jump over navigation bar
Embassy SealBộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Đại sứ quán Hợp chúng quốc Hoa Kỳ - Hanoi, Vietnam flag graphic
Đại sứ quán Hoa Kỳ
 
  Ngài Đại sứ Phó Đại sứ Cựu Đại sứ Cựu Phó đại sứ Đại sứ quán Phòng ban trong sứ quán Thông cáo báo chí Các hoạt động nổi bật của Sứ quán

Đại sứ Michael W. Michalak

Cuộc gặp gỡ báo chí tại Hà Nội của Ngài Đại sứ

Ngày 21/9/2007

Đại sứ Michalak:  Tôi đã đến Hà Nội được một tháng và vẫn đang phải học hỏi rất nhiều điều. Tôi rất hài lòng về những sự chào đón dành cho tôi cho đến thời điểm này. Tôi trông đợi sẽ có ba năm làm việc tốt đẹp tại đây, qua đó tôi hy vọng sẽ tiếp tục mở rộng và làm sâu sắc hơn mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.  

Xin mời các bạn đặt câu hỏi.

Câu hỏi: Câu hỏi của tôi rất đơn giản. Xin ông cho biết ưu tiên cao nhất trong nhiệm kỳ của mình?

Đại sứ Michalak: Ưu tiên cao nhất của tôi. Đó là một câu hỏi đơn giản ư? [cười]

Tôi đã nói với nhiều người rằng với cương vị Đại sứ tại Việt Nam, tôi có rất rất nhiều ưu tiên. Có ba ưu tiên tôi cho rằng có mức độ cao như nhau và tôi dự định sẽ theo đuổi để thực hiện trong thời gian ở đây.

Ưu tiên thứ nhất là tiếp tục khuyến khích Chính phủ Việt Nam có những tiến bộ trong lĩnh vực nhân quyền, bao gồm tự do tôn giáo, tự do báo chí và tự do ngôn luận.

Ưu tiên thứ hai là quan hệ kinh tế giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Tôi sẽ làm việc tích cực để tiếp tục cải thiện quan hệ kinh tế của chúng ta, và có rất nhiều cách thức tôi dự định sẽ thực hiện để làm điều đó. Tôi muốn tiếp tục mối quan hệ tuyệt vời mà chúng ta đã xây dựng thông qua dự án STAR (Hỗ trợ thúc đẩy thương mại) và dự án VNCI (Sáng kiến năng lực cạnh tranh Việt Nam), cũng như mối quan hệ tốt mà Phòng Thương mại Mỹ và các công ty Mỹ đã thiết lập với các đối tác phía Việt Nam.  

Tôi muốn đảm bảo rằng các công ty Việt Nam và Mỹ sẽ tận dụng lợi thế của việc Việt Nam là thành viên WTO và sẽ tiếp tục triển khai Hiệp định Khung về Thương mại và Đầu tư mà Hoa Kỳ vừa ký kết với Chính phủ Việt Nam. Tôi cũng sẽ làm việc tích cực để thu hút nhiều đầu tư từ Mỹ vào Việt Nam hơn nữa.

Ưu tiên cuối cùng trong số ba ưu tiên chính của tôi là giáo dục. Tôi sẽ làm việc tích cực để giúp Chính phủ Việt Nam tăng cường cơ sở hạ tầng giáo dục của mình. Tôi đã cam kết sẽ nỗ lực tăng gấp đôi số sinh viên Việt Nam sang học tại các trường Mỹ. 

Tôi tin rằng cả Hoa Kỳ và Việt Nam đều đánh giá rất cao vấn đề giáo dục. Đây thực sự là một vấn đề đang ngày càng trở nên quan trọng khi Việt Nam tiếp tục phát triển nền kinh tế của mình.

Như vậy, các ưu tiên đó là nhân quyền; kinh tế và thương mại, trong đó có đầu tư; và giáo dục. Cả ba ưu tiên này có tầm quan trong như nhau trong thời gian tôi ở Việt Nam. 

Câu hỏi: Tuần tới Thủ tướng Chính phủ Việt Nam sẽ tham dự kỳ họp thứ 62 của Đại hội Đồng Liên hiệp quốc. Mục đích chính là để vận động cho việc Việt Nam trở thành thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc. Ông đánh giá như thế nào về quá trình hội nhập chính trị của Việt Nam, và Hoa Kỳ kỳ vọng như thế nào về vai trò của Việt Nam trên chính trường quốc tế?

Đại sứ Michalak: Tôi nghĩ rằng Hoa Kỳ hoan nghênh việc Việt Nam ứng cử vào vị trí thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an. Tôi biết rằng Hoa Kỳ không đứng về phía nào, hoặc ít nhất sẽ không tuyên bố sẽ bỏ phiếu cho ai. Điều đó giống như hỏi một người sẽ bỏ phiếu cho ứng cử viên tổng thống nào. Sẽ không ai muốn tiết lộ điều gì trước khi cuộc bỏ phiếu diễn ra.

Từ nhiều năm nay Việt Nam đã và đang nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế. Tôi tin rằng trong khuôn khổ ASEAN, chúng ta đã thấy Việt Nam giữ vai trò lãnh đạo trong rất nhiều vấn đề. Hiển nhiên công việc của tôi tại APEC đã cho tôi thấy Việt Nam có thể đóng vai trò lãnh đạo mạnh mẽ trong tổ chức đó. 

Cho đến nay, Việt Nam đã giữ cái gọi là chính sách ngoại giao đa phương. Nói cách khác, Việt Nam muốn làm bạn với tất cả mọi người. Đó là một mục đích tuyệt vời. Trong thực tế bản thân tôi cũng có mục tiêu làm bạn với tất cả mọi người. Tuy nhiên, là một thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an, Việt Nam sẽ phải có những lựa chọn và sẽ phải bỏ phiếu. Do đó, Việt Nam sẽ phải cân đong đo đếm rất nhiều yếu tố khi bỏ phiếu về một vấn đề nào đó.  Hoa Kỳ đã hợp tác theo rất nhiều cách thức với Chính phủ Việt Nam. Do vậy nếu Việt Nam trở thành thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an, chúng tôi trông đợi sẽ làm việc và thảo luận với Việt Nam về các vấn đề có tầm quan trọng đối với Hoa Kỳ.

Tôi nghĩ rằng Hoa Kỳ kỳ vọng sẽ thấy Việt Nam đóng vai trò tích cực tại Hội đồng Bảo an và sẽ nỗ lực làm việc để đạt được hoà bình, an ninh và thịnh vượng. Đây cũng là điều Hoa Kỳ cố gắng đạt được tại Hội đồng Bảo an. Chúng tôi đã đề nghị được giúp đỡ Chính phủ Việt Nam nhiều đến mức có thể khi Việt Nam trở thành một thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an.

Câu hỏi: Như ông đã biết, đầu tư của Hoa Kỳ vào Việt Nam trị giá hàng tỉ đô-la Mỹ, tuy nhiên lượng vốn đã giải ngân chỉ đạt hơn 2 tỉ đô-la. Vậy ông có ưu tiên gì để thúc đẩy đầu tư tại Việt Nam?

Đại sứ Michalak: Thực tế có người nói Hoa Kỳ là nhà đầu tư số một tại Việt Nam. Vì có một lượng vốn lớn của Mỹ không đến từ Hoa Kỳ mà đến từ Đảo Cayman hoặc các nơi khác, nhưng chúng vẫn thực sự là vốn của Mỹ.

Như tôi đã từng nói, các công ty Mỹ sẽ không đầu tư vào Việt Nam chỉ để Mỹ trở thành nhà đầu tư lớn nhất tại Việt Nam. Các công ty Mỹ đầu tư vào Việt Nam để kiếm lợi nhuận.

Điều mà hầu hết các công ty tìm kiếm khi họ quyết định sẽ đầu tư vào nước nào đó chính là một môi trường đầu tư tốt. Điều này đồng nghĩa với một nền tảng vững chắc của nền pháp quyền, theo đó hệ thống toà án vận hành hiệu quả, vô tư và nhanh chóng. Các công ty Mỹ tìm kiếm một hệ thống quy định pháp luật cởi mở, minh bạch, cho phép các công ty chịu tác động của luật lệ và quy định được tham gia ý kiến vào quá trình xây dựng các luật lệ và quy định đó.   

Tôi cho rằng cộng đồng doanh nghiệp quan tâm hơn hết đến sự ổn định của hệ thống chính sách. Nói cách khác, họ không muốn thấy tình trạng một quy định nào đó được ban hành hôm nay thì ngày hôm sau một quy định trái ngược lại được ban hành.

Tôi cho rằng Việt Nam đã đạt được những tiến bộ nhất định trong việc xây dựng một môi trường đầu tư hấp dẫn cho các nhà đầu tư. Trên thực tế, như các bạn biết, Việt Nam hiện cũng đang thu hút một lượng đầu tư lớn. Chúng tôi tin tưởng rằng Việt Nam thậm chí có thể làm tốt hơn, và trong khuôn khổ Hiệp định Khung về Thương mại và Đầu tư (TIFA). Chúng tôi đang thảo luận một số vấn đề như tính minh bạch, nền pháp quyền và các vấn đề quản lý nhà nước.  

Chúng tôi cũng đã cùng các đối tác thuộc Chính phủ Việt Nam tiến hành tìm hiểu khả năng đàm phán Hiệp định Đầu tư Song phương (BIT). Chương trình dự án STAR và VNCI cũng đang tìm hiểu các cách thức nhằm cải thiện môi trường đầu tư, giảm bớt quy định, và cơ bản đưa Việt Nam trở nên cạnh tranh hơn trong bối cảnh cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài toàn cầu.

Do đó, tôi sẽ cố gắng tiếp tục khuyến khích Chính phủ Việt Nam cải thiện môi trường đầu tư, đồng thời tôi sẽ giới thiệu các công ty Mỹ đến Việt Nam hòng giúp họ tự đánh giá cho chính bản thân họ rằng Việt Nam là một địa điểm đầu tư tốt.

Câu hỏi: Về vấn đề thương mại, Hoa Kỳ được xem là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Vậy Việt Nam cần quan tâm đến điều gì để tăng khối lượng thương mại?

Đại sứ Michalak: Tôi cho rằng hiện nay Việt Nam xuất khẩu một lượng hàng hoá và dịch vụ trị giá 9 tỉ đô-la sang Hoa Kỳ. Ngược lại Hoa Kỳ xuất khẩu khoảng 1,5 tỉ đô-la sang Việt Nam. Tôi nghĩ có lẽ Việt Nam cần mua nhiều hơn nữa từ Hoa Kỳ để chúng ta có một cán cân thanh toán cân bằng hơn. [cười] 

Người Mỹ sẽ mua các sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hợp lý, được giao hàng đúng hẹn. Nếu Việt Nam có thể cung cấp các sản phẩm như vậy, tôi tin chắc chắn sẽ có thị trường cho hàng hoá của Việt Nam tại Mỹ. 

Tuy nhiên, đồng thời tôi cũng cần nói rằng nước Mỹ cũng sản xuất ra rất nhiều hàng hoá chất lượng cao, giá thành hợp lý và có thể được giao nhanh chóng. Đặc biệt là một số sản phẩm công nghệ cao mà Việt Nam có thể sử dụng để phát triển các ngành công nghiệp của mình. Do đó tôi kêu gọi các công ty Việt Nam và chính phủ Việt Nam xem xét kỹ các sản phẩm của Mỹ vì chúng rất đáng để mua.

Câu hỏi: Ông nói giáo dục là một ưu tiên trong chính sách của mình trong nhiệm kỳ tại Việt Nam. Ông cũng nhắc đến cơ sở hạ tầng của hệ thống giáo dục. Xin ông cho biết các nỗ lực cũng như ý tưởng của mình có bao gồm việc khuyết khích Việt Nam tạo thêm nhiều cơ hội cho giáo dục tư nhân tại cấp trung học và đại học để giúp cải thiện chất lượng giáo dục hay không?

Đại sứ Michalak: Tôi không nghĩ rằng chúng tôi đã đi đến mức cụ thể và chi tiết như vậy. Nhưng chúng tôi sẵn sàng xem xét những ý tưởng vừa rồi.

Khi nghĩ đến giáo dục, tôi sẽ nghĩ đến chương trình Học bổng Fulbright, chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright tại thành phố Hồ Chí Minh, quỹ Giáo dục Việt Nam của Hoa Kỳ, và tất cả các công ty Mỹ đang đến Việt Nam và theo một cách thức nào đó đang đóng góp vào nền giáo dục của Việt Nam.

Điều tôi muốn làm, và cũng là điều chúng tôi đang tiến hành, là đưa tất cả các bên liên quan trong lĩnh vực giáo dục ngồi lại với nhau và xem xem có những điểm tương đồng nào, hoặc liệu có các cách thức hợp tác với nhau hay không để tận dụng hơn nữa các nguồn lực của mình, làm được nhiều hơn nữa và mang lại nhiều hiệu quả hơn nữa với các nguồn lực đó.

Cũng có thể các ý tưởng về giáo dục tư nhân hay giáo dục trung học sẽ nảy sinh từ cuộc thảo luận này.

Một điều nữa tôi nghĩ đến khi nói về giáo dục là việc người dân không có thông tin đầy đủ về việc xin visa du học tại Mỹ. Tôi muốn thiết lập một chương trình theo đó đại diện phòng lãnh sự, cả ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, sẽ đến các trường học, trường đại học và các cơ sở giáo dục giải thích các điều kiện và điều khoản xin visa du học tại Mỹ cho các học viên.

Tôi nghĩ rằng có rất nhiều công ty hứa hẹn sẽ cấp cho bạn visa du học nếu bạn trả cho họ hàng trăm hoặc hàng nghìn đô-la. Đó không phải là cách thức đúng đắn. Trong khi chúng tôi khuyến khích tăng cường tính minh bạch, tôi cũng muốn đảm bảo rằng Hoa Kỳ tuyệt đối minh bạch trong các điều kiện cấp visa du học.

Tôi cần kiểm tra lại các con số, nhưng tôi tin rằng số visa du học được cấp đã tăng 50 phần trăm so với năm ngoái. Từ 60 đến 70 phần trăm trường hợp xin cấp visa được chấp thuận.

Đó là một số vấn đề tôi nghĩ đến về lĩnh vực giáo dục.

Câu hỏi: Ưu tiên hàng đầu của ông về nhân quyền là gì? Ông có dự định gây sức ép về vấn đề nhân quyền và tự do báo chí? Khoảng cách giữa tình hình thực tế của Việt Nam với các tiêu chuẩn về tự do báo chí và nhân quyền như thế nào? Đồng thời, tôi cho rằng người Mỹ rất quan tâm tới tiến độ chậm chễ của hoạt động tìm kiếm người Mỹ mất tích trong chiến tranh (MIA). Ông sẽ tập trung vào các vấn đề này như thế nào? Xin cảm ơn ông.

Đại sứ Michalak: Tôi sẽ trả lời câu hỏi thứ nhất trước.

Khi tôi đến chào ra mắt ngài Chủ tịch nước, ngài Thủ tướng, ngài Bộ trưởng Ngoại giao và rất nhiều đại diện cao cấp khác của chính phủ Việt Nam, họ thường chính là người đặt ra vấn đề nhân quyền trước khi tôi đề cập đến nó. Họ hiểu rằng hai nước có một số khác biệt về lĩnh vực này, và mỗi người trong số họ đều nói hai nước cần ngồi lại với nhau, thảo luận về các khác biệt và tìm hiểu xem có thể thu hẹp khoảng cách của sự khác biệt đó hay không. Do đó tôi mong muốn sẽ tiếp tục thảo luận với họ về nhân quyền để tìm hiểu khả năng thu hẹp sự khác biệt như thế nào.

Các bạn cũng biết Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vừa công bố Báo cáo thường niên về Tự do Tôn giáo Quốc tế. Tôi tin rằng báo cáo này đã chỉ rõ Việt Nam đã đạt được một số tiến bộ, cụ thể trong lĩnh vực này. Chúng tôi cũng đang làm việc về các vấn đề như tính minh bạch, nền pháp quyền và quản lý nhà nước. Do đó tôi tin rằng chúng ta có cơ hội để tiếp tục đối thoại và tìm hiểu xem liệu chúng ta có thể làm sâu sắc hơn nữa sự hiểu biết lẫn nhau về các vấn đề trên và cùng đạt được các tiến bộ hay không.

Về báo chí và tự do báo chí, tôi nghĩ các bạn hiểu rõ về tình hình thực tế ở đây hơn tôi. Tất nhiên tôi cảm thấy rằng để có thể kể cho thế giới câu chuyện về Việt Nam, để cho thế giới thấy mặt tốt của một số vấn đề mà trước đây chỉ có mặt xấu được bộc lộ, thì tự do báo chí không phải là một ý tưởng tồi.

Tôi biết rằng các cơ quan thông tấn nước ngoài không được phép mở văn phòng tại thành phố Hồ Chí Minh. Tôi cho rằng đó không phải là một ý tưởng hay. Vì hơn một nửa các sự kiện kinh tế sôi động của Việt Nam là ở thành phố Hồ Chí Minh. Nếu các hãng tin nước ngoài được mở văn phòng tại đó, tôi cho rằng họ sẽ được chuẩn bị tốt hơn để đưa tin về những hoạt động kinh tế tích cực.

Về hoạt động tìm kiếm người mất tích trong chiến tranh (MIA), đây là một nỗ lực vẫn đang tiếp diễn ở cả hai phía, Hoa Kỳ và Chính phủ Việt Nam. Trên thực tế, ngày hôm nay là ngày Tưởng nhớ Tù binh Chiến tranh/Người mất tích trong Chiến tranh (POW/MIA) tại Mỹ. Đây là ngày chúng tôi tái cam kết sẽ làm hết sức mình để thống kê số quân nhân Mỹ mất tích trong các cuộc xung đột khác nhau trong quá khứ.

Tôi cho rằng nhìn chung, chúng tôi rất hài lòng với sự hợp tác từ phía Chính phủ Việt Nam trong nỗ lực này. Tôi cũng nghĩ rằng Chính phủ Việt Nam hài lòng với những thông tin mà chung tôi cung cấp nhằm giúp họ tìm kiếm các quân nhân Việt Nam mất tích.

Nhưng bất cứ hệ thống nào đều vẫn có chỗ cho chúng ta tiếp tục cải thiện. Chúng tôi vẫn liên tục đàm phán với Chính phủ Việt Nam và đề xuất các cách thức để nâng cao hiệu quả hoạt động tìm kiếm người mất tích.  

Tìm kiếm người mất tích trong chiến tranh là một vấn đề đã được sự thống nhất của Hoa Kỳ và Việt Nam, và là trung tâm của bước khởi đầu quá trình bình thường hoá quan hệ giữa hai nước. Tôi nghĩ rằng điều đó vẫn còn đúng đến ngày hôm nay. Tôi biết điều đó.

Câu hỏi: Ông nhắc đến sự hỗ trợ về nhân quyền từ phía Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và việc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã ghi nhận những tiến bộ về tự do tôn giáo tại Việt Nam. Nhưng chỉ vài ngày sau Quốc hội Mỹ đã thông qua nghị quyết trừng phạt Việt Nam về các diễn biến nhân quyền. Vậy ông “hoà giải” hai sự kiện dường như trái ngược nhau này như thế nào? Ông sẽ giải thích như thế nào cho người dân Việt Nam khi họ thắc mắc về điều gì đang diễn ra tại Mỹ?

Đại sứ Michalak: Câu hỏi này không khó. Chính phủ Hoa Kỳ gồm ba nhánh. Đó là nhánh hành pháp, nhánh lập pháp, và nhánh tư pháp. Mỗi nhánh của chính phủ đều có quy trình ra quyết định và ban hành chính sách riêng. Báo cáo về nhân quyền do nhánh hành pháp soạn thảo, cụ thể là Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ. Báo cáo này thể hiện quan điểm của Tổng thống và của nhánh hành pháp trong Chính phủ. Nhánh lập pháp cũng có quyền nêu ý kiến và thông qua các điều luật mà họ cho rằng đó là cách thức vận hành đất nước.  

Như tôi đã nói, nhân quyền là một ưu tiên chính của mình, và chúng tôi sẽ tiếp tục làm việc với Chính phủ Việt Nam về ưu tiên đó. Tuy nhiên, chúng tôi cũng tôn trọng quá trình lập pháp trong chính phủ của mình, và sẽ chờ xem điều gì sẽ xảy ra trong quá trình đó. Tôi được biết dự luật nói trên đã được Hạ viện thông qua, và hiện đang được Thượng viện xem xét. Chúng ta sẽ được biết điều gì sẽ xảy ra.

Tôi không biết các giải thích của mình có làm cho bức tranh trở nên rõ ràng hơn hay không. Nhưng đó là cách thức mà hệ thống của chúng tôi vận hành.

Câu hỏi: Ông có thể nói cụ thể hơn về tuyên bố Mỹ sẽ rút quân khỏi Iraq?

Đại sứ Michalak: Tôi không nắm rõ tất cả các chi tiết của việc này, nhưng tôi nghĩ hiện nay đang có một cuộc tranh luận tại Hoa Kỳ về việc liệu có rút quân hay không, rút bao nhiêu quân, và thời điểm rút quân là khi nào.

Như các bạn đã biết, tướng Patreaus, tư lệnh phụ trách các lực lượng của Mỹ tại Iraq mới đây đã trở về và trình bày đánh giá của mình về tình hình tại Iraq. Tôi tin rằng Tổng thống đã nói có khả năng Mỹ sẽ một số quân trong năm tới, nhưng tất nhiên điều này sẽ phụ thuộc vào tình hình thực tế tại Iraq vào thời điểm đó.

Câu hỏi: Ông nhận xét như thế nào về Dự luật Nhân quyền Việt Nam 2007?

Đại sứ Michalak: Dự luật Nhân quyền hiện đang được xem xét tại Quốc hội và vẫn chưa được thông qua. Tôi thực sự không thể nói gì về nó vì đó là một phần của quá trình lập pháp. Quốc hội, Hạ viện và Thượng viện sẽ phải xem xét dự luật này. Chúng ta sẽ phải chờ xem họ đưa ra quyết định gì.

Câu hỏi: Trong số ba ưu tiên ông vừa nêu, ưu tiên nào là khó thực hiện nhất? Ông có nghĩ rằng đến cuối nhiệm kỳ của mình, Hoa Kỳ sẽ trở thành nhà đầu tư số một tại Việt Nam? Ông có nghĩ đến thời điểm đó báo cáo về tình hình nhân quyền và tự do tôn giáo của Việt Nam sẽ tích cực hơn không?

Đại sứ Michalak: Tôi thường không tiên đoán về tương lai. [cười]. Tất nhiên tôi hy vọng rằng báo cáo nhân quyền sẽ tích cực hơn rất nhiều nhờ vào những hành động của Chính phủ Việt Nam. Tôi cũng hy vọng rằng Việt Nam sẽ thu hút được hàng tỉ hàng tỉ đô-la đầu tư từ Hoa Kỳ. Nhưng tôi không đặc biệt quan tâm đến việc Hoa Kỳ có trở thành nhà đầu tư số một hay không. Tất cả những gì tôi muốn làm là đảm bảo rằng Việt Nam có các điều kiện tốt nhất để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Câu hỏi: Ông nói rằng Việt Nam sẽ phải đưa ra các chọn lựa và bỏ phiếu tại Hội đồng Bảo an. Vậy ông trông đợi chính xác điều gì từ Việt Nam về các vấn đề như nhân quyền ở Myanmar và hạt nhân ở Iran?

Đại sứ Michalak: Tôi nghĩ rằng quan điểm của Mỹ về các vấn đề đó, như nhân quyền ở Burma và Iran đều khá rõ ràng đối với mọi người. Nếu Việt Nam trở thành thành viên không thường trực tại Hội đồng Bảo an, chúng tôi sẽ tìm cách thuyết phục Việt Nam bỏ phiếu cùng chúng tôi tại Hội đồng Bảo an về các vấn đề này. Nhưng việc Việt Nam có bỏ phiếu hay không tất nhiên hoàn toàn tuỳ thuộc vào họ.

Như vậy, chúng tôi hy vọng rằng Việt Nam sẽ đóng vai trò tích cực và tham gia tích cực vào cuộc tranh luận về tất cả các vấn đề nói trên.

Câu hỏi: Thưa Đại sứ, trong nửa đầu năm nay, nhiều công dân Việt Nam đã bị đem ra xét xử, cáo buộc và bắt giam vì các tội hình sự theo luật pháp Việt Nam do họ chỉ trích Đảng Cộng sản cầm quyền. Câu hỏi của tôi là liệu Hoa Kỳ và ông Đại sứ có tiếp tục thảo luận với chính phủ Việt Nam về cách thức thay đổi các điều luật theo đó việc bộc lộ chính kiến không còn là hành vi bất hợp pháp hay không? Liệu ông có yêu cầu trả tự do cho những người đã bị xét xử và bắt giam hay không?

Đại sứ Michalak: Câu trả lời ngắn gọn là có, chắc chắn rồi. Chúng tôi không cho rằng ai đó sẽ bị bỏ tù chỉ vì họ nêu lên ý kiến của mình, dù ý kiến đó có lợi hoặc không có lợi cho một chính sách nào đó. Chúng tôi sẽ tiếp tục kêu gọi chính phủ trả tự do cho những tù nhân này.

Tôi nghĩ các bạn đang nhắc đến Điều 88 của Luật hình sự, theo đó rất nhiều trong số những người nói trên đã bị bắt giữ. Tôi tin rằng chúng tôi sẽ thảo luận với Chính phủ Việt Nam về cách thức thay đổi điều đó, thay đổi chính điều luật đó. Tôi cũng tin rằng thậm chí có nhiều người trong Chính phủ Việt Nam cũng cho rằng điều luật này là lỗi thời và chắc chắn cần điều chỉnh. Do đó chúng tôi hy vọng sẽ làm việc chặt chẽ với chính phủ về việc này. 

Câu hỏi: Hoa Kỳ đang rà soát hệ thống giám sát hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ nửa đầu năm nay. Ông có hy vọng hệ thống này sẽ sớm được dỡ bỏ hay không?

Đại sứ Michalak: Bạn có xem xét số liệu thương mại gần đây không?

Phóng viên: Có.

Đại sứ Michalak: Xuất khẩu dệt may từ Việt Nam sang Hoa Kỳ đã tăng 40 hay 50 phần trăm?

Phóng viên: 20 phần trăm.

Đại sứ Michalak: Tôi nghĩ mức tăng so với năm ngoái là 40 hoặc 50%. Đó là con số tôi được biết. Nhưng điều tôi muốn nói là xuất khẩu dệt may từ Việt Nam sang Hoa Kỳ đã tăng lên. Và cho đến nay vẫn chưa có vụ kiện bán phá giá nào, hoặc không có bất kỳ trở ngại về thương mại nào hết.

Không chỉ Hoa Kỳ giám sát số hàng xuất khẩu này, mà bản thân Việt Nam cũng thiết lập các cơ chế giám sát của riêng mình để theo dõi hoạt động thương mại. Tôi đã nói chuyện với những người tiêu dùng Mỹ sử dụng hàng dệt may Việt Nam và cả những nhà sản xuất hàng dệt may Mỹ. Tôi tin rằng cả họ đều không hoàn toàn hài lòng với các hệ thống giám sát nói trên. Như vậy tôi thấy chúng ta có một sự thoả hiệp tương đối tốt.

Tôi tin rằng nếu tình hình tiếp diễn như hiện nay thì sẽ không có lý do gì để lo ngại về các hệ thống giám sát của cả Việt Nam lẫn Hoa Kỳ.

Tôi sẽ trả lời thêm một câu hỏi cuối cùng.

Câu hỏi: Gần đây, Tổng thống có tuyên bố so sánh việc rút quân khỏi Iraq với việc rút quân khỏi Việt Nam trước đây.  Điều này theo công luận là không tích cực cho quan hệ tương lai của Việt Nam và Hoa Kỳ. Ông có thể cho biết quan điểm của nhánh hành pháp trong chính phủ Mỹ về tuyên bố của Tổng thống?

Đại sứ Michalak: Tôi nghĩ những lời phát biểu của Tổng thống đã tự nói lên ý nghĩa của chúng. Tôi sẽ không phân tích thêm về những phát biểu đó. Tôi nghĩ quan hệ Hoa Kỳ-Việt Nam là mối quan hệ luôn hướng về phía trước chứ không phải theo hướng ngược lại. Tôi tin rằng bằng cách đó chúng ta đã xây dựng được một mối quan hệ vững chắc trên cơ sở tin cậy và tình hữu nghị. Tôi sẽ tiếp tục xây dựng mối quan hệ đó trở nên mạnh mẽ và sâu sắc hơn trong thời gian tôi ở đây.

Tôi cho rằng đó là một kết luận tốt cho cuộc họp báo ngày hôm nay. Xin cảm ơn các bạn.

lên đầu trang ^

Công cụ:

Printer_icon.gif In trang này



 

    Trang Web này được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ quản lý.
    Chúng tôi không chịu trách nhiệm về nội dung và tính bảo mật thông tin của các trang Web khác được liên kết đến.


Đại sứ quán Hoa Kỳ