, chúng tôi cũng rất khuyến khích các công ty Mỹ tìm hiểu và tiến hành đầu tư vào Việt Nam. Việt Nam đã có nhiều cải thiện lớn lao trong nền kinh tế của mình. Nhưng để phát triển hơn nữa, Việt Nam cần phải đưa ra nhiều quyết định, dù là những quyết định khó khăn, về cải cách luật pháp, tính minh bạch và chống tham nhũng.
Ưu tiên thứ ba của tôi là giáo dục. Chúng ta đã bàn khá nhiều về vấn đề này ở trên. Chúng ta cùng tin rằng đây vẫn là vấn đề thiết yếu đối với sự phát triển của Việt Nam. Mỹ sẵn lòng hỗ trợ Việt Nam trong ưu tiên này.
Vietnam Net: Trong ba ưu tiên, ưu tiên số một của ông là vấn đề nhân quyền. Tất nhiên Việt Nam cần phát triển. Nhưng Việt Nam có hoàn cảnh lịch sử riêng. Điều kiện của Việt Nam khác so với các nước khác. Ông có nghĩ rằng Việt Nam có thể tiến hành từng bước trên lĩnh vực nhân quyền thay vì làm theo các tiêu chí cụ thể về nhân quyền được áp dụng ở các nước khác?
Đại sứ Michael Michalak: Tôi nghĩ rằng có nhiều người muốn thấy có bầu cử đa đảng ở Việt Nam ngay ngày mai. Nhưng tôi không nghĩ rằng điều đó sẽ xảy ra.
Tôi có thể đưa ra nhiều nhiều vấn đề. Nhưng điểm quan trọng nhất là chúng tôi tin rằng có những người không đáng bị bỏ tù chỉ vì bày tỏ quan điểm chính trị, dù quan điểm đó khác với quan điểm của nhà nước. Đó là lí do tại sao Mỹ cùng các nước khác kêu gọi Việt Nam trả tự do cho Cha Lý và một vài người khác bị bỏ tù vì đã bày tỏ quan điểm chính trị riêng của họ.
Hãy nhớ rằng về vấn đề này giữa Hoa Kỳ và Chính phủ Việt Nam có một số khác biệt. Chúng tôi sẽ tiếp tục đối thoại. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch Nguyễn Minh Triết và các quan chức khác thuộc Bộ Ngoại giao luôn sẵn sàng tiếp tục đối thoại và tìm hiểu xem hai bên có thể đồng ý với nhau về những lĩnh vực gì.
VietnamNet: Có nhiều người, trong đó có cả người Mỹ, cho rằng do Việt Nam và Mỹ có hoàn cảnh lịch sử khác nhau, một số chuẩn mực của Mỹ, tư duy của Mỹ có thể không phù hợp với Việt Nam. Ông có nghĩ như vậy không?
Đại sứ Michael Michalak: Đây là một vấn đề hai bên cần thảo luận. Có một số điều được quy định trong các thỏa ước quốc tế khác nhau về nhân quyền. Tôi cho rằng một số nguyên tắc của các thỏa ước đó, như Công ước Quốc tế về Nhân quyền hoặc Tuyên bố Toàn cầu về Nhân quyền, đều nói rằng quyền tự do ngôn luận là quyền phổ quát. Việt Nam là một trong những bên tham gia ký vào các văn bản quốc tế này. Theo tôi, ở đây có thể đã có sự diễn dịch khác đi về ý nghĩa của những qui định này. Chúng ta cần tìm hiểu đó là cái gì và tiếp tục thảo luận.
VietnamNet: Tôi đồng ý với ông. Nhưng cũng có những chuẩn mực của Mỹ không tốt, và bản thân nước Mỹ cũng không hài lòng về một số chuẩn mực, ví dụ như việc sử dụng súng. Điều này đã dẫn đến việc xảy ra nhiều vụ thảm sát ở các trường học. Đó là điều tôi muốn nói. Một số chuẩn mực của Mỹ không tốt cho Việt Nam. Ông có nghĩ vậy không?
Đại sứ Michael Michalak: Tôi cho rằng đó là một ví dụ tốt. Nhiều người Mỹ suy nghĩ theo hai hướng khác nhau. Có người cho rằng quyền sở hữu súng là quyền được nêu trong Hiến pháp và không nên hạn chế quyền đó. Lại có người cho rằng quyền này càng được quản lý nghiêm ngặt càng tốt. Nhưng ở Mỹ thì cả hai quan điểm trên đều có thể được bày tỏ một cách tự do. Cả hai trường phái cùng tranh luận. Có những lúc quan điểm này hay quan điểm kia thắng thế. Cho đến nay, Mỹ cũng chưa thống nhất được quan điểm về vấn đề kiểm soát súng. Điều tôi nhấn mạnh là mọi người có quyền bày tỏ quan điểm một cách hòa bình.
Nước Mỹ cũng không ủng hộ những người kêu gọi lật đổ chính quyền bằng bạo lực. Trên thực tế, gần đây đã có trường hợp công dân Mỹ gốc Việt Nam đã bị tuyên án tù với tội danh khủng bố do tìm cách đánh bom Đại sứ quán Việt Nam tại Philipinnes. Anh ta đã bị bắt, đưa ra xét xử và bị tuyên án tù. Nhưng nếu người đó biểu tình đúng luật, thậm chí đến trước Nhà Trắng và nói “Đả đảo chính quyền Tổng thống Bush” thì điều đó không có vấn đề gì.
Như vậy chúng tôi cho rằng việc bày tỏ quan điểm một cách hòa bình thì không có vấn đề gì. Nhưng bạo lực thì không được.
VietnamNet: Hiện nay ở Việt Nam, nhiều người có thể viết blog và bày tỏ ý tưởng của mình. Và nhiều tờ báo có các diễn đàn cho phép người dân thường bày tỏ ý kiến công khai, thậm chí phê phán các chính sách của chính phủ. Ông nghĩ gì về điều này?
Đại sứ Michael Michalak: Tôi nghĩ điều này nếu đúng thì thật tuyệt vời. Việc đó cần phải được mở rộng ra thành quyền phát biểu công khai và các hình thức bày tỏ ý kiến khác.
VietnamNet: Một đất nước phát triển cần có những ưu tiên cụ thể. Cũng như ông đến Việt Nam làm Đại sứ với ba ưu tiên thì ở Việt Nam cũng vậy. Việt Nam hiện là quốc gia đang phát triển. Ông có cho rằng Việt Nam cần ưu tiên phát triển kinh tế, tăng sức cạnh tranh và phát triển nguồn nhân lực thay vì tập trung vào vấn đề tự do phát biểu ý kiến? Ông nghĩ như thế nào?
Đại sứ Michael Michalak: Tôi tin chắc rằng cả ba việc: phát triển kinh tế, phát triển nguồn nhân lực và đảm bảo quyền tự do phát biểu quan điểm ở Việt Nam cần được thực hiện cùng lúc. Chính phủ Việt Nam đang thực hiện việc phát triển kinh tế, phát triển nguồn nhân lực và có các hành động trong lĩnh vực tôn giáo. Tôi cho rằng Chính phủ Việt Nam đã có những tiến bộ lớn trong việc cho phép người dân tự do thực hành tín ngưỡng của mình. Như vậy tôi cho rằng có thể làm việc trên cả ba lĩnh vực cùng lúc. Chắc chắn tôi sẽ khuyến khích chính phủ làm điều đó.
Tất nhiên vẫn luôn tồn tại những vấn đề chưa được giải quyết ở cả ba lĩnh vực: phát triển kinh tế, phát triển nguồn nhân lực và nhân quyền. Tôi cho rằng một trong những công việc của tôi ở Việt Nam là phải tiến hành công việc ở cả ba vấn đề này cùng lúc. Tôi nghĩ có nhiều lĩnh vực chưa được giải quyết tốt lắm, nhưng ít nhất là Chính phủ Việt Nam sẵn lòng lắng nghe. Tôi hy vọng chúng ta sẽ có tiến bộ trong thời gian tới.
VietnamNet: Tôi nghĩ rằng chính phủ ở đâu cũng hướng tới lợi ích của người dân. Chính phủ Hoa Kỳ và Chính phủ Việt Nam cũng vậy. Cả hai đều phục vụ người dân của mình. VietnamNet đã khảo sát và thấy rằng người dân quan tâm nhiều hơn đến phát triển kinh tế, vấn đề cạnh tranh công bằng và bình đẳng giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân. Họ không quan tâm nhiều lắm đến các vấn đề chính trị, vấn đề tự do chính trị. Bản thân họ thấy rằng họ đã có đủ tự do. Họ nói họ có thể viết blog và thảo luận các vấn đề chính trị tại nơi công cộng như quán cà phê. Ông có cho rằng chúng ta cần lắng nghe từ người dân thay vì buộc họ làm cái chúng ta muốn họ làm và tuyên bố rằng chúng ta đang làm điều gì đó vì người dân, khi mà trong thực tế đó không phải là những điều người dân quan tâm?
Đại sứ Michael Michalak: Nếu người dân không thực sự quan tâm thì cũng chẳng có hại gì khi để họ hoàn toàn tự do về những vấn đề đó.
VietnamNet: Tôi nghĩ rằng ở Việt Nam Chính phủ không cấm đoán tự do phát biểu, phân tích. Tuy nhiên có những người cực đoan. Họ kích động, gây bất ổn định. Ông có cho rằng chúng ta nên ủng hộ họ không?
Đại sứ Michael Michalak: Tôi nghĩ một chính phủ tạo ra được sự tăng trưởng kinh tế 8% hàng năm, thành công trong việc đưa đại bộ phận dân số ra khỏi nghèo đói thì không việc gì phải e ngại một số ít người có quan điểm cực đoan như vậy cả.
Gần đây, tôi có tiếp một số nghị sĩ sang Việt Nam và chúng tôi có bàn về vấn đề này. Một nghị sĩ hỏi tôi tại sao Việt Nam không để bầu cử tự do vì nếu trong hạt của ông nghị sĩ đó quản lý cũng đạt được mức tăng trưởng như vậy thì ông ta sẽ được bầu đi bầu lại mãi mãi [Cười].
VietnamNet: Tôi cho rằng mỗi người có cách suy nghĩ của mình. Ví dụ, tôi cho rằng ông quen thuộc với một môi trường cạnh tranh tự do. Ai cũng phải cạnh tranh và do đó tự tin về bản thân. Nhưng những người khác không sống trong môi trường như vậy. Họ sợ hãi và không có đủ tự tin. Họ không biết mình trông đợi điều gì.
Cá nhân tôi, khi mới rời Việt Nam tôi cũng hết sức cẩn trọng. Tôi phải trải nghiệm. Nhưng giờ đây tôi rất tự tin. Tôi có thể tự tin nói chuyện với ông. Ông có nghĩ rằng về những điều này, chúng ta cần có thời gian để chúng phát triển tự nhiên?
Đại sứ Michael Michalak: Tôi nghĩ không mất quá nhiều thời gian để trở nên tự tin. Khi quan sát Việt Nam thì tôi thấy có rất nhiều người tự tin. Đó cũng là một trong những điều ấn tượng về Việt Nam. Tôi cũng muốn nói rằng Chính phủ cần tin tưởng người dân. Người dân Việt Nam giờ đây cũng rất hạnh phúc, giàu có hơn trước đây rất nhiều. Việc cho phép người dân có quyền tự do biểu đạt, điều mà tôi cho rằng nằm trong các thỏa ước quốc tế về nhân quyền quốc tế, thì không có gì đáng sợ. Bây giờ, Việt Nam là một nước lớn mạnh và tôi tin Việt Nam sẽ xử lý và kiểm soát được những vấn đề này.
VietnamNet: Gần đây tôi có đến Mỹ và tiếp xúc với nhiều người Mỹ, trong đó có các giáo sư, những người hoạt động chính trị và các sinh viên cao học. Tôi thấy rằng nhiều người trong số họ thiếu thông tin và hiểu không đúng về Việt Nam. Họ không hề biết rằng ở Việt Nam mọi người có thể viết blog và tự do bàn luận các vấn đề chính trị. Họ không hề biết những gì ông biết. Là một Đại sứ, ông sẽ làm gì để người Mỹ, Quốc hội và Chính phủ Mỹ hiểu hơn và hiểu đúng về Việt Nam, từ đó có những quyết sách đúng hơn đối với Việt Nam?
Đại sứ Michael Michalak: Đó là một câu hỏi hay. Điều tôi làm là hàng ngày tôi gửi thư, văn bản về Mỹ báo cáo tình hình đang diễn ra tại Việt Nam. Đó cũng là lí do tôi luôn cố gắng đi ra ngoài, đi đến các địa phương của Việt Nam, gặp gỡ nhiều người Việt Nam. Trên cơ sở những chuyến đi như thế, khi làm báo cáo gửi về Washington, tôi có được những thông tin chính xác về tình hình Việt Nam. Tôi cũng khuyến khích các quan chức cao cấp của Mỹ tới Việt Nam. Khi đến và rời đi, họ đều có những ấn tượng khác tốt đẹp về Việt Nam. Tôi cũng khuyến khích Việt Nam mở cửa hơn nữa, vì càng mở cửa, càng nhiều người có thể nhìn, nghe và hiểu đúng về Việt Nam.
Quả thực các bạn cũng gặp phải nhiều dư luận không hay ở Mỹ. Có những người tin rằng họ không được nói ra những điều họ nghĩ hoặc làm những gì họ muốn làm. Thường là chúng tôi phải đi tìm hiểu xem có thực tế có phải như vậy không. Ông X nói một sự việc nào đó đã xảy ra. Chúng tôi nghe được điều này từ Hoa Kỳ và phải đi ra ngoài để kiểm chứng. Quả thực có lúc điều đó đúng, và chúng tôi sẽ có vấn đề với chính phủ. Nhưng có nhiều trường hợp người ta nói sai hoàn toàn, và khi chúng tôi kiểm tra lại thì hoàn toàn không có chuyện như họ nói.
Như vậy qua các báo cáo của chúng tôi, với việc tạo điều kiện cho chúng tôi đi lại tự do, chúng tôi sẽ có điều kiện gửi các thông tin chính xác hơn về Washington. Chúng tôi cũng khuyến khích người Mỹ sang Việt Nam và thường họ mang về những ấn tượng tốt.
Và người Việt Nam cũng cần đến Mỹ, tìm hiểu thêm về nước Mỹ. Chúng ta cũng thấy là anh đã trở nên tự tin và mạnh mẽ như thế nào sau khi theo học tại một trường đại học tuyệt vời ở Mỹ.
Theo tôi, mối liên hệ giữa người dân với người dân là cách tốt nhất mở rộng sự hiểu biết lẫn nhau, thấy rõ mọi người ở cả hai bên.
VietnamNet: Tôi nghĩ để làm được điều đó ông và Đại sứ quán Mỹ cần cấp visa dễ dàng hơn cho công dân Việt Nam sang Mỹ. Ông có nghĩ vậy không?
Đại sứ Michael Michalak: Chúng tôi dễ dàng cấp visa cho tất cả những người đáp ứng đầy đủ các yêu cầu. Như tôi đã nói, chúng tôi đã tăng số visa du học lên 54%. Đó cũng là con số không tồi.
VietnamNet: Cảm ơn ông đã tham gia trực tuyến và chia sẻ quan điểm với độc giả VietNamNet. Chúc ông thành công trong nhiệm kỳ của mình, giúp quan hệ Việt-Mỹ phát triển tốt đẹp hơn, giúp Mỹ có sự hiểu đúng hơn về Việt Nam, đem lại quan hệ cùng có lợi cho hai nước. Tôi nghĩ một trong những nguồn thông tin có thể giúp ông viết báo cáo chính là VietnamNet. Chúng tôi có 4 triệu độc giả mỗi ngày và họ đóng góp rất nhiều ý tưởng.
Đại sứ Michael Michalak: Điều đó thật tuyệt vời. Chắc chắn tôi sẽ trở lại để đối thoại với các bạn độc giả VietnamNet bất cứ lúc nào. Xin cảm ơn.