Phát biểu của Đại sứ Michael W. Marine
Hội nghị Thường niên của Phòng Thương mại Mỹ
Hà Nội, ngày 21/9/2005
Cảm ơn Terence vì lời giới thiệu thân thiện. Xin chào quý bà, quý ông. Tôi rất vinh dự được phát biểu trước quý vị trong buổi tối hôm nay, và xin cảm ơn Ban điều hành Phòng thương mại Mỹ đã cho tôi cơ hội lần thứ hai này. Kể từ lần phát biểu tại phiên họp thường niên năm ngoái đến nay đã có nhiều diễn biến mới, những diễn biến ấy vừa góp phần củng cố, nhưng trong một số trường hợp lại làm phức tạp thêm mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Một mặt, chúng ta đã đạt được những tiến bộ quan trọng. Tổng thống Bush đã tiếp Thủ tướng Phan Văn Khải tại Nhà Trắng vào tháng 6. Đây là chuyến thăm đầu tiên của một Thủ tướng Việt Nam đương nhiệm đến Hoa Kỳ và là chuyến thăm nhận được sự ủng hộ quan trọng của Ban Điều hành Phòng Thương mại Mỹ và rất nhiều các công ty thành viên, kể cả phái đoàn của phòng thương mại tháp tùng Thủ tướng. Năm nay cũng kỷ niệm 30 năm kết thúc chiến tranh, 10 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao và năm năm ký Hiệp định Thương mại Song phương Mỹ-Việt. Nhìn chung, trong năm qua đã có rất nhiều cơ hội để củng cố quan hệ giữa hai nước chúng ta.
Mặt khác, năm qua cũng đặt ra những thách thức mới về kinh tế, thương mại, chính trị và những vấn đề toàn cầu đối với Hoa Kỳ và Việt Nam. Chúng ta cần phải thừa nhận rằng để giải quyết hiệu quả một số những thách thức đó thì cả hai bên phải tiếp tục cam kết cải thiện quan hệ. Cùng nhau hợp lực, chúng ta sẽ thúc đẩy những mối quan hệ chặt chẽ dù đã phải trải qua lịch sử bi thương, tạo ra con đường hòa giải và hợp tác mà tôi tin sẽ là một điển hình để các nước khác noi theo.
Tối nay, tôi xin được đánh giá về mối quan hệ năng động của chúng ta với Việt Nam - hiện tại và tương lai. Hồi đầu tuần khi suy nghĩ đưa ra bản đánh giá này, tôi không khỏi ngạc nhiên trước kết quả thực sự của nó. Nếu ai đó đưa cho tôi bản sao bài phát biểu này 17 năm về trước, khi tôi còn làm ở Bộ Ngoại giao phụ trách về Việt Nam, chắc chắn tôi đã không chấp nhận vì quá lạc quan. Tại thời điểm đó, quan hệ của chúng ta với Việt Nam rất hạn hẹp, tập trung chủ yếu vào vấn đề tìm kiếm POW/MIA. Tuy nhiên, chính sự trao đổi và đàm phán về vấn đề khá nhạy cảm đó cuối cùng lại đặt nền móng cho quan hệ Mỹ-Việt hiện nay. Hợp tác giữa quân đội hai nước tiếp tục phát triển kể từ những ngày đầu đó. Từ năm 1992, nhờ hợp tác song phương trong việc tìm kiếm những người mất tích nên 600 hài cốt của các quân nhân Mỹ đã được đưa về nước, cùng với những thông tin giải đáp cho gia đình họ. Thêm vào đó, chúng ta đã giúp tìm kiếm thông tin cho hơn 1.000 gia đình Việt Nam. Những nỗ lực tập thể, nhân đạo của chúng ta trong công việc quan trọng này đang và sẽ tiếp tục được phát huy. Rộng hơn nữa, hợp tác giữa hai quân đội trở thành lĩnh vực ngày càng quan trọng trong quan hệ giữa hai nước. Các tàu hải quân Mỹ viếng thăm cảng Việt Nam thường xuyên, và mỗi lần cập cảng là mỗi lần sự hiểu biết về văn hóa hai nước lại được nâng cao. Quân đội Mỹ cũng điều phối viện trợ của chúng ta cho những nỗ lực tháo gỡ mìn của Việt Nam và tham gia vào những hoạt động nhân đạo khác. Đầu năm nay, quân đội Việt Nam đã tham gia vào Chương trình Đào tạo và Huấn luyện Quân sự Quốc tế, một dự án khá thành công nhằm hướng dẫn quân đội nước ngoài về quan hệ quân sự-dân sự, hoạt động gìn giữ hòa bình, đối phó với thảm hoạ và đào tạo tiếng Anh.
Những nỗ lực thực thi pháp luật và bảo đảm an ninh của chúng ta ở đây quan trọng chẳng kém gì việc mở rộng và củng cố quan hệ đối tác Hoa Kỳ-Việt Nam. Đại sứ quán Mỹ hợp tác chặt chẽ với Bộ Công an và các cơ quan khác của Việt Nam để đối phó với bất cứ mối đe doạ xuyên quốc gia nào, bao gồm khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia, buôn lậu ma tuý, phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt và buôn người. Đây là lĩnh vực mà lợi ích chung của chúng ta gắn chặt với lợi ích dân tộc của mỗi quốc gia; những mối đe doạ này có thể gây tổn hại trực tiếp cho an ninh quốc gia của Mỹ, cũng như chúng có thể gây tổn hại cho an ninh của Việt Nam. Khi chúng ta hợp tác trong những lĩnh vực này, nhân dân Mỹ và nhân dân Việt Nam sẽ được an toàn hơn và môi trường hoạt động của bọn khủng bố, tội phạm, những kẻ phổ biến vũ khí và buôn người sẽ khó khăn hơn.
Nhiều người Mỹ rất ngạc nhiên bằng cách nào mà chỉ trong một thời gian ngắn quan hệ của chúng ta với Việt Nam lại được mở rộng trên nhiều lĩnh vực đến thế. Tôi cho rằng lý do cơ bản ở đây là sự nhận thức của cả hai bờ Thái Bình Dương về tầm quan trọng của mối quan hệ ổn định và phát triển và sự song trùng lợi ích chiến lược của Việt Nam và Hoa Kỳ. Chúng ta có cùng mục tiêu vì sự tăng trưởng và phát triển của Đông Nam Á, vì sự ổn định và an ninh ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, vì sự thành công trong cuộc chiến chống những mối đe doạ xuyên quốc gia và vì sự tiếp tục trao đổi và hợp tác giữa hai chính phủ và nhân dân hai nước.
Nếu việc tìm kiếm những người mất tích trong cuộc xung đột ở Đông Dương đặt nền móng cho mối quan hệ song phương mới này, thì quan hệ kinh tế và kinh doanh của chúng ta lại trở thành trụ cột của mối quan hệ đó. Kể từ khi Hiệp định Thương mại Song phương Mỹ-Việt (BTA) có hiệu lực năm 2001, thương mại hai chiều đã tăng gấp ba lần, năm ngoái đã vượt con số 6 tỷ ĐÔ-LA. Xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ tăng gấp đôi trong năm 2002 và 2003, và tăng thêm 16% trong năm 2004. Mỹ hiện là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt nam, chiếm 1/5 tổng số hàng xuất khẩu của Việt Nam. Xuất khẩu của Mỹ sang Việt Nam tăng 250% trong ba năm qua. Số liệu tính đến giữa năm 2005 cho thấy kim ngạch thương mại hai chiều tiếp tục tăng mạnh, lên tới 30% trong tháng 6. Xuất khẩu của Mỹ sang Việt Nam trong 6 tháng đầu năm nay đã tăng 76%. Nếu như số liệu buôn bán máy bay hay thay đổi không được tính vào thì xuất khẩu của Mỹ vẫn tăng tới 27% trong năm nay, mặc dù số liệu này thường thay đổi phụ thuộc vào kế hoạch xuất khẩu trong từng năm. Xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ tăng 23% trong cùng thời kỳ. Tính đến cuối năm, chúng ta hoàn toàn có thể hy vọng rằng tổng kim ngạch thương mại song phương sẽ vượt quá 7.5 tỷ ĐÔ-LA.
Bức tranh đầu tư cũng khá là sáng sủa mặc dù đầu tư của Mỹ tại Việt Nam vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Tổng mức đầu tư của Mỹ ở Việt Nam hiện nay là 2.6 tỷ ĐÔ-LA, và năm ngoái, các công ty của Mỹ là những nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất về số vốn được thực hiện, lên tới 531 triệu ĐÔ-LA hoặc 19% tổng đầu tư ở Việt Nam. Các công ty Mỹ ngày càng quan tâm tới đầu tư ở Việt Nam, một phần là do ở một số lĩnh vực, giá nhân công ở đây rẻ hơn 30% so với giá nhân công ở miền nam Trung Quốc. Mặc dù thương mại và đầu tư giữa hai nước đã tăng đáng kể trong những năm gần đây nhưng vẫn còn khá nhiều lĩnh vực có thể mở rộng hơn nữa. Những cuộc đàm phán đang diễn ra về việc Việt Nam ra nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đang đặt nền móng cho sự tăng trưởng này trong tương lai. Chúng ta sẽ tiếp tục giải quyết bất cứ vấn đề nào còn tồn tại để kết thúc những cuộc đàm phán này càng nhanh càng tốt.
Chuyến thăm lịch sử của Thủ tướng Phan Văn Khải sang Mỹ đánh dấu 10 năm đầu tiên quan hệ Mỹ-Việt và là cơ sở để hai nước đưa quan hệ lên một tầm cao mới. Việc Thủ tướng Phan Văn Khải rung chuông mở đầu phiên giao dịch chứng khoán tại Phố Wall ngày 26/6 là khoảnh khắc báo hiệu điềm lành cho tương lai của mối quan hệ này cũng như những cải cách thị trường ở Việt Nam. Những cuộc cải cách tiếp tục này cũng như những cam kết như BTA và nỗ lực gia nhập WTO là động cơ của sự tăng trưởng vượt bậc của Việt Nam.
Tuy nhiên, Việt Nam vẫn bị tụt hậu so với một số đối thủ cạnh tranh trong khu vực trong cuộc chạy đua thu hút đầu tư nước ngoài. Công cuộc “đổi mới” sang năm sẽ tròn 20 năm nhưng Việt Nam vấn thiếu sự hấp dẫn để thu hút các nhà đầu tư so với các điểm đến của châu Á như Trung Quốc và Malaysia. Việt Nam có thể làm nhiều hơn, nhiều hơn nữa để thu hút đầu tư và mở rộng cơ hội kinh doanh cho các công ty Mỹ và các công ty nước ngoài khác.
Để làm được điều đó,Việt Nam phải đối mặt với những thách thức trên hai phương diện. Việt Nam phải hiện đại hóa và chuẩn hóa các bộ luật và các chính sách quản lý nền kinh tế, đồng thời phải cải thiện và làm trong sạch các thể chế, tổ chức, các quy định thực hiện những chính sách này.
Điều này có nghĩa là tạo ra một hệ thống tài chính nhằm mở rộng luồng vốn tới những người sẽ quản lý vốn có hiệu quả, đồng thời giảm số lượng những khoản vay không thực hiện. Điều đó cũng có nghĩa là cho phép các công ty tư nhân trong nước và nước ngoài tiếp cận các thị trường và các ngành công nghiệp đang phát triển, đồng thời xây dựng hệ thống điều tiết và hệ thống pháp lý dựa trên các quy định, minh bạch và có thể dự đoán được, một hệ thống không có tham nhũng. Hệ thống đó phải bảo vệ nguồn vốn trí tuệ, thường được hiểu là quyền sở hữu trí tuệ hoặc IPR, bằng các bộ luật mạnh và thực thi có hiệu quả. Cuối cùng, Việt Nam phải đầu tư cải thiện cơ sở hạ tầng như các nhà đầu tư nước ngoài yêu cầu, đồng thời bảo vệ môi trường tươi đẹp của đất nước này.
Hoa Kỳ và rất nhiều quốc gia khác, các tổ chức quốc tế và các doanh nghiệp thường đưa ra những ý kiến này khi nói về sự cần thiết phải cải cách hơn nữa. Tuy nhiên, tôi không thể nhấn mạnh hết tầm quan trọng của những thay đổi này đối với tương lai của Việt Nam cũng như tương lai mối quan hệ song phương của chúng ta.
Tôi xin dành chút ít thời gian để tập trung vào những cải cách trong lĩnh vực tài chính của Việt Nam, lĩnh vực mà tôi cho là cần thiết trong số những ưu tiên đầu tiên của đất nước trong nỗ lực trở thành một điểm tiếp nhận đầu tư hấp dẫn hơn. Chính phủ Việt Nam cần tạo dựng một thị trường vốn mạnh trong đó hoạt động của các ngân hàng được thúc đẩy bởi lợi nhuận và các thị trường chứng khoán và cổ phiếu năng động để có thể thu hút và thúc đẩy đầu tư trong nước và nước ngoài.
Tự do hóa thị trường tài chính là bước quan trọng đầu tiên bởi vì hệ thống ngân hàng do Nhà nước sở hữu là xương sống của toàn bộ khu vực do Nhà nước sở hữu. Một khi Việt Nam tách nền kinh tế khỏi nguồn tài chính công thì tôi tin rằng chúng ta sẽ được thấy khu vực tư nhân trong nước phát huy hết tiềm năng. Ngoài việc tạo ra một số việc làm với thu nhập thấp, còn lại sẽ chẳng có giá trị gì và cũng chẳng có tiềm năng tăng trưởng nếu duy trì các công ty thuộc sở hữu Nhà nước, mà rất nhiều công ty trong số đó yếu kém về tài chính, nhưng vẫn thu hút một lượng lớn vốn từ các ngân hàng. Tình trạng cũng tương tự đối với việc kiểm soát và trợ cấp giá cả, áp đặt điều kiện đầu tư đối với các nhà đầu tư tư nhân và nước ngoài và giới hạn vốn đóng góp cho hoạt động kinh doanh. Các nhà đầu tư tìm kiếm cơ hội nơi họ có thể có tiếng nói, nếu như không có quyền kiểm soát thực sự, đối với việc quản lý dự án hoặc công ty của họ. Việt Nam đã tự làm tổn thương mình khi không cho các công ty nước ngoài được tham gia hoặc kinh doanh trong các thị trường viễn thông, tài chính, phân phối và năng lượng. Những hoạt động kiểm soát chặt chẽ này chỉ làm cản trở tiến bộ về công nghệ, kỹ thuật quản lý hiện đại và tăng trưởng, chứ không bảo vệ các ngành công nghiệp trong nước trước sự cạnh tranh. Chính phủ Việt Nam cần hành động như một trọng tài chứ không phải là một cầu thủ trong chính nền kinh tế của mình, ngay cả khi điều này có nghĩa là từ bỏ phần lớn quyền kiểm soát các lực lượng thị trường. Nếu thực hiện những bước đi này, Việt Nam sẽ có một sân chơi bình đẳng thực sự và sẽ trở thành một điểm đến của đầu tư nước ngoài.
Chúng ta đã thấy một số tiến bộ trong những lĩnh vực phức tạp này. Đề xuất mới đây của Bộ Tài chính nhằm tăng số vốn đầu tư nước ngoài trong các công ty có tên trong danh sách từ 30% lên 49% là một bước đi rất đúng hướng. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều lĩnh vực mà Chính phủ chưa làm đủ. Một lĩnh vực cụ thể cần phải quan tâm hơn nữa chính là bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Việt Nam mới chỉ bắt đầu xây dựng các quy định bảo vệ về mặt pháp lý và điều tiết mà hầu hết các công ty yêu cầu đối với một điểm tiếp nhận đầu tư tiềm năng. Tuy nhiên cái thiếu vẫn là việc thực hiện. Ăn cắp bản quyền và làm giả hàng hóa vẫn là những mối quan ngại nghiêm trọng, dù sản phẩm đó là phim ảnh, âm nhạc, sách báo, phần mềm, dược phẩm hay các sản phẩm có thương hiệu. Đối với phim ảnh, sách báo và âm nhạc Mỹ, tỷ lệ ăn cắp bản quyền là 100%. Đối với dược phẩm và một số sản phẩm khác, hiện tượng làm giả không chỉ phá hoại về kinh tế và còn gây ra những mối lo ngại về sức khỏe rất nghiêm trọng. Khi nền kinh tế Việt Nam hiện đại hóa và mở rộng, thì tiêu điểm sản xuất chuyển từ các ngành công nghiệp “tốn sức lao động” sang các ngành công nghiệp “trí tuệ”. Thiếu tôn trọng đối với quyền sở hữu trí tuệ sẽ cản trở sự tiến bộ cần thiết để chuyển đổi đầy đủ sang một nền kinh tế thị trường. Những lợi ích của việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ thực sự là những lợi ích mà Việt Nam đang bị mất. Những lĩnh vực như thiết bị y tế và phát triển phần mềm ở đây là những lĩnh vực có tiềm năng lớn. Thiếu sự bảo vệ đối với quyền sở hữu trí tuệ không chỉ cản trở đầu tư nước ngoài mà còn làm Việt Nam tụt hậu so với các nước láng giềng trong những lĩnh vực cạnh tranh quan trọng. Chúng tôi sẽ còn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của quyền sở hữu trí tuệ vào bất cứ lúc nào thích hợp, tuy nhiên những tiến bộ về việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ sẽ đòi hỏi cả Chính phủ Mỹ lẫn cộng đồng doanh nghiệp ở đây phải lên tiếng, đặc biệt là cộng đồng doanh nghiệp Mỹ.
Cho phép tôi được nói đôi chút về tầm quan trọng của sự hợp tác và đối thoại giữa Phòng thương mại và Sứ quán Mỹ. Chúng tôi muốn những cuộc đàm thoại với Chính phủ Việt Nam phải phản ánh được nguồn lực và kinh nghiệm của quý vị. Đừng do dự, hãy liên hệ với tôi hoặc nhân viên của tôi ở đây hoặc tại thành phố Hồ Chí Minh nếu có bất cứ vấn đề gì- dù đó là thành công hay là một vấn đề cần giải quyết. Chúng tôi muốn được nghe từ phía quý vị. Chúng tôi muốn chính sách và các sáng kiến của chúng ta phải dựa trên tình hình cụ thể mà quý vị phải đối mặt ở đây. Sự phản hồi của quý vị sẽ tạo nên sự khác biệt, bởi vậy tôi khuyến khích quý vị luôn để mở các đường dây liên lạc.
Quay trở lại với vấn đề cải cách, bên cạnh việc bảo vệ cơ bản quyền sở hữu trí tuệ, các nhà đầu tư Mỹ và các nhà đầu tư nước ngoài khác cũng muốn có một khuôn khổ pháp lý rành mạch, có thể tiên liệu được và minh bạch để có thể đảm bảo sự bất khả xâm phạm của các hợp đồng. Khi các nhà đầu tư nước ngoài hoặc các doanh nghiệp phải đối mặt với những thủ tục quan liêu và những hạn chế có vẻ rất tuỳ tiện, thì hình ảnh của Việt Nam với tư cách một điểm đến thương mại sẽ bị ảnh hưởng. Việt Nam vẫn được xem là một địa điểm đầu tư khá đắt đỏ và rủi ro hơn vì những vấn đề không thể lường trước xảy ra thường xuyên hơn so với các nơi khác. Điều này đang thay đổi khi giới lãnh đạo Việt Nam thừa nhận vấn đề này và hành động để xây dựng hệ thống pháp lý. Tuy nhiên, bất chấp những thay đổi pháp lý cụ thể, thực tiễn kinh doanh ở Việt Nam vẫn vậy. Tranh chấp về sử dụng đất ở đây kéo dài hàng tháng thậm chí hàng năm. Các thủ tục hải quan vẫn còn tuỳ tiện và không thể tiên liệu được. Hệ thống pháp luật còn yếu kém và không được sử dụng đúng mức.
Điểm chung, cơ bản trong tất cả những quan ngại này chính là sự cần thiết phải có cam kết lớn hơn đối với pháp quyền. Các nền kinh tế quá độ đặc biệt phải cẩn trọng trước những quyết định pháp lý tuỳ tiện và có động cơ chính trị. Đây là một trong những lĩnh vực mà Hiệp định Thương mại Song phương đặc biệt hiệu quả, nhưng vẫn còn nhiều việc phải làm. Hiệp định Thương mại Song phương và nỗ lực gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới đang đưa Việt Nam vào khuôn khổ của hệ thống kinh tế dựa trên các luật lệ quốc tế. Tuy nhiên, giới lãnh đạo cấp trung ương và tỉnh thành của Việt Nam cần thúc đẩy khái niệm pháp quyền vào bất cứ lúc nào.
Chính phủ Việt Nam hãnh diện và đúng đắn khi ca ngợi tiến bộ của mình trong việc thực hiện nhân quyền “tập thể” chẳng hạn như giáo dục và giảm đói nghèo. Tuy nhiên, Hoa Kỳ vẫn lo ngại rằng Chính phủ Việt Nam không khoan dung trước những quan điểm bất đồng về chính trị và hạn chế không cho người dân được hưởng các quyền tự do tôn giáo, ngôn luận, báo chí và tụ họp. Ngay cả khi chúng ta mở rộng các mối quan hệ kinh tế với Việt Nam, chúng ta tiếp tục thúc đẩy những lý tưởng này một cách mạnh mẽ và nhắc nhở Chính phủ Việt Nam rằng đó không phải là những đặc quyền mà là những nguyên tắc mà mọi người trên khắp thế giới đều được hưởng.
Một khu vực mà chúng ta đã chứng kiến những tiến bộ rất đáng khích lệ đó là Tây Nguyên. Ở đây chúng ta ghi nhận sự cởi mở của Chính phủ trong việc hợp tác với Căm-pu-chia và Cao ủy Liên Hợp Quốc về người tị nạn về vấn đề an sinh và sức khỏe của các dân tộc thiểu số, đặc biệt là những người trước đây đã di cư sang Căm-pu-chia và hiện đã trở về. Trước lịch sử phức tạp của Tây Nguyên, cộng đồng quốc tế đã yêu cầu được tiếp cận với những người di cư trở về để xác nhận rằng tình hình trong khu vực đã ổn định và người dân không còn bị ngược đãi. Chính phủ đã cho phép cộng đồng quốc tế được tiếp cận với họ và chúng ta hy vọng sẽ tiếp tục có sự minh bạch và mang đến cho cộng đồng quốc tế niềm tin cần thiết để hướng về phía trước với những kế hoạch trợ giúp phát triển kinh tế xã hội của Tây Nguyên.
Một dấu hiệu đáng hoan nghênh khác nữa trên mặt trận nhân quyền là việc thả và ân xá cho một số tù nhân đáng quan tâm vào ngày 2/9. Trong năm qua, như một phần trong các lễ kỷ niệm của dân tộc, Việt Nam đã ân xá cho một số lượng lớn các tù nhân, trả tự do cho hơn 26.000 tù nhân trong ba đợt, kể cả một số các cá nhân nổi tiếng. Ân xá rất quan trọng vì là những bước đi mà Việt Nam thực hiện nhằm mở rộng không gian hành đạo cho các tín đồ tôn giáo. Tuy nhiên vẫn còn rất nhiều việc mà các nhà chức trách có thể và phải làm để cải thiện tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Ở Việt Nam vẫn còn những người bị bỏ tù vì thực hiện những quyền con người cơ bản của họ, và điều này là sai trái. Tối nay, tôi kêu gọi Chính phủ Việt Nam hãy thả những tù nhân chính trị sau đây: Nhà báo Nguyễn Vũ Bình, Tiến sĩ Phạm Hồng Sơn, nhà văn Nguyễn Khắc Toàn, nhà hoạt động Trần Văn Lương, và cựu sĩ quan cảnh sát Nam Việt Nam Phan Văn Bàn.
Lịch sử đã cho thấy các quyền tự do chính trị và tôn giáo đi song song với sự thịnh vượng kinh tế. Tốc độ và mức độ thành công trong tương lai của Việt Nam phụ thuộc vào cam kết cải cách mạnh mẽ trong cả hai lĩnh vực này.
Sức khỏe của một dân tộc cũng phụ thuộc rất lớn vào sức khỏe của các công dân. Trên mặt trận này, Việt Nam hiện đang đối mặt với hai vấn đề y tế quan trọng mà nếu không có những hành động dứt khoát và kịp thời thì những vấn đề đó có thể nhanh chóng trở thành những cuộc khủng hoảng tồi tệ. Vấn đề đầu tiên là cúm gia cầm. Chính phủ Việt Nam nhận thức được mức độ nghiêm trọng của bệnh dịch này và đang tiếp tục nỗ lực tiêm vắc xin cho đàn gia cầm và kiềm chế virút gây chết người H5N1. Tuy nhiên, điều đó có thể là chưa đủ để ngăn chặn virút trở thành loại có thể dẫn tới đại dịch. Trường hợp người bị nhiễm H5N1 vẫn xảy ra ở Việt Nam và các nơi khác. Virút H5N1 đã lan sang cả gia cầm ở Nga và Kazăcxtan hồi cuối tháng 7. Đây là diễn biến đáng báo động và là lời cảnh tỉnh đối với cộng đồng thế giới.
Để đối phó, Chính phủ Mỹ đang đi tiên phong trong một sáng kiến chính trị quốc tế cấp cao nhằm giải quyết vấn đề này bằng việc khởi xướng sáng kiến Quan hệ Đối tác Quốc tế về Cúm gia cầm tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc vào tuần trước. Về nguyên tắc, Hoa Kỳ cũng đã chọn Việt Nam, quốc gia đã chấp nhận thách thức để trở thành một phần trong sáng kiến Quan hệ đối tác này. Hoa Kỳ cũng cam kết bổ sung cho ngân sách 25 triệu đô-la, cao nhất trong khoản viện trợ giúp hiện nay và đã được lên kế hoạch, để đối phó với dịch cúm gia cầm, đặc biệt là hỗ trợ các quốc gia Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, để giúp lên kế hoạch tốt hơn và chuẩn bị đối phó với đại dịch này, tăng cường giám sát và đối phó với việc bùng phát dịch.
Vấn đề đáng lo ngại thứ hai là HIV/AIDS. Giống với cúm gia cầm, HIV là một vấn đề đang gia tăng ở Việt Nam đe doạ gây tổn thất lớn về người và kinh tế. Chính phủ Mỹ cam kết hợp tác mạnh mẽ với Việt Nam để ngăn ngừa một cuộc khủng hoảng HIV có thể xảy ra. Rõ ràng căn bệnh này đang lan rộng ở đây. Tuy nhiên, vẫn còn chỗ để tất cả chúng ta tạo nên sự khác biệt làm thay đổi xu hướng này. Đó là điều tại sao Tổng thống Bush đã liệt kê Việt Nam là một trong số 15 quốc gia được ưu tiên nhận viện trợ từ Kế hoạch cứu trợ AIDS khẩn cấp. Tổng thống chọn Việt Nam là quốc gia được ưu tiên duy nhất ở châu Á vì ở đây bệnh dịch này có khả năng được kiểm soát thực sự bằng những hành động mạnh mẽ.
Tuy nhiên, để làm được điều này Chính phủ Việt Nam cần nỗ lực gấp đôi. Để có thể tạo ra sự thay đổi thực sự trong vấn đề này, Chính phủ Việt Nam phải kêu gọi sự tham gia của tất cả các cấp trong xã hội. Có quá nhiều người Việt Nam không hiểu HIV/AIDS là gì và thế nào thì không phải là HIV/AIDS; có quá nhiều người không biết cách bảo vệ bản thân và có quá nhiều người không hiểu rằng những người sống chung với HIV/AIDS vẫn có thể là những thành viên có ích cho xã hội. Như Chính phủ giờ đây đã thừa nhận HIV/AIDS không phải là một “tệ nạn xã hội”-đó là một căn bệnh và những ai bị bệnh đó đáng được chúng ta thông cảm và giúp đỡ. Tôi hoan nghênh Việt Nam vì đã có nỗ lực giảm bớt các bệnh có liên quan tới HIV, nhưng vẫn còn nhiều điều mà các quan chức cấp cao và tất cả chúng ta phải làm để xóa bỏ sự phân biệt đối xử với những người sống chung với HIV/AIDS.
Người Mỹ được biết đến bởi tinh thần luôn lạc quan về những gì sẽ đến, và trong trường hợp của Việt Nam tôi nghĩ sự lạc quan đó là có cơ sở. Trên thực tế, lạc quan là đặc điểm chung của chúng ta và những người chủ nhà Việt Nam. Họ cũng nổi tiếng về sự kiên trì và có cái nhìn lạc quan về cuộc sống và theo quan điểm của tôi, điều đó khiến họ trở thành những đối tác và những người bạn tốt của chúng ta. Trên tất cả, tôi tin rằng tinh thần lạc quan chung của chúng ta là một yếu tố quan trọng trong quan hệ song phương mà chúng ta đang xây dựng bởi nó định hướng cho cả hai dân tộc hợp tác hướng tới mối quan hệ chặt chẽ hơn mà chúng ta sẽ có trong tương lai.
Hãy để tôi chia sẻ đôi điều với quý vị: Ngày 8/9, điều đầu tiên trong buổi sáng đó là tôi nhận được một cuộc điện thoại từ Bộ Ngoại giao nói rằng một quan chức cấp cao muốn gặp tôi ngay lập tức. Thường thì đó không phải là tin tốt lành gì-có thể là một số hội đồng thành phố hoặc thượng viện bang lại thông qua một nghị quyết nữa công nhận lá cờ của Việt Nam Cộng hòa hoặc Chính phủ Việt Nam lo ngại về một số hành động của Hoa Kỳ. Thế nhưng lần này lại là Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam, thông báo với tôi rằng Chính phủ Việt Nam đã quyết định trao tặng 100.000 đô-la cho các nạn nhân Mỹ trong cơn bão Katrina, và đề nghị được gửi một đội y tế tới Hoa Kỳ để giúp những người đang trong cảnh khó khăn. Ngày hôm sau, một trong số nhân viên của tôi được mời tới dự lễ phát động chiến dịch của Hội Chữ Thập Đỏ Việt Nam nhằm quyên góp ủng hộ các nạn nhân Mỹ. Nhân viên này đã nhận một tấm séc từ Hội Chữ Thập Đỏ Việt Nam trị giá 20.000 đô-la và sau đó đã bắt tay trên một trăm đại diện của Hội Chữ Thập Đỏ Việt Nam đến từ các công ty và các văn phòng trên khắp Hà Nội khi họ bỏ những phong bì tiền quyên góp vào thùng. Và buổi lễ này đã được lặp lại trên khắp Việt Nam ở tất cả 64 tỉnh, thành. Tôi thực sự xúc động trước sự giúp đỡ hào phóng khó có thể tưởng tượng nổi từ một dân tộc và một đất nước không có nhiều nguồn lực để giúp đỡ dành cho những nạn nhân của cơn bão Katrina. Không một sự kiện nào trong số những sự kiện đặc biệt mà chúng ta tổ chức trong năm nay để kỷ niệm 10 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao có thể phản ảnh một cách rõ ràng mối quan hệ đã phát triển giữa hai dân tộc chúng ta bằng hành động này trong thời điểm chúng ta cần sự giúp đỡ. Đó là điều tại sao tôi thực sự lạc quan là chúng ta đang trên đường tiến tới thực hiện mục tiêu chung của Tổng thống Bush và Thủ tướng Phan Văn Khải là đưa mối quan hệ này lên tầm cao mới.
Như nhiều quý vị đều biết, Tổng thống Bush đã nhận lời mời của Thủ tướng Phan Văn Khải tham dự Hội nghị các nhà lãnh đạo của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương 2006, APEC, sẽ được tổ chức tại đây, tại Hà Nội vào cuối năm sau. Chủ trì APEC 2006 vừa là một cơ hội tuyệt vời vừa là trách nhiệm đối với Việt Nam. Cách tiếp cận đa lĩnh vực đặc biệt của APEC, sự hợp tác chặt chẽ của diễn đàn với doanh nghiệp và khu vực tư nhân và thực tế nó bao gồm 21 nền kinh tế ở vành đai châu Á-Thái Bình Dương chiếm hơn nửa thương mại thế giới đã khiến APEC trở thành một diễn đàn cực kỳ quan trọng, một diễn đàn mà Hoa Kỳ vô cùng tự hào khi tham gia. Hoa Kỳ là một quốc gia Thái Bình Dương. Các đối tác thương mại trong APEC nhập khẩu 2/3 hàng hóa từ Mỹ và xuất khẩu sang Mỹ 2/3 hàng hóa của họ. Hợp lực lại, các nền kinh tế APEC có thể có ảnh hưởng to lớn tới nỗ lực ủng hộ tự do hóa thương mại, chuẩn bị đối phó với bệnh dịch và thiên tai và áp dụng các biện pháp nhằm cải thiện môi trường kinh doanh thông qua đấu tranh chống tham nhũng và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Hoa Kỳ sẽ cung cấp bất cứ khoản trợ giúp nào có thể để đảm bảo rằng tất cả các nền kinh tế APEC tiếp tục tiến tới các mục tiêu kinh tế, thương mại, an ninh chung cho khu vực.
Xin cảm ơn tất cả quý vị đã lắng nghe. Xin chúc tất cả quý vị thành công trong những nỗ lực tương lai ở đây, tại Việt Nam.