Đại sứ Michael W. Michalak
Đại sứ Michael Michalak Phát biểu trước sinh viên và giảng viên Học viện Ngoại giao Việt Nam
26/3/2008
Đại sứ Michalak: Tôi muốn cuộc gặp này diễn ra thân mật vì tôi thật ra không phải là người thích sự trịnh trọng. Tôi thấy thoải mái hơn khi ngồi đây phát biểu thay vì đứng lên và đọc một bài diễn văn quan trọng. Không chỉ có thế, tôi sẽ bỏ áo vét ra vì tôi đã ở đây 6 tháng nhưng tôi vẫn chưa quen với thời tiết nóng ấm ở Việt Nam. [cười]. Vì vậy, nếu các bạn muốn thoải mái, dễ chịu, các bạn cứ làm theo ý mình.
Trước hết tôi muốn cảm ơn các bạn đã mời tôi đến và nói chuyện với các bạn. Đậy thực sự là một phần việc vui vẻ trong công việc của tôi. Tôi thấy rằng tôi dành rất nhiều thời gian để nói chuyện với những người như là ngài Chủ tịch nước, Thủ tướng và một số Bộ trưởng, nhưng nói thật với các bạn, chính các bạn là chủ nhân tương lai thật sự của nước Việt Nam. Con đường Việt Nam đi trong tương lai phụ thuộc nhiều vào những gì các bạn học, những ý tưởng, khái niệm, những điều kiện và những người mà các bạn tiếp xúc. Vì vậy, tôi hy vọng rằng một trong những điều chúng ta sắp làm tại đây là cố gắng hiểu nhau tốt hơn một chút, và chốc lát nữa sau khi tôi đọc xong bài phát biểu chính thức, tôi sẽ sẵn lòng trả lời các bạn về bất cứ điều gì các bạn muốn tìm hiểu.
Tôi sẽ nói với các bạn ngay rằng màu mà tôi ưa thích là màu xanh da trời, vậy đừng hỏi tôi câu hỏi đó nhé. Còn bất cứ thứ gì khác đều được cả.
Tôi cho rằng điều đầu tiên tôi muốn làm đó là chúc mừng các bạn, và nhất là Phó giám đốc Thao, vì các bạn không còn là Viện Quan hệ Quốc tế nữa, bây giờ các bạn là một học viện. Tôi nghĩ “Chà, quan trọng đấy chứ, như thế có nghĩa là gì nhỉ?” [cười]. Nhưng quả thực điều đó có nghĩa là các bạn không chỉ có thêm tiền để thực hiện các dự án lớn hơn, mà còn có nghĩa là các bạn được tự chủ nhiều hơn, độc lập nhiều hơn và có nhiều khả năng hơn để tự quyết các phương hướng học thuật của mình. Tôi nghĩ điều đó thực sự tuyệt vời, vì vậy, tôi chúc mừng các bạn về điều đó vì nó cho thấy rõ nhà nước chú trọng thế nào đến học viện này cũng như đến phẩm chất và giá trị của các sinh viên của học viện.
Tôi biết điều đó nghe có vẻ buồn cười. Tôi nhớ khi tôi từng ngồi dự các cuộc gặp như thế này và người ta đến và nói “Chà, các bạn thật là thông minh, thật thú vị được gặp các bạn tại đây. Tất cả các bạn đều là những sinh viên thực sự tuyệt vời” và đại loại như thế. Quả thực, các bạn đúng như thế. Tôi biết cái đó nghe thật buồn cười, và con gái tôi có lẽ sẽ giết tôi mất vì tôi nói thế, nhưng tôi thực sự nghĩ rằng các bạn nằm trong số những người tốt nhất và sáng láng nhất Việt Nam, và tôi hy vọng rằng khi các bạn đi tới trong sự nghiệp của mình thì chúng ta vẫn giữ liên lạc với nhau. Tôi muốn nhấn mạnh rằng khi các bạn trở thành chủ tịch của các công ty hoặc ở các cương vị khác, có lẽ các bạn có thể tuyển dụng tôi và như thế tôi cũng có thể kiếm được nhiều tiền. [cười]
Chuyến thăm của tôi đến đây diễn ra vào một thời điểm thật tuyệt. Tôi đã ở Việt Nam kể từ ngày 20/8 năm ngoái, như vậy là đã được khoảng 6 tháng. Tôi đã học tiếng Việt trong 4 tháng và tôi nói tiếng Việt vẫn còn kém, vì vậy chúng ta đừng kiểm tra trình độ tiếng Việt của tôi hôm nay nhé. Tôi có thể nói tiếng Nhật và tiếng Trung Quốc, tiếng Trung Quốc cũng có dấu. Tiếng Trung Quốc có 4 dấu còn tiếng Việt có 6 dấu hoặc hơn thế, tuỳ theo cách bạn nói. Nhưng tôi thấy khi nói tiếng Trung, nếu tôi không nói đúng dấu, hầu hết những người tôi nói chuyện cùng vẫn hiểu đại khái những điều tôi nói. Còn khi tôi nói tiếng Việt, nếu nhầm dấu, tôi sẽ nói ra một điều hoàn toàn khác và thường là làm người ta phát ngượng. [cười]. Đó là lý do tại sao tôi sẽ không cố gắng nói một chút tiếng Việt nào ngày hôm nay.
Chúng ta hãy cùng nói một chút về quan hệ Mỹ-Việt nhé. Tôi sẽ nói về những vấn đề mà tôi cũng đã nói với Chủ tịch nước Triết và Thủ tướng Dũng và các quan chức cao cấp khác của chính phủ Việt Nam. Tôi có 3 ưu tiên chính mà tôi sẽ dành nhiều nỗ lực trong nhiệm kỳ đại sứ. Một trong số đó là nhân quyền, một ưu tiên khác là sự phát triển kinh tế của Việt Nam bao gồm các vấn đề thương mại, và ưu tiên còn lại là giáo dục.
Trong 6, 7 tháng ở đây, tôi đã thấy những ví dụ về sự mở rộng và phát triển sâu sắc hơn của quan hệ Mỹ-Việt và tôi hy vọng điều đó sẽ tiếp tục trong thời gian tôi ở đây, và tôi sẽ ở đây trong 3 năm. Đó là nhiệm kỳ của tôi.
Chúng ta đã có Bộ trưởng Thương mại Carlos Gutierrez đến thăm hồi năm ngoái và mang theo một phái đoàn thương mại gồm 22 công ty để họ nhìn tận mắt câu chuyện tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam. Đó là một chuyến thăm thành công lớn.
Rất gần đây, chúng ta có chuyên thăm của Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Christopher Hill. Ông ấy là một trong những người sếp của tôi. Cũng như các bạn, tôi có nhiều sếp nhưng ông ấy là một sếp quan trọng. Ông ấy đến để nói về một loạt các vấn đề trong mối quan hệ song phương của chúng ta. Chúng tôi đã trao đổi về kinh tế và thương mại, về vị trí của Việt Nam trong Hội đồng Bảo an LHQ, về nhân quyền, về giáo dục, về giao lưu văn hoá, chúng tôi đã trao đổi về nhiều vấn đề.
Gần đây nhất, tôi cho là ông ấy mới rời đi ngày hôm nay, chúng ta có Dan Price đến đây. Ông Dan Price là Cố vấn của Tổng thống về Kinh tế Đối ngoại. Ông Price có một điểm đặc biệt là ông đã từng làm việc về Hiệp định Thương mại Song phương (BTA), hiệp định này về nhiều khía cạnh đã là sự khởi đầu của mối quan hệ kinh tế và thương mại giữa chúng tôi với Việt Nam. Đây là chuyến thăm trở lại Việt Nam để trao đổi với các quan chức chính phủ về cách thức đưa mối quan hệ kinh tế lên tầm cao mới.
Tôi đề cập đến tất cả những điều đó để nói rằng chúng ta đã có một số chuyến thăm cao cấp nổi bật giữa Mỹ và Việt Nam và các chuyến thăm cao cấp là một trong số những cách thức tốt nhất để chúng ta đạt được tiến bộ. Mọi bộ máy quan liêu và mọi đất nước trên thế giới đều di chuyển chậm chạp, nhưng khi một vị khách cao cấp đến thăm, các bộ máy quan liêu phải sản xuất ra cái mà chúng tôi gọi là “những thứ có ý nghĩa”. Họ phải tạo ra các văn kiện để ký kết, họ phải tạo ra các tuyên bố báo chí, họ phải giải quyết các vấn đề. Đó là những gì tạo ra một mối quan hệ tốt – gặp gỡ nhau, trao đổi về các vấn đề, giải quyết chúng – như ông Thao đã nói – trên cơ sở tôn trọng chủ quyền và chính phủ của nhau.
Tôi xin nói một chút về quan hệ kinh tế vì đó là một trong những điều lớn nhất đang diễn ra. Như tôi đã đề cập, tôi nghĩ mối quan hệ kinh tế của chúng ta đã khởi đầu với việc hoàn tất Hiệp định Thương mại Song phương, hiệp định này có hiệu lực năm 2001. Chẳng bao lâu sau, chúng ta tiến hành đàm phán về việc Việt Nam xin gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO. Đó là một tiến trình dài và mất nhiều thời gian vì Việt Nam không chỉ phải đàm phán với Mỹ mà còn với 149 thành viên khác của WTO.
Đối với Mỹ, chúng tôi có một trở ngại riêng phải vượt qua và đó là phải thông qua quy chế quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) với Việt Nam. Chúng tôi đã làm việc tích cực về điều đó. Chúng tôi đã hy vọng có thể đạt được nó vào tháng 11/2006 nhân dịp APEC, nhưng thật đáng tiếc, do cơ chế chính quyền của chúng tôi mà chúng tôi đã gặp 1 số vấn đề chính trị ở Quốc hội nên tháng 12/2006 mới xong. Nhưng cuối cùng thì nó cũng được thông qua. Vì vậy, khi Việt Nam gia nhập WTO vào tháng 1/2007 và trở thành thành viên thứ 150 của WTO, Mỹ và Việt Nam đã có thể cùng trao đổi tất cả những lợi ích mà chúng ta đã đàm phán rất tích cực với nhau.
Tôi nghĩ sự phát triển quan hệ kinh-tế thương mại giữa Mỹ và Việt Nam về nhiều mặt đã đi song song với tiến trình gia tăng phát triển của Việt Nam. Đổi Mới đã bắt đầu khoảng năm 1986 và đã có những bước tiến tuyệt vời, nhất là trong nông nghiệp và nông thôn trong những năm đầu. Nhưng phải đến đầu thế kỷ này quan hệ thương mại với phần còn lại của thế giới và quan hệ trong lĩnh vực dịch vụ và sản xuất với phần còn lại của thế giới mới thật sự cất cánh. Chính phủ trong thời gian đó quyết định không chỉ tiến hành đổi mới về kinh tế trong nước mà còn quyết định đưa Việt Nam hội nhập toàn diện hơn vào cộng đồng kinh tế và chính trị toàn cầu. Và tôi nghĩ sự hội nhập đó tiếp diễn cho đến ngày hôm nay và đang diễn tiến với một nhịp độ rất nhanh và rất tốt.
Về thương mại song phương của chúng ta, tôi không cho rằng tôi sẽ làm các bạn phát ngán với các con số thống kê. Chúng ta chỉ cần nói rằng Mỹ là đối tác thương mại lớn thứ 3 của Việt Nam, gần như là đối tác lớn thứ 2 tuỳ theo cách sử dụng số liệu. Nhưng có hai thực tế quan trọng về bị trí thứ 3 hoặc thứ 2 của chúng tôi. Một là Việt Nam bán sang Mỹ lượng hàng hoá và dịch vụ nhiều gấp 4 lần lượng hàng hoá và dịch vụ Mỹ bán sang Việt Nam. Thực tế thứ 2 là Việt Nam ngày nay, vì Việt Nam ngày càng giàu có hơn, tầng lớp trung lưu ngày càng đông lên, đang mua ngày càng nhiều từ nước ngoài và hàng xuất khẩu của chúng tôi sang Việt Nam đã tăng 72% năm ngoái. Đó là một câu chuyện rất tốt và giúp chúng tôi về mặt chính trị cũng như về mặt kinh tế. Nếu các bạn cần nhiều thông tin hơn về lĩnh vực đó, chúng ta sẽ trao đổi thêm trong phần hỏi đáp.
Trong mọi điều tôi nói, tôi nghĩ cần lưu ý rằng luôn luôn có câu chuyện tốt và có câu chuyện không được tốt cho lắm. Câu chuyện tốt về mặt kinh tế là mối quan hệ của chúng ta đang phát triển mạnh, các công ty Mỹ muốn đến Việt Nam, muốn đầu tư ở Việt Nam, họ thấy Việt Nam như là một trung tâm trung chuyển tiềm năng để xuất khẩu từ Việt Nam đến phần còn lại của Đông Nam Á và thậm chí tới Đông Bắc Á. Quả thực có một người nói với tôi rằng Việt Nam thật độc đáo vì một mặt Việt Nam ở miền cực tây của Đông Bắc Á. Các bạn cũng có thể nói rằng Việt Nam ở miền cực đông của Đông Nam Á. Vậy là các bạn ở chính giữa. Các bạn có cơ hội đi cả 2 hướng. Các bạn chịu nhiều ảnh hưởng của Trung Quốc trong lịch sử -- có một số ảnh hưởng không tốt, nhưng lẽ đời là thế, nhưng các bạn cũng đậm chất Đông Nam Á trong lịch sử của các bạn. Vì vậy, tôi nghĩ là Việt Nam có một số phẩm chất riêng làm cho Việt Nam rất hấp dẫn các nhà đầu tư.
Mặt khác, môi trường đầu tư có thể được cải thiện về nhiều mặt, chủ yếu thông qua cải thiện khung pháp lý. Tôi biết trong năm 2008 trong Quốc hội sẽ có một chương trình lớn về cải cách bộ luật hình sự và luật thương mại và một số luật và các quy định khác. Đây chắc chắn là điều chúng tôi ủng hộ vì nó sẽ đi một quãng đường dài tiến tới cải thiện môi trường đầu tư ở Việt Nam.
Một trong những vật cản lớn trong đầu tư hoặc trong phát triển kinh tế của Việt Nam là giáo dục. Tôi sẽ nói riêng về điều đó khi tôi chuyển sang vấn đề giáo dục, nhưng nhiều nhà quan sát – cả người Việt Nam cũng như người nước ngoài – đều cho rằng giáo dục có lẽ là vật cản lớn nhất mà Việt Nam ngày nay đang đối mặt.
Còn có một số vấn đề khác. Có vấn đề về quyền sở hữu trí tuệ. Có vấn đề về việc ra quyết định đối với các dự án đầu tư. Có vấn đề về quyền phân phối và quyền thương mại. Có rất nhiều vấn đề mà bất cứ 2 nước nào khác trên thế giới cũng gặp phải. Mỹ và Việt Nam đã lập ra một tiến trình gọi là TIFA. Đó là Hiệp định khung về Thương mại và Đầu tư. Đây là một hiệp định giữa 2 nước chúng ta theo đó chúng ta đồng ý gặp nhau định kỳ theo quý, 4 lần 1 năm, để trao đổi về nhiều vấn đề kinh tế thương mại giữa hai nước chúng ta. Đây là một tiến trình rất hữu ích. Chúng ta vừa hoàn tất vòng đàm thoại TIFA thứ 2 ở Hà Nội hồi tuần trước và các cuộc gặp diễn ra tốt đẹp. Chúng ta đã có thế giải quyết một số vấn đề và đạt tiến bộ trong một số vấn đề khác. Chúng ta cần tiếp tục đối thoại nhưng đây là một tiến trình rất có ích.
Vậy tin tốt lành là chúng ta có một mối quan hệ kinh tế-thương mại tuyệt vời đang phát triển ngày càng sâu rộng hơn.
Điều tiếp theo tôi muốn nói đến là giáo dục. Giáo dục là lĩnh vực tôi quan tâm đến rất nhiều trong suốt cuộc đời tôi, chủ yếu là vì tôi cảm thấy như tôi đang đi học suốt cả đời. Tôi học đại học ở một trường gần Detroit, Michigan, và tôi có bằng đại học ngành vật lý, cụ thể là vật lý quang học. Rồi tôi làm việc cho NASA, Cơ quan Vũ trụ của Mỹ. Tôi tham gia thiết kế các thiết bị kiểm tra vệ tinh. Tôi có tham gia một số việc trong dự án phóng tàu Apollo lên mặt trăng. Tôi tham gia một chút vào việc thiết kế một máy tính quang học không dùng điện mà dùng các tia sáng. Khi ở NASA, tôi đã học thêm bằng Master cũng về vật lý.
Rồi tôi chuyển sang ngành ngoại giao. Tôi đã vào làm ở Bộ Ngoại giao và điều đầu tiên người ta phải làm khi vào ngành ngoại giao là đi học. Vậy là tôi là đi học và học tiếng Pháp. Sau khi tôi học tiếng Pháp, người ta cử tôi đi Australia, vậy là tôi thật ra chả bao giờ nói tiếng Pháp cả và tôi không còn có thể nói được tí tiếng Pháp nào nữa. [cười]. Nhưng rồi trong sự nghiệp của tôi người ta cũng cử tôi đi học ở Harvard và tôi đã học ở Trường John F. Kennedy thuộc Harvard và lấy bằng Thạc sỹ về quản trị công. Vậy là tôi đã đi học suốt cả cuộc đời. Và thậm chí trước khi tôi đến Việt Nam tôi đã nói chuyện với một số người và được biết một trong những thách thức quan trọng nhất đối với Việt Nam là củng cố hạ tầng cơ sở giáo dục của Việt Nam.
Vì vậy, khi tôi ra trước Thượng viện để tham gia các phiên điều trần về phê chuẩn vị trí của tôi – vì mọi đại sứ đều phải được Thượng viện Mỹ phê chuẩn trước khi họ tới nơi công tác – tôi đã nói với các thượng nghị sỹ Mỹ là một trong những mục tiêu của tôi khi đến Việt Nam là tăng gấp đôi số sinh viên từ Việt Nam sang Mỹ học tập. Và tôi cho rằng nhìn vào con số visa mà chúng tôi đã cấp, số visa du học đã tăng mạnh, như vậy chúng tôi đang có tiến bộ tốt theo hướng đó.
Tôi tin rằng hệ thống giáo dục của Mỹ nằm trong số tốt nhất, nếu không muốn nói đó chính là hệ thống tốt nhất thế giới. Nước Mỹ có khoảng 4 nghìn cơ sở đào tạo đại học khác nhau. Như vậy trên thực tế nước Mỹ có trường học cho tất cả mọi người.
Giáo dục là một trong những lĩnh vực quan trọng nhất mà chúng tôi có thể tác động, cá nhân tôi có thể tác động trong nhiệm kỳ của mình tại Việt Nam.
Chúng tôi đang làm việc đó theo nhiều cách. Trước hết, chúng tôi cử các viên chức lãnh sự đến các trường phổ thông, trường đại học và các cơ sở đào tạo để nói chuyện về quy trình xin cấp visa du học. Mọi người đều rất e ngại khi xin visa đi du học. Họ thường nghĩ là ồ, bạn sẽ bị từ chối thôi, sẽ rất kinh khủng đấy, bạn sẽ chẳng bao giờ được sang Mỹ đâu hay đại loại như vậy. Nhưng không phải như thế.
Đến phòng lãnh sự xin visa du học chỉ đơn giản là đến nói chuyện với một viên chức lãnh sự. Ở Việt Nam hiện nay, và trên thực tế ở nhiều nước khác cũng vậy, có một số công ty như thế này. Họ nói với bạn: “Bạn muốn đi Mỹ à? Cứ đưa cho tôi 2.500 đô-la, tôi sẽ làm giả cho bạn một bộ hồ sơ hoàn chỉnh. Bạn chỉ cần đến phỏng vấn. Nhân viên lãnh sự sẽ chẳng biết gì đâu. Bạn sẽ có visa ngay thôi”.
Điều này hoàn toàn không đúng và các bạn đừng tin. Các viên chức lãnh sự của chúng tôi được đào tạo để phát hiện hồ sơ giả mạo. Rất hiếm khi hồ sơ giả mạo lọt qua mắt họ. Nhưng tôi cũng muốn nói là rất hiếm khi bạn cần đến hồ sơ giả. Để xin được visa du học, có ba yếu tố cần thiết như sau. Thứ nhất, bạn phải thực sự có mong muốn đến Mỹ du học. Bạn không đến Mỹ chỉ để chơi bời hay gặp gỡ bạn bè. Bạn phải sẵn sàng đến Mỹ và học tập chăm chỉ như khi còn ở Việt Nam.
Thứ hai, bạn cần cho chúng tôi thấy kế hoạch thanh toán tài chính cho việc học. Đó có thể là bất cứ kế hoạch nào. Vay tín dụng sinh viên, xin học bổng, được công ty tài trợ, dùng tiền tiết kiệm để đi học, v.v. Điều quan trọng là bạn cần có một kế hoạch như vậy. Nhờ đó chúng tôi có thể đảm bảo rằng bạn có đủ tài chính khi đến Mỹ.
Thứ ba, bạn cần thuyết phục viên chức lãnh sự rằng bạn có dự định sẽ quay trở về Việt Nam. Theo luật thị thực của Mỹ, mỗi viên chức lãnh sự khi xem xét hồ sơ đều phải giả định rằng đương đơn có ý định ở lại hoặc nhập cư bất hợp pháp vào Hoa Kỳ.
Giờ đây hầu hết mọi người đều không muốn sinh sống bất hợp pháp ở Mỹ. Thăm quan hay du học ư? Được thôi. Nhưng sang Mỹ để sinh sống? Không đâu. Hầu hết mọi người đều muốn quay trở về. Do đó bạn cần nói với viên chức lãnh sự rằng không, tôi sẽ không sống ở Mỹ; tôi đến Mỹ để học thôi và sẽ quay về Việt Nam.
Nếu đảm bảo được ba yếu tố trên, có thể nói bạn có nhiều cơ hội được cấp visa du học. Và đó là một trong những việc chúng tôi đang cố gắng thực hiện trong lĩnh vực hợp tác giáo dục. Chúng tôi đang làm việc với một số công ty và trường đại học của Mỹ để cố gắng công bố rộng rãi các chương trình học bổng, các chương trình hỗ trợ tài chính và các chương trình khác nhằm giúp sinh viên đến Mỹ du học dễ dàng hơn.
Cuối cùng, về phía chính phủ Mỹ, chúng tôi đang nỗ lực hết sức để mở rộng chương trình Fulbright, chương trình giảng dạy tiếng Anh và các chương trình khác nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên Việt Nam sang du học ở Mỹ.
Tôi nghĩ đó là một câu chuyện hay về giáo dục. Tôi cũng cho rằng còn có rất nhiều việc cần làm trên bình diện giáo dục Việt Nam và chúng tôi đang thực hiện chúng thông qua các dự án hợp tác hoặc dự án về cải cách quy định. Và đây sẽ là một câu chuyện hay khác cho chúng ta.
Điều thứ ba tôi muốn đề cập là vấn đề nhân quyền. Khi Chủ tịch Triết đến Washington năm ngoái, Tổng thống Bush đã nói: “Để mối quan hệ của chúng ta phát triển sâu sắc hơn, những người bạn của chúng ta cần có cam kết mạnh mẽ về nhân quyền, tự do nhân quyền và dân chủ”. Điều đó có nghĩa gì trong bối cảnh Việt Nam? Có rất nhiều vấn đề tôi rất rất thường xuyên đề cập khi đối thoại với chính phủ Việt Nam. Một trong những vấn đề gai góc nhất là việc tự do bày tỏ ý kiến. Chính phủ Việt Nam có một số điều luật mà chúng tôi không đồng tình và muốn được thấy chúng thay đổi. Những điều luật này về cơ bản cho phép chính phủ Việt Nam bắt giữ bất cứ người nào chính phủ cho rằng có hành vi làm tổn hại lợi ích của quốc gia. Tổn hại lợi ích quốc gia là một khái niệm rất rộng. Chúng tôi cho rằng khái niệm này cần được thu hẹp lại một chút.
Một trong những nguyên tắc chính trong chính sách của Mỹ là chúng tôi tin rằng mỗi cá nhân cần có quyền bày tỏ quan điểm chính trị của mình một cách tự do. Chúng tôi tin rằng không ai được phép lật đổ chính quyền ở bất cứ quốc gia nào bằng bạo lực. Thực tế gần đây Hoa Kỳ đã khởi tố và kết án ít nhất một người Mỹ gốc Việt về tội danh âm mưu đánh bom đại sứ quán Việt Nam tại Thái Lan. Ngoài ra, ít nhất hai hoặc ba cá nhân khác đang bị FBI điều tra do nghi ngờ có các hành động khủng bố chống lại chính phủ Việt Nam. Họ đều là công dân Mỹ. Như vậy, chúng tôi không ủng hộ bất kì hành động lật đổ chính quyền bằng bạo lực nào. Chúng tôi sẽ tiến hành các bước khởi tố khi có đủ bằng chứng để khởi tố. Nhưng chúng tôi cho rằng không có vấn đề gì khi nói chuyện về dân chủ, về tự do.
Chúng tôi muốn thấy có bầu cử tự do và công khai. Chúng tôi muốn thấy người dân tham gia một cách tự do, cởi mở theo nhiều cách thức khác nhau vào công việc của chính phủ.
Một mảng khác trong đối thoại của chúng ta về nhân quyền là vấn đề tự do tôn giáo. Tôi cho rằng trên phương diện này chúng ta cũng có một câu chuyện hay. Khoảng ba năm trước, chính phủ Việt Nam ban hành hai luật về tự do tôn giáo. Chúng đã tỏ ra rất hiệu quả trong việc cho phép người dân trên toàn lãnh thổ Việt Nam được tự do thực hành tôn giáo, lập các cơ sở đào tạo tôn giáo, đào tạo giáo sĩ, tham gia các hoạt động khác. Gần đây, như các bạn biết, nhiều giáo xứ đã biểu tình về vấn đề quyền sử dụng đất. Đây không thực sự là vấn đề tôn giáo, nhưng trong quá khứ thì những việc như vậy không bao giờ có thể xảy ra. Như vậy, chúng tôi thấy có những tiến bộ tích cực về tự do tôn giáo và trên thực tế, Hoa Kỳ đã đưa Việt Nam ra khỏi danh sách các nước cần đặc biệt quan tâm về vấn đề tự do tôn giáo.
Một trong những lĩnh vực khác mà chúng tôi quan tâm là tự do thông tin. Có một số đài phát thanh bị chính phủ Việt Nam làm nhiễu và chúng tôi đang cố gắng giải quyết việc này. Chúng tôi tin rằng internet cần được tự do hoàn toàn, không bị chặn và bạn có thể truy cập bất kỳ địa chỉ nào bạn muốn. Bạn cũng có thể viết trên các diễn đàn, trên blog hay trong thư điện tử bất cứ điều gì bạn muốn, với điều kiện chúng không phạm pháp hoặc liên quan đến bạo lực. Do đó chúng tôi đã trao đổi với chính phủ Việt Nam về việc này vì vẫn còn một số hạn chế.
Một trong điều làm tôi vô cùng ngạc nhiên vì sự không cần thiết của nó là sự hạn chế đối với phóng viên nước ngoài. Các bạn biết là ở Hà Nội có đại diện của một số hãng tin nước ngoài như The Wall Street, Reuters, Associated Press, AFP, v.v. Thường họ phải bay vào thành phố Hồ Chí Minh để đưa tin. Họ không được phép mở văn phòng tại thành phố Hồ Chí Minh. Tại sao như vậy? Vấn đề ở đây là gì? Tôi không thể nghĩ ra bất kỳ lý do nào cho việc họ không được phép mở văn phòng tại thành phố Hồ Chí Minh.
Một môi trường báo chí tự do và cởi mở sẽ có ích cho Việt Nam. Rất nhiều lần chúng tôi nhận được thông tin từ Mỹ mà những thông tin này, thẳng thắn mà nói, dựa trên những nguồn không xác thực. Chúng tôi không có ví dụ ngược lại. Chúng tôi không có người đi đến đó để có thể trả lời rằng: không, chuyện đó không có thực. Khi kiểm chứng thông tin và thấy rằng một số thông tin không xác thực, chúng tôi thông báo với Washington về điều đó. Nhưng trong một môi trường báo chí tự do hơn, việc các hãng tin nước ngoài được mở văn phòng tại thành phố Hồ Chí Minh sẽ làm tăng số lượng các thông tin tích cực được đưa ra thế giới bên ngoài.
Chúng tôi đang làm việc trên nhiều lĩnh vực trong mảng nhân quyền. Tôi cho rằng một số lĩnh vực đã có tiến bộ. Chúng tôi có chương trình đối thoại nhân quyền hàng năm với chính phủ Việt Nam. Lần đối thoại kế tiếp sẽ diễn ra vào tháng Năm này, qua đó hai bên sẽ cùng xem xét nhiều vấn đề khác nhau. Tôi nghĩ các bạn cần biết rằng không chỉ nước Mỹ mà rất nhiều quốc gia khác trên thế giới đều tin rằng vấn đề nhân quyền là rất quan trọng. Trên thực tế Việt Nam cũng tin điều đó. Có điều chúng ta có các khái niệm và nguyên tắc khác nhau về vấn đề này. Do đó, chúng ta cần tiếp tục đối thoại để đạt được sự hiểu biết lẫn nhau.
Tuy nhiên, tôi không muốn tạo cho các bạn ấn tượng rằng quan hệ Mỹ-Việt chỉ bó hẹp trong phạm vi nhân quyền. Không phải thế. Quan hệ Mỹ-Việt diễn ra trên lĩnh vực nhân quyền, nhưng cũng đồng thời diễn ra trên bình diện phát triển kinh tế và thương mại. Đó còn là quan hệ hợp tác trong giáo dục và hợp tác trong bối cảnh quốc tế. Năm nay, Việt Nam vừa trở thành thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc. Đây là cơ quan quyền lực nhất của LHQ và có lẽ là một trong số ít cơ quan của LHQ làm việc thực sự hiệu quả. Không phải lúc nào chúng ta cũng bỏ phiếu thống nhất với nhau về một vấn đề nào đó. Nhưng đôi khi chúng ta cũng nhất trí với nhau. Lần gần đây nhất là chúng ta cùng bỏ phiếu về việc tăng trừng phạt đối với Iran nhằm ngăn nước này tiếp tục các chương trình phát triển vũ khí hạt nhân và thiết bị phóng vũ khí.
Điều tôi muốn nhấn mạnh với các bạn là Mỹ và Việt Nam có mối quan hệ rộng khắp và đa dạng. Mối quan hệ đó dàn trải trên rất nhiều lĩnh vực, mà phần lớn trong số đó chúng ta có sự nhất trí. Nhưng cũng có những vấn đề chúng ta chưa nhất trí. Nhưng thậm chí trong những vấn đề đó, chúng ta cũng có cách để giải quyết. Tôi cho rằng bạn cần biết điều này vì có thể một ngày nào đó, các bạn cũng sẽ phải giải quyết chúng giống như tôi đang làm hiện nay.
Tôi muốn nói một điều cuối. Có lẽ các bạn cũng biết là ở Mỹ đang diễn ra bầu cử tổng thống. Phải nói rằng đây là một trong những kỳ bầu cử thú vị nhất mà tôi từng thấy ở nước Mỹ.
Đảng Cộng hoà đã chọn được ứng cử viên. Đó là Thượng nghị sỹ McCain. Nhưng đảng Dân chủ vẫn còn đang lựa chọn. Điều thú vị là dù ứng cử viên của đảng Dân chủ có là ai đi nữa thì đó cũng là người chưa từng tranh cử tổng thống bao giờ. Hoặc là một phụ nữ, hoặc là một người Mỹ gốc Phi. Tôi rất ngạc nhiên và cũng rất tự hào trước việc nước Mỹ đã có sự phát triển mà nhờ đó điều này đã trở thành hiện thực mà gặp phải những cuộc tranh luận hay biểu tình gây chia rẽ về vấn đề sắc tộc và giới tính như đã từng có trong quá khứ.
Tôi muốn các bạn biết là Đại sứ quán Mỹ, cụ thể là Phòng Văn hoá-Thông tin sẽ theo dõi rất sát sao cuộc bầu cử này. Tôi và Tiến sỹ Thao đã nói chuyện về việc tổ chức các buổi thảo luận về bầu cử Mỹ cho các bạn, nếu các bạn quan tâm. Chúng ta sẽ có thể nói chuyện cụ thể hơn về tất cả các vấn đề trong bầu cử, các nhân vật và sự tham gia của truyền thông. Sẽ có rất nhiều điều thú vị cho chúng ta chia sẻ.
Đây là một khoảng thời gian rất thú vị đối với tôi tại Việt Nam. Hy vọng là bài nói của tôi không quá dài và làm các bạn buồn ngủ. Bây giờ tôi sẽ giữ im lặng và lắng nghe các bạn. Xin cảm ơn.
[Vỗ tay]
Đại sứ Michael Michalak
Câu hỏi và trả lời
Học viện Ngoại giao Việt Nam
26 tháng 3 năm 2008
TS. Thao: Cảm ơn ngài Đại sứ Michalak. Chúng ta vừa được nghe phần giới thiệu về bản thân, về các nghiên cứu của ngài Đại sứ và con đường tới Việt Nam của ngài Đại sứ. Chúng ta cũng được nghe về các ưu tiên ngài đặt ra trong tư cách Đại sứ Mỹ tại Việt Nam – đó là về giáo dục, phát triển kinh tế và nhân quyền.
Và cuối cùng ngài, Đại sứ còn đề nghị một hội thảo rất thú vị về chủ đề bầu cử ở Hoa Kỳ. Bây giờ, xin mời các em đặt câu hỏi.
Câu hỏi: Xin cảm ơn về bài diễn văn rất hay và thú vị của ngài. Tôi xin có một câu hỏi về vấn đề nhân quyền.
Tôi tin rằng, và tôi cũng nghĩ là mọi người đều có lòng tin như tôi rằng mỗi đất nước đều có những quyền tối cao để thực thi quyền lực đối với công dân của mình, thông qua các đạo luật và các quy định. Vậy tôi không hiểu tại sao nước Mỹ lại quan tâm đến các đạo luật chi phối vấn đề nhân quyền ở Việt Nam như vậy? Tại sao các ngài không chỉ đi lo về đất nước của mình, mà lại phải lo lắng về các vấn đề của các nước khác?
Đại sứ Michalak: Rất hay, cảm ơn cô. Hình như lại có một cô gái đến từ miền nam California (cười).
Cô hoàn toàn đúng. Tất nhiên là mỗi nước đều được toàn quyền có luật pháp và các qui định của riêng mình, nhưng điều đó không ngăn chặn người dân của các nước khác nhận xét hoặc bày tỏ quan điểm của họ đối với những luật lệ này. Hàng năm chúng tôi vẫn làm điều này. Chúng tôi có một báo cáo nhân quyền, và Liên hiệp quốc cũng như nhiều tổ chức quốc tế khác cũng làm như vậy. Cho nên Mỹ không phải là nước duy nhất có những nhận xét này.
Về những gì chúng tôi làm trong nội bộ nước Mỹ, cô cũng hoàn toàn đúng. Chúng tôi luôn tranh cãi về các điều luật của mình. Ở Hoa Kỳ, chúng tôi có cả một ngành nghề hoạt động mà hễ khi bạn có bất đồng quan điểm với một đạo luật hiện hành, nó sẽ giúp bạn thực hiện các bưới đi để thay đổi luật lệ đó. Muốn thay đổi luật lệ đó, bạn sẽ bắt đầu lên tiếng. Bạn sẽ bắt đầu nói với những người khác trong địa phận của mình, hoặc trong đất nước của mình, và bạn hãy cố gắng thuyết phục để họ đồng ý với quan điểm của mình. Nếu có đủ người tin rằng ý kiến của bạn tốt hơn so với luật hiện hành, Quốc hội có thể sẽ thay đổi luật lệ đó.
Thứ hai, nếu bạn tin rằng có một bộ luật nào đó không công bằng, hoặc không phù hợp với Hiến pháp của Hoa Kỳ, bạn có thể tới Tòa án Tối cao và biện hộ trước Tòa về lý do tại sao bạn thấy luật đó là vi hiến. Khi đó, Tòa án Tối cao sẽ phán quyết là có hay không, tức là luật đó có vi phạm Hiến pháp hay không.
Tất cả những thủ tục đó đều công khai. Ai cũng có cơ hội được nghe thấy. Ai cũng có cơ hội được bình luận. Chúng tôi có một Đảng Cộng sản ở Mỹ. Trong mỗi lần bầu cử, Đảng Cộng sản đều cử một đại biểu để tranh cử Tổng thống, và họ ra ngoài gặp gỡ và họ nói rằng họ nghĩ chủ nghĩa Mác-Lênin tốt hơn chủ nghĩa tư bản rất nhiều, và họ tin rằng tất cả dân Mỹ nên theo chủ nghĩa Mác-Lênin. Không sao cả, chúng tôi vẫn để họ nói.
Quá trình bầu cử cho thấy không có nhiều người đồng tình với ý kiến đó và không có nhiều người muốn theo chủ nghĩa Mác-Lênin. Tôi tin rằng ở Việt Nam, nếu ai đó ra đường và nói: “Này, tôi không thích hình thức chính phủ hiện tại. Tôi nghĩ nó nên trở thành X, Y hay Z”. Nếu dân chúng đồng ý với điều đó, đó là một chuyện. Nhưng nếu dân chúng lại nói “Không, chúng tôi rất hài lòng với những gì chúng tôi đang có,” tốt thôi. Đó là tất cả những gì về dân chủ.
Tôi không nói rằng chính phủ Việt Nam phải trở thành X, Y hay Z. Không phải là quyết định của tôi. Đó là quyết nghị của các bạn. Điều tôi nói ở đây là nếu các bạn nghĩ X, Y hay Z sẽ tốt hơn hình thức hiện thời của chính phủ, các bạn phải được nói lên điều đó. Nhưng giả sử các bạn nói điều đó ngay bây giờ, sẽ có nhiều khả năng các bạn sẽ bị bắt. Tôi nghĩ điều đó là không đúng, và đó chính là điều tôi nói với chính phủ Việt Nam.
Và họ có thể nghe tôi, hoặc có thể không. Cho đến nay, câu trả lời là “không”.
Câu hỏi: OK, vậy tôi tự hỏi liệu nước Mỹ có chào đón sự chỉ trích dành cho chính phủ hoặc việc các nước khác phản đối các quyết sách của mình? Tôi nghĩ chính sách chỉ trích và ngôn luận này chắc không phải là chính sách mà người Mỹ đang sử dụng.
Đại sứ Michalak: Bạn thân mến của tôi, điều này xảy ra hàng ngày (cười). Ngày nào cũng có. Chẳng hạn, các nước Bắc Âu -- Thụy Điển, Na-Uy, Đan Mạch và các nước khác -- nhiều năm nay vẫn đến gặp Quốc hội Mỹ và cả Tổng thống nữa, và nói họ nghĩ rằng các điều luật và chính sách về tử hình của chúng tôi là sai lầm và chúng tôi nên sửa đổi những điều luật đó. Và họ không chỉ nói điều đó với chính phủ Mỹ, họ còn ra đường và nói với nhân dân Mỹ. Họ nói: “Chúng tôi nghĩ chính sách của các bạn là sai lầm. Các bạn phải sửa đổi đi.” Cho đến giờ, chúng tôi vẫn chưa bãi bỏ án tử hình, nhưng một số bang trên thực tế đã thay đổi chính sách về vấn đề này.
Một lần nữa, quyết định thay đổi hay không thay đổi việc này hay bất kỳ chính sách nào hoàn toàn tùy thuộc vào chúng tôi. Điều đó tùy thuộc vào người dân Mỹ. Nhưng nếu người ta muốn chỉ trích chúng tôi, và như tôi đã nói, một số người đã làm và chúng tôi nhận không ít lời phê bình, thì đó là quyền của họ. Không sao cả. Cái gì không giết chết bạn thì sẽ giúp bạn khoẻ mạnh hơn. Và thẳng thắn mà nói thì những cuộc tranh luận lành mạnh sẽ giúp chúng ta suy nghĩ về các sự việc. Tại sao chúng tôi lại cho rằng tử hình là rất tốt? Và thế là chúng ta sẽ phải nghĩ về điều đó, và phải tìm ra giải đáp và câu trả lời. Đó là cách để bạn trưởng thành. Dẫu sao thì đó là niềm tin của chúng tôi.
Câu hỏi: Trong phần phát biểu của mình, ngài có nói là ngài muốn nhân đôi số sinh viên Việt Nam sang Mỹ du học. Tôi muốn biết liệu Hoa Kỳ có chính sách nào để khuyến khích sự hợp tác giữa các trường đại học Mỹ và các trường đại học Việt Nam? Chẳng hạn như một trường đại học Mỹ sẽ mở chi nhánh tại Việt Nam và cho các sinh viên Việt Nam cơ hội học tập tại Việt Nam, chứ không phải đi sang du học ở Mỹ, nhưng vẫn có những trải nghiệm tương tự như những gì họ sẽ được học.
Ngài có thể cho tôi biết thêm thông tin về vấn đề này được không? Xin cảm ơn.
Đại sứ Michalak: Đây là một gợi ý tuyệt vời. Trên thực tế, chúng tôi đang làm việc về vấn đề này.
Không có chính sách chính thức nào cả. Chính phủ Hoa Kỳ luôn cố gắng không đặt ra những chính sách kiểu như vậy. Mỗi trường đại học Mỹ đều có chính sách riêng của mình về cách họ giao tiếp với các nước bên ngoài.
Chẳng hạn như trường John F. Kennedy (JFK) của Havard đang hợp tác với Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh và họ đã thành lập một cái gọi là Chương trình Đào tạo Kinh tế Fulbright tại thành phố Hồ Chí Minh. Chương trình này về cơ bản sử dụng giáo trình của trường JFK để giảng dạy về chính sách công cho các sinh viên Việt Nam. Sinh viên được tuyển chọn từ khu vực tư nhân ở Việt Nam, nhưng cũng có những sinh viên từ các cơ quan Nhà nước. Và để quay lại vấn đề chúng ta thảo luận lúc đầu về vấn đề nhân quyền, một trong các phương pháp giảng dạy ở trường này được gọi là “case-study”, tức là nghiên cứu những trường hợp cụ thể.
Trong phương pháp case-study, sự thể là các bạn sẽ đem một chính sách hoặc vấn đề ra để khảo sát. Ví dụ, các bạn khảo sát một chính sách hiện hành của chính phủ. Tôi đã từng theo học ở trường JFK ở bên Mỹ, và họ giao cho bạn một điều luật hoặc một chính sách hiện hành để nghiên cứu thực sự. Ở thành phố Hồ Chí Minh, họ cũng làm đúng như thế. Đây là một điều luật hiện hành của Việt Nam, một chính sách hiện hành của Việt Nam. Mọi người nghĩ sao? Và mọi người tranh luận, nói rằng nó có thể tốt hơn nếu ta làm thế này hay thế khác để thay đổi nó. Một số người sẽ nói nó thật tồi tệ, phải vứt nó đi. Người khác lại nói như hiện trạng cũng khá tốt. Nhưng trong mô hình giảng dạy dùng phương pháp case study này, bạn có một cuộc tranh luận. Bạn tranh luận về chính sách đó và cố gắng tìm cách cải thiện chính sách đó, làm cho nó phát huy hiệu quả hơn nữa, tìm cách để đảm bảo rằng chính sách đó sẽ mang lại lợi ích hơn nữa cho nhân dân, vì đó mới chính là mục đích của mọi chính sách công.
Khi trường này khai giảng và bắt đầu giao đề tài cho sinh viên, chính phủ Việt Nam đã không rõ nên ứng xử ra sao. Một lần nữa, nói một cách máy móc, theo luật hiện hành của Việt Nam, tất cả thầy trò trường này có thể bị bắt bỏ tù, nhưng họ đã không sao. Chương trình này đã lớn mạnh ở thành phố Hồ Chí Minh đến mức chính phủ Việt Nam thường tới trường này đề nghị thực hiện một nghiên cứu trước khi soạn ra một chính sách, xem tại đây họ nghĩ gì về chính sách dự kiến này. Các bạn nghĩ sao? Và họ nhận được những ý kiến chân thành nhất tại đây.
Như vậy trường này, cũng gồm các sinh viên như các bạn, đang được đóng góp ý kiến cho việc hoạch định chính sách của Việt Nam. Đó là cái đẹp của hình thức này. Đó là cái đẹp của quyền được có những cuộc tranh luận như vậy. Chính phủ không bắt buộc phải nghe theo bạn, chắc chắn là không, nhưng cũng không bao giờ bỏ ngoài tai những gì các bạn nói. Chính phủ dường như luôn sử dụng được cái gì đó từ những gì người ta nói, và như vậy nó đã rất hữu ích.
Quay lại câu hỏi ban đầu của bạn. Có rất nhiều trường đại học của Mỹ hiện đang có những chương trình hợp tác với các trường đại học ở đây. Không có chương trình nào giống hệt như chương trình Fulbright đó. Có một chương trình khác gọi là RMIT. Chắc các bạn cũng đã nghe về nó, đó là Học viện Công nghệ Hoàng gia Melbourne. Ở đó, những khóa học được giảng dạy giống như ở Học viện Công nghệ Hoàng gia Melbourne tại Úc. Nếu bạn học tại RMIT ở đây và hoàn thành tất cả các khóa học, bạn có thể được cấp bằng của Đại học Melbourne mà không phải thực sự đi sang Úc học.
Hiện, chúng tôi đang cùng với một số trường đại học Mỹ xem xét các yêu cầu về thủ tục và các khả năng sửa đổi. Có rất nhiều thủ tục giấy tờ mà chúng tôi phải vượt qua trước khi có thể mở một chi nhánh ở đây. Nhiều trường đại học cho rằng thủ tục ở đây quá rườm rà. Họ cho rằng không đáng để phiền hà như vậy, và rằng họ không muốn đương đầu với thủ tục quan liêu. Một trong những việc chúng tôi đang làm là cố gắng thuyết phục chính phủ (Việt Nam) xoá bỏ những thủ tục quan liêu không cần thiết này, để các trường đại học Mỹ cũng như các nước khác có thể dễ dàng thành lập chi nhánh và làm được đúng cái mà bạn đang nói tới. Đó là một cách làm hiệu quả. Cảm ơn bạn đã gợi ý. Khi nào bạn tốt nghiệp, chúng tôi muốn tuyển bạn vào làm việc, và về sau chúng tôi sẽ làm việc cho bạn. (Cười).
Câu hỏi: Thưa ngài Đại sứ, tôi muốn quay lại với vấn đề nhân quyền và cuộc chiến chống khủng bố. Gần đây, có các tín hiệu rất xấu về vấn đề nhân quyền, chẳng hạn như ở Iraq và nhà tù Abu Graib. Do đó, tôi muốn hỏi liệu nước Mỹ có cách nào để xử lý những vấn đề này không? Và theo ý kiến cá nhân của ngài, cuộc chiến chống khủng bố có thể đem lại một thế giới hòa bình hơn cho chúng ta hay không? Xin cảm ơn.
Đại sứ Michalak: Cuộc chiến chống khủng bố sẽ mang lại một thế giới hoà bình hơn. Có chứ. Tôi có thể nói chắc điều đó. Từ sau 11 tháng 9, chưa có một vụ khủng bố lớn nào ở Hoa kỳ. Điều này giúp cho người dân Mỹ hàng đêm ngủ được ngon hơn so với trước đó. Đó là một điều tôi có thể nói ngay tức khắc.
Về vấn đề nhân quyền liên quan đến nó, bạn nói rất đúng, chắc chắn vấn đề được đặt ra. Lại một lần nữa, đó là lý do vì sao tự do biểu đạt là quan trọng, và hơn thế nữa có lẽ là tự do báo chí. Rất nhiều lần các sự vụ được báo chí phanh phui. Ví dụ ở Mỹ, chúng tôi đã có một vụ tranh cãi lớn về những vụ tra tấn tù nhân từ Afghanistan và Iraq. Và vụ tranh cãi này là do báo chí thúc đẩy. Điều đó không có nghĩa là nếu không có báo chí tham gia thì không xảy ra cuộc tranh cãi, trên thực tế nó vẫn sẽ xảy ra, nhưng báo chí thì rất hữu ích trong việc đảm bảo cho người dân Mỹ nhận được thông tin tương tự. Và người ta có thể tranh luận, bàn cãi về việc này, và sau đó người dân sẽ đưa ra quyết định. Chính phủ lắng nghe tất cả các ý kiến, và chính phủ cùng với người dân quyết định về cách giải quyết cuối cùng cho vấn đề. Nhưng điều quan trọng là phải có được những cuộc tranh luận như vậy để có thể đưa các vấn đề ra trước ánh sáng. Và đây là một chỗ mà đôi khi các chính phủ khác thường tham gia vào. Họ nói: “Bạn biết không, này nước Mỹ, đúng đấy, có vẻ như các bạn đang làm những việc trái với công ước quốc tế này hay công ước quốc tế nọ.” Và chúng tôi sẽ phải, hoặc tự biện hộ, hoặc thay đổi chính sách của mình. Tôi tin rằng đã có những thay đổi trong chính sách của Mỹ dựa vào các cuộc tranh luận quốc tế hoặc nội địa.
Đó có phải là câu trả lời cho câu hỏi của bạn không? Hay là không phải? Bạn có muốn hỏi lại không?
Câu hỏi: Ngài nói rằng cuộc chiến chống khủng bố giúp người dân ngủ ngon. Nhưng có đáng thực hiện chiến tranh không, vì thế giới đã có quá nhiều máu đổ? Xin cảm ơn.
Đại sứ Michalak: Chà, đó là một câu hỏi hay. Theo tôi điều đó cũng còn tùy. Đúng là bất cứ khi nào có chiến tranh cũng đều có quá nhiều máu đổ, tôi có thể nói như vậy. Nhưng nếu không có những cuộc chiến đó, liệu chúng ta có đổ máu nhiều hơn không? Đó mới thực sự là vấn đề. Nếu Saddam Hussein vẫn còn cầm quyền, liệu Trung Đông có đổ máu nhiều hơn bây giờ không? Tôi không thể trả lời câu hỏi đó. Tôi không thể biết. Nhưng theo tôi, rõ ràng ông ta từng là nhân tố gây bất ổn lớn trong khu vực, và xung đột nhiều hơn có thể đã diễn ra ở Trung Đông. Có thể đó không phải là cuộc chiến của Mỹ, nhưng sẽ là của ai đó. Vì vậy, khó có thể nói rằng hiện tại có quá nhiều đổ máu.
Tôi cho rằng sự lan tràn của chủ nghĩa khủng bố khiến cho thế giới giờ đây có nhiều bạo lực hơn nó đã từng có. Theo tôi, chúng ta đã bắt đầu chứng kiến bạo lực đang giảm dần ở Iraq. Ở Afganistan, chưa dễ thấy được ngay triển vọng này. Pakistan giờ đây là một mối lo ngại lớn. Nhưng theo tôi, chúng ta đang thấy bạo lực giảm đi ở châu Âu, Thái Lan và Philippines.
Khủng bố là một thứ mà với nó người ta phải có một cuộc chiến lâu dài. Đó là cuộc chiến mà khi người ta nghĩ rằng đã dẹp yên ở chỗ này thì nó lại nổi lên ở chỗ khác. Đó là một cuộc chiến rất khó khăn, nhưng tôi cho rằng đó là điều chúng ta phải làm vì nếu chúng ta không chống khủng bố, nó sẽ lại trỗi dậy. Nếu chúng ta không chặn đứng nó bằng tất cả khả năng của mình, khủng bố sẽ lan tràn và còn tồi tệ hơn.
Câu hỏi: Kính chào Ngài Đại sứ. Theo tôi biết thì Tổng thống Bush từng ví Chiến tranh Việt Nam giống như những gì đang diễn ra ở Iraq. Vậy tôi muốn biết liệu Ngài có cho rằng cuộc chiến ở Iraq có trở thành điều gì đó giống như cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam không? Xin cảm ơn.
Đại sứ Michalak: Rất hân hạnh. Thực tế đó không phải là một câu trích nguyên văn, nhưng tôi nghĩ lời lẽ của Tổng thống đã rất rõ ràng. Và tôi cho rằng đó là một trong những điều tôi nhận thấy rất rõ ở Việt Nam. Chúng ta từng giao chiến với nhau trong suốt nhiều năm. Cách đây 30 năm, cuộc chiến đó kết thúc. Và trong 30 năm đó chúng ta đã xây dựng được một quan hệ đối tác rất vững chắc. Đó là mối quan hệ đối tác hướng về tương lai và gác lại quá khứ. Tôi nghĩ đó là một điều thật đáng kinh ngạc.
Tôi cũng phải nói rằng tôi đã gặp một tình huống cũng đáng lưu ý ở Nhật Bản nơi tôi từng sống nhiều năm. Ở Nhật Bản điều đó cũng giống hệt. Đã 50 năm kể từ khi Nhật Bản và Hoa Kỳ đối đầu trong một cuộc chiến diện rộng trên toàn cầu. Kết cục giống như vậy cũng đã xảy ra. Chúng tôi kết thúc chiến tranh, hướng về tương lai, gác lại quá khứ. Và giờ đây chúng tôi có một đồng minh rất mạnh ở Nhật Bản.
Vì vậy tôi nghĩ rằng việc chúng ta đã ra khỏi cuộc chiến, đã xây dựng được quan hệ đối tác vững mạnh và tình hữu nghị sâu sắc sẽ là nhân tố cực kỳ quan trọng trong việc thúc đẩy quan hệ đối tác bền vững giữa Hoa Kỳ và Việt Nam mà chúng ta đang có, mối quan hệ mà tôi đang nỗ lực để đẩy mạnh hơn nữa trong vòng ba năm tới.
Câu hỏi: Câu hỏi của tôi liên quan tới quan hệ giữa hai nước Việt Nam và Hoa Kỳ và vai trò thành viên của Việt Nam tại Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Chúng ta từng thấy Việt Nam không phải lúc nào cũng nhất trí với Hoa Kỳ trong các cuộc bỏ phiếu, chẳng hạn về vấn đề Kosovo. Hoa Kỳ có coi đây là một vấn đề và nó ảnh hướng thế nào tới quan hệ song phương?
Đại sứ Michalak: Ồ, tôi chỉ nghĩ rằng Việt Nam sai và nên bỏ phiếu giống chúng tôi. Chỉ vậy thôi. [Cười]. Nhưng chẳng sao cả. Bộ Ngoại giao Việt Nam thì nghĩ rằng tôi sai và họ muốn tôi bỏ phiếu theo họ. [Cười].
Nhưng nghiêm túc mà nói, chúng ta sẽ luôn có những khác biệt. Tôi đã nói chuyện cả nửa tiếng đồng hồ với người đồng cấp của tôi ở Bộ Ngoại giao về Kosovo. Chúng tôi nói với nhau về lịch sử, về địa vị pháp lý của Liên hợp quốc, và về địa chính trị toàn cầu của vấn đề. Rốt cuộc, tôi đã không thuyết phục được ông ấy. Việt Nam đã không bỏ phiếu cùng Hoa Kỳ tại Liên hợp quốc. Điều đó luôn xảy ra. Chừng nào hai bên tin rằng họ đã thảo luận nghiêm túc với nhau về vấn đề đó và rằng hai bên đã nỗ lực hết sức để hiểu được quan điểm của nhau, sẽ có những vấn đề nhất định mà những người có lý trí có thể bất đồng. Kosovo có thể là một trong những vấn đề đó. Trong vấn đề Iran chúng ta đã đồng thuận.
Tôi cho rằng Việt Nam rất cần tham gia một cách nghiêm túc. Việt Nam không coi vai trò thành viên Hội đồng Bảo an chỉ mang tính tượng trưng – “Này, hãy nhìn chúng tôi đây. Chúng tôi đã vào Hội đồng Bảo an đấy!” và sau đó không làm gì cả. Một số nước có thể chỉ coi đây là một vinh dự và sau đó họ chẳng thấy cần phải lãnh trách nhiệm gắn liền với nó. Tôi nghĩ Việt Nam đang gánh trách nhiệm của mình, đang tìm hiểu các vấn đề và đưa ra những quan điểm của riêng mình. Chúng tôi chỉ hy vọng có cơ hội giải thích quan điểm của chúng tôi với Việt Nam, cũng như Việt Nam có thể chia sẻ quan điểm của mình với chúng tôi. Ngay trong vấn đề Iran, Việt Nam muốn sửa một vài điểm trong nghị quyết trước khi thông qua. Tôi nghĩ là một số thay đổi đã được thực hiện, còn một số thì không. Nhưng chính việc Việt Nam thực sự tham gia và coi đó là nghiêm túc là một nhân tố tích cực cho quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Nó chứng tỏ rằng Việt Nam muốn được coi trọng, muốn là một nhân tố tích cực trên thế giới. Chúng tôi cho rằng đó là điều tốt và rất vui mừng hợp tác với Việt Nam, ngay cả khi biết rằng đôi lúc Việt Nam không đồng thuận với chúng tôi.
Điều mà chúng tôi đang nỗ lực là làm cho Việt Nam khó mà bất đồng với chúng tôi.
TS. Thao: Tôi biết là Ngài Đại sứ sẽ lên đường đi sân bay trong khoảng 10 phút nữa. Vì vậy chúng ta có thời gian cho một hoặc hai câu hỏi ngắn nữa.
Câu hỏi: Câu hỏi của tôi là thế này. Tôi tốt nghiệp Thạc sỹ về Quan hệ Quốc tế, đi sâu nghiên cứu về quan hệ Việt Nam–Hoa Kỳ. Ngài nói rằng quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ hiện tốt đẹp và thậm chí đang được cải thiện hơn kể từ chiến tranh. Phải chăng ngài nên tính đến một điều gì đó, chẳng hạn như các chương trình giao lưu giữa những người lính Hoa Kỳ và Việt Nam đã từng tham chiến. Bởi vì qua những chương trình giao lưu này những người lính Hoa Kỳ có thể quay trở lại Việt Nam, chứng kiến đất nước này ngày hôm nay và quay trở lại Hoa Kỳ nói với mọi người rằng cuộc sống đã tốt đẹp hơn. Điều thứ hai là trong các Đại sứ Hoa Kỳ trước đây, Đại sứ đầu tiên Pete Peterson từng thăm Mỹ Lai và các chứng tích khác của cuộc chiến và làm các nghi lễ ở những nơi này. Tôi biết các Đại sứ trước sẵn sàng tham gia các buổi lễ tưởng niệm. Còn Ngài thì sao ạ?
Đại sứ Michalak: Tôi sẽ trả lời phần đầu tiên, câu hỏi đầu tiên liên quan đến giao lưu giữa các cựu chiến binh, đúng là chúng tôi có nghĩ tới các chương trình này. Khi bạn nói về giao lưu, điều đó có nghĩa là chúng ta có thể đưa cựu chiến binh Việt Nam sang thăm Hoa Kỳ. Nhưng tôi không chắc là họ sẽ thăm những đâu. Nó không hoàn toàn giống Việt Nam. Nhưng ở góc độ cựu chiến binh Mỹ sang đây, tôi có thể nói rằng có khoảng 5 đến 10, nhiều khi đến 20, cựu chiến binh mỹ sang đây mỗi tháng. Cứ khoảng hai tuần một lần, lính thủy đánh bộ Mỹ ở Đại sứ quán lại làm lễ chào mừng các nhóm cựu chiến binh sang thăm, những người sang đây thực sự để thăm lại và thực hiện các chương trình hòa giải.
Về lễ tưởng niệm và các nghi lễ khác, thực ra tôi đang tìm kiếm những sự kiện mà chúng tôi có thể thực hiện. Nếu bạn có ý tưởng nào, xin hãy cho tôi biết. Tôi đang tìm kiếm, thực sự đang tìm kiếm.
Khi tôi còn ở Nhật Bản, chúng tôi thường có Lễ tưởng niệm Iwo Jima hàng năm, thường có một lễ ở Okinawa. Tôi đã từng dự một số nghi lễ như vậy. Bạn đúng khi nói rằng cựu chiến binh của hai bên ngồi lại với nhau, trao đổi và trở thành những người bạn. Đó là một việc rất cảm động và có tác động mạnh. Tôi muốn tìm kiếm kiểu gặp gỡ đó ở Việt Nam nhưng chưa làm được, vì vậy nếu bạn có ý tưởng, hãy cho tôi biết.
Câu hỏi: Tôi muốn hỏi về tình hình kinh tế thương mại và Ngài có nói rằng có sự thâm hụt thương mại giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Liệu đó có phải là một vấn đề cho Việt Nam? Ngoài ra, làm thế nào để trở thành Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam hoặc tại bất kỳ quốc gia nào khác?
Đại sứ Michalak: Tôi sẽ trả lời câu hỏi thứ hai trước. Tôi không biết. [Cười]. Khi bạn đạt tới một cấp bậc nhất định, bạn có thể nói được một vài thứ tiếng và bạn phải có kinh nghiệm nhất định, bạn có thể quyết định là mình muốn trở thành một Đại sứ. Khi bạn quyết định điều đó, hàng năm bất kỳ ai muốn trở thành Đại sứ nộp lý lịch của mình với bài luận nhỏ - có nhớ bạn đã phải viết một bài tiểu luận để được nhận vào một trường cao học? Bài luận này cũng thế. “Tại sao tôi muốn làm Đại sứ”. Bạn nộp hồ sơ, rồi sau đó có một ủy ban. Quá trình này chẳng minh bạch chút nào. Lại nói về vấn đề vi phạm nhân quyền, tôi nói để bạn biết, để làm được đại sứ cũng không dễ chút nào. [Cười]. Ủy ban này quyết định hết. Phải mất khoảng một năm kể từ khi tôi nộp hồ sơ cho tới khi họ nói rằng, được, anh sẽ sang Việt Nam. Khi nộp bài luận “Tại sao tôi muốn làm Đại sứ”, bạn phải nói rõ là ở nước nào.
Câu hỏi: Tại sao Ngài muốn sang Việt Nam?
Đại sứ Michalak: Tôi muốn sang Việt Nam vì tôi đã dành toàn bộ sự nghiệp của mình ở châu Á. Tôi từng sống phần lớn thời gian ở Nhật Bản và Trung Quốc. Nhưng thành thực mà nói, với tôi đất nước châu Á có triển vọng nhất và tương lai sán lạn nhất chính là Việt Nam. Khi tôi ở đây năm 2006 với tư cách trưởng đoàn đại biểu Hoa Kỳ tham dự APEC, tôi thực sự cảm nhận rằng đất nước này đang khởi sắc và đây chính là thời điểm tốt nhất để tới đây. Các bạn đang mới bắt đầu. Điều đó rất thú vị. Tất cả các cơ hội đang chờ đón. Tôi thường thành công trong một môi trường như vậy và tôi tin rằng đây sẽ là nơi tốt nhất cho tôi. Cảm ơn Chúa, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cũng nghĩ như vậy. Rất khác thường.
Câu hỏi còn lại của bạn. Lý do mà tôi nói như vậy là bởi vì nếu bạn là một nhà kinh tế, thâm hụt thương mại song phương không có vấn đề gì lắm. Anh có thâm hụt với một vài nước, anh lại sẽ có thặng dư với những nước khác và tất cả sẽ bù trừ cho nhau. Anh nhìn vào mức thâm hụt tài khoản vãng lai tổng hợp và đó mới chính là điều gây ra những hậu quả thực sự cho nền kinh tế quốc nội.
Nhưng xét về mặt chính trị nó là vấn đề vì Quốc hội Mỹ hoặc những thường dân Hoa Kỳ sẽ nhìn vào khoản thâm hụt và nói, khoan đã, điều đó thật không công bằng. Tại sao Việt Nam bán cho chúng ta nhiều hơn gấp bốn lần so với những thứ chúng ta bán cho họ? Cán cân đó cần phải cân bằng hơn. Thường thì những việc này không gây ra bất kỳ vất đề nào, nhưng trong trường hợp giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản nó gây ra những vấn đề rất lớn. Người ta dọa xây dựng luật và chúng tôi phải tiến hành tất cả các kiểu thương lượng. Tôi đã tham gia vào hầu hết các cuộc thương lượng đó. Với Trung Quốc, điều tương tự cũng đang diễn ra. Có những Hạ nghị sỹ và Thượng nghị sỹ muốn thông qua luật nâng thuế nhập khẩu nếu Trung Quốc không thay đổi tỷ giá hối đoái, v.v. và v.v…
Về mặt chính trị, tới nay Việt Nam chưa phải nhận bất kỳ lời phàn nàn nào, mà thực tế là ngược lại. Nhiều đại biểu quốc hội tin rằng Việt Nam là một thành công ở châu Á và họ rất rất mừng về những triển vọng cho tương lai của Việt Nam. Nhưng thật vui khi được nói với mọi người rằng, trong khi chúng ta bị thâm hụt lớn về thương mại, hàng hóa của chúng ta đang được xuất sang Việt Nam và Việt Nam không quay lưng lại. Người Việt Nam đang mua hàng của Hoa Kỳ. Đó là một câu chuyện hay để kể và nó giúp trấn an người dân Hoa Kỳ. Thường thì họ lo ngại rằng sân chơi không bình đẳng, rằng có những hàng rào thương mại hoặc đối xử bất bình đẳng trong thương mại. Chúng tôi có thể nói rằng xuất khẩu của chúng tôi đang tăng 72%, vì vậy rất khó để ai đó phàn nàn rằng Việt Nam có nhiều rào cản thương mại. Đó chính là điều tôi muốn nói.
TS. Thao: Tôi hy vọng rằng Ngài sẽ quay trở lại thăm Học viện. Trước khi kết thúc, Ngài có thể nói một vài câu bằng Tiếng Việt để chúng tôi có thể thấy tiến bộ trong học tập của Ngài khi Ngài quay trở lại được không ạ?
Đại sứ Michalak: [Cười]. [Nói bằng Tiếng Việt]. [Hội trường cười và vỗ tay].
Tôi hy vọng đã không xúc phạm mẹ của ai đó ở đây. [Cười]. Đó không phải là điều tôi muốn làm.
TS. Thao: Một bạn sinh viên muốn nói lời cảm ơn với Ngài Đại sứ.
Sinh viên: Thay mặt cho sinh viên Khoa Luật, em xin cảm ơn Ngài Đại sứ và Đại sứ quán Hoa Kỳ đã tài trợ cho chúng em tham dự cuộc thi luật quốc tế và phiên toà giả định tại Hoa Kỳ. Em thực sự muốn bày tỏ lòng biết ơn to lớn tới Ngài Đại sứ và Phòng Văn hóa Thông tin đã đưa chúng em đến với đất nước Hoa Kỳ thông qua khoản tài trợ. Khoản tài trợ dành cho chúng em không trang trải hết được tất cả các chi phí, nhưng nó thực sự có ý nghĩa với chúng em và em tin rằng quý Ngài sẽ sớm nhìn thấy kết quả. Em hy vọng Ngài và Đại sứ quán sẽ tiếp tục hỗ trợ cho sinh viên Học viện Ngoại giao Việt Nam và các sinh viên khác trên khắp đất nước. Cảm ơn ngài rất nhiều. [Vỗ tay].
Đại sứ Michalak: Cảm ơn các em rất nhiều và tôi hy vọng sẽ sớm gặp tại tất cả các em.
# # # #