jump over navigation bar
Embassy SealBộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Đại sứ quán Hợp chúng quốc Hoa Kỳ - Hanoi, Vietnam flag graphic
Đại sứ quán Hoa Kỳ
 
  Ngài Đại sứ Phó Đại sứ Cựu Đại sứ Cựu Phó đại sứ Đại sứ quán Phòng ban trong sứ quán Thông cáo báo chí Các hoạt động nổi bật của Sứ quán

Ngài Đại sứ Michael W. Michalak

Đại sứ Michael Michalak Họp báo kỷ niệm hai năm làm việc tại Việt Nam

26/8/2009

Đại sứ Michalak: Xin chào các anh, các chị. Tôi rất vui được gặp các anh, các chị tại đây. Hôm nay thời tiết thật là nóng, tôi cám ơn các anh, các chị đã tới dự họp báo.
 
Cho phép tôi được điểm qua một số nét trong bài phát biểu. Bài phát biểu viết sẵn của tôi tương đối dài, vì vậy tôi sẽ không đọc hết.

Như các anh chị biết, tôi đến đây đã được hai năm, hai năm qua thật là thú vị. Tôi rất vui mừng và tự hào được là Đại sứ Mỹ tại Việt Nam, một đất nước tuyệt vời với rất nhiều tiến bộ và triển vọng. Tôi tin tưởng rằng mối quan hệ song phương đang tiếp tục phát triển trên nhiều mặt dựa trên nền tảng hữu nghị, tôn trọng lẫn nhau, và hợp tác trên nhiều vấn đề vì lợi ích lâu dài của cả hai nước, trên cơ sở Hoa Kỳ tiếp tục ủng hộ vấn đề chủ quyền quốc gia, an ninh và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

Tôi nghĩ rằng, quan trọng nhất là chúng ta tin rằng chúng ta cùng có chung một số lợi ích nhất định trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương ổn định, an ninh và hoà bình. Chính quyền Obama đã thể hiện mối quan tâm mạnh mẽ đến việc tập trung gia tăng sự chú ý, thúc đẩy quan hệ của Hoa Kỳ với Đông Nam Á. Một trong những dấu hiệu cho thấy mối quan hệ của chúng ta ngày càng trở nên sâu sắc hơn là Hoa Kỳ và Việt Nam tiếp tục trao đổi các đoàn ngoại giao cấp cao và chúng tôi mong sẽ có nhiều cuộc trao đổi như vậy hơn nữa trong năm tới. Chuyến thăm gần đây nhất của Thượng nghị sỹ Webb là một ví dụ, tôi nghĩ đó là một thành công lớn.

Nhưng với cấp độ ngày càng tăng, quan hệ của chúng ta cũng dựa trên nền tảng là các trao đổi ngoại giao và các cuộc đối thoại chính sách thường xuyên. Ví dụ như chúng ta đang bắt đầu phối hợp chặt chẽ hơn về các vấn đề an ninh, thể hiện qua cuộc đối thoại Hoa Kỳ-Việt Nam về Chính trị, An ninh và Quốc phòng lần thứ 2 được tổ chức hồi tháng 6. Hai nước sẽ tổ chức vòng hai cuộc hội đàm về hoạch định chính sách trong tuần tới ở Washington, và chúng tôi dự kiến sẽ tổ chức cuộc đối thoại tiếp theo về nhân quyền vào cuối năm nay.

Trong các cuộc thảo luận, chúng tôi đã hoan nghênh nỗ lực của Việt Nam nhằm nắm vai trò lãnh đạo tích cực hơn trong các vấn đề khu vực và thế giới – như tại Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc, và tại ASEAN mà Việt Nam sẽ giữ chức chủ tịch trong năm 2010.

Bài phát biểu của tôi có nói tới một số hợp tác về HIV/AIDS, biến đổi khí hậu, các vấn đề y tế nói chung... Nếu các anh chị muốn biết về các vấn đề cụ thể khác, chúng ta sẽ cùng trao đổi trong phần Hỏi-Đáp.
 
Tôi nghĩ rằng, vấn đề mà giờ đây tôi muốn tập trung vào là trở lại với ba ưu tiên ban đầu mà tôi đã nói tới khi tôi mới đến Việt Nam, đó là kinh tế, giáo dục và nhân quyền.

Về kinh tế - Một trong những mục tiêu chính của tôi là làm sâu sắc thêm mối quan hệ song phương về kinh tế và chúng tôi đã làm được điều đó. Chúng tôi đã thường xuyên tổ chức các cuộc thảo luận hữu ích về các chủ đề như mở rộng thị trường, Quyền Sở hữu Trí tuệ, lao động, nông nghiệp và nhiều vấn đề khác trong khuôn khổ Thoả thuận Khung về Đầu tư và Thương mại. Chúng tôi hy vọng sẽ sớm tổ chức vòng đàm phán thứ ba về Hiệp định Đầu tư Song phương. Ngoài ra, chúng tôi tiếp tục cung cấp các trợ giúp kỹ thuật quan trọng để hỗ trợ Việt Nam hội nhập hơn nữa vào nền kinh tế thế giới. Dự án Cơ chế Một cửa Quốc gia mà Việt Nam đang thực hiện là một ví dụ.

Bây giờ tôi muốn nói tới giáo dục vì đây là một trong những vấn đề yêu thích của tôi. Tôi tin tưởng rằng, trong năm qua, chúng ta đã hợp tác rất hiệu quả trong lĩnh vực giáo dục qua việc thành lập Nhóm Chuyên trách về Giáo dục trong chuyến thăm Hoa Kỳ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong năm 2008. Theo tôi được biết, Nhóm Chuyên trách sẽ sớm Công bố Báo cáo Tổng kết và đưa ra các khuyến nghị về các bước tiếp theo mà chính phủ và các cơ quan giáo dục của hai nước có thể tiến hành để mở rộng hợp tác. Hiện nay có khoảng 9.000 sinh viên Việt Nam đang học tập tại Hoa Kỳ, gấp khoảng 2,5 lần so với cách đây 3 năm. Con số này không chỉ cho thấy ngày càng có nhiều thanh niên Việt Nam được hưởng nền giáo dục tốt tại Hoa Kỳ, mà còn chứng tỏ sự tăng cường mang tính dài hạn về quan hệ song phương giữa hai nước.

Trong các cuộc thảo luận với Chính phủ Việt Nam, chúng tôi đã lưu ý tầm quan trọng của vấn đề dân chủ và quản trị nhà nước tốt. Chúng tôi cũng đã thúc giục Chính phủ Việt Nam đáp ứng các quyền của công dân Việt Nam tốt hơn nữa. Chúng tôi rất tin tưởng rằng việc đảm bảo cho người dân được hưởng lợi đầy đủ từ các quyền đó sẽ mang lại lợi ích tốt nhất cho Việt Nam. Người dân Việt Nam tài giỏi và yêu nước. Cho phép họ có quyền tự do và tiếng nói rộng rãi hơn trong các vấn đề chung sẽ làm Việt Nam trở nên vững mạnh hơn. Chúng tôi ghi nhận và hoan nghênh tiến bộ của Việt Nam trong một số lĩnh vực, trong đó có việc cải thiện điều kiện để người dân có tín ngưỡng được thực hành tín ngưỡng của họ một cách dễ dàng hơn. Chúng tôi hy vọng lĩnh vực này tiếp tục có những tiến bộ.

Tuy nhiên, chúng tôi vẫn quan ngại về một số động thái khác về nhân quyền của Việt Nam. Chẳng hạn, chúng tôi vẫn quan ngại về các nỗ lực trấn áp báo chí và hình sự hoá tự do ngôn luận. Điều này sẽ làm cho việc giải quyết vấn đề tham nhũng và suy thoái môi trường trở nên khó khăn hơn. Cùng với một số nước khác, chúng tôi cũng đã bày tỏ quan ngại về các vụ bắt người bất đồng chính kiến gần đây, trong đó có Luật sư nổi tiếng Lê Công Định và một số người khác được cho là có liên quan đến các nhóm chống đối.

Chúng tôi cũng liên tục nêu quan ngại về việc bỏ tù một số người khác, trong đó có Cha Nguyễn Văn Lý, Lê Thị Công Nhân và Nguyễn Văn Đài.

Gần đây nhất, chúng tôi rất thất vọng với bản tin của Đài Truyền hình Việt Nam về việc “nhận tội” của một số công dân Việt Nam đối với những hành động mà chúng tôi cho là các thảo luận bình thường và thông thường nhằm tăng cường nền pháp quyền của Việt Nam. Đây là một mục tiêu được sự ủng hộ từ các cấp cao nhất của Chính phủ Việt Nam. Chúng tôi cũng bất bình với việc mô tả một cách tiêu cực về trợ giúp của Hoa Kỳ giành cho Việt Nam.

Các anh, các chị sẽ nhận bài phát biểu đầy đủ sau. Bây giờ tôi muốn dừng lại để trả lời câu hỏi của các anh chị.

Câu hỏi: Tôi là phóng viên Báo Vietnam Net. Tôi muốn hỏi Đại sứ về việc gần đây chính phủ Việt Nam thông báo sẽ mở Tổng lãnh sự tại Houston. Xin Ngài cho biết chi tiết hơn thoả thuận về việc mở lãnh sự tại hai nuớc. Có phải theo thoả thuận này, Hoa Kỳ sẽ mở lãnh sự tại Đà Nẵng và cũng mở rộng thẩm quyền lãnh sự của Tổng Lãnh sự tại thành phố Hồ Chí Minh ra 21 tỉnh phía Nam?

Đại sứ Michalak: Chị biết khá rõ các thông tin mà tôi nghĩ là những trao đổi riêng trong nội bộ Chính phủ Việt Nam. [Cười]

Đúng là chúng tôi đã cấp phép cho Việt Nam mở lãnh sự tại Houston, và Chính phủ Việt Nam đã cho phép chúng tôi mở một lãnh sự tại Đà Nẵng. Chúng tôi vừa mới cấp visa cho một nhóm tiền trạm của Việt Nam sang Hoa Kỳ để tìm địa điểm và hoàn thành mọi thủ tục cần thiết để mở lãnh sự tại Houston.

Về phía chúng tôi, chúng tôi đang xúc tiến các thủ tục cần thiết để Chính phủ Việt Nam cho phép có thêm một viên chức lãnh sự phụ trách lãnh sứ quán tại Đà Nẵng. Song do ngân sách hạn hẹp, chúng tôi chưa biết khi nào có thể mở lãnh sự tại Đà Nẵng. Do vậy, trước mắt, chúng tôi cố gắng đảm nhiệm công việc lãnh sự tại các khu vực nằm ngoài thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội cho tới khi chúng tôi được Chính phủ cấp đủ ngân sách để mở lãnh sự quán tại Đà Nẵng.
 
Về việc mở rộng thẩm quyền lãnh sự, đây là vấn đề chúng tôi đã trao đổi với Chính phủ Việt Nam, và chúng tôi sẽ tiếp tục các cuộc trao đổi đó.

Câu hỏi: Ngài có quan ngại gì về Quyết định 97 của Chính phủ đối với các tổ chức khoa học và kỹ thuật?

Đại sứ Michalak: Tôi mới nghe về Quyết định này sáng nay mà chưa kịp đọc, do vậy tôi chưa thể đưa ra bình luận chi tiết. Song, cho dù chưa đọc, mối quan tâm của tôi là cố gắng kiểm tra Quyết định đó và bảo đảm rằng quyết định cho phép các nhà khoa học tự do triển khai các hoạt động nghiên cứu và tiến hành các nghiên cứu quốc tế mà Việt Nam cần có để cải thiện hệ thống gíáo dục và trở thành đất nước có nền khoa học và công nghệ hàng đầu.

Như tôi đã nói, tôi chưa đọc Quyết định do vậy tôi không biết liệu chúng ta có nên quan ngại hay không. Song tôi hy vọng rằng bất kỳ một nghị định nào về khoa học và công nghệ cũng cần phải cố gắng đảm bảo tính linh hoạt để các nhà khoa học Việt Nam có thể tiếp tục nghiên cứu và Việt Nam có thể trở thành một cường quốc về khoa học và công nghệ.

Câu hỏi: Mới đây Thượng nghị sĩ Jim Webb thăm Việt Nam, ông đã bày tỏ mối quan ngại về vấn đề tranh chấp tại Biển Nam Trung Hoa giữa Việt Nam và Trung Quốc và một số nước khác. Ngài nghĩ Hoa Kỳ có thể làm gì để giải quyết các vấn đề tại Biển Nam Trung Hoa, để lấy lại sự cân đối giữa các quốc gia?

Đại sứ Michalak: Lập trường của chúng tôi là chúng tôi không đưa ra quan điểm đứng về bên nào trong các tranh chấp đang diễn ra tại Biển Đông vào thời điểm này. Chúng tôi kêu gọi các bên liên quan đến tranh chấp cùng ngồi lại với nhau để giải quyết các tranh chấp một cách hoà bình. Tôi nghĩ, Thượng nghị sĩ Webb đã trình bày một số ý kiến rất thú vị của riêng ông về việc Hoa Kỳ nên giữ vai trò gì. Song, như các anh chị biết, Thượng nghị sĩ thuộc nhánh lập pháp, hoàn toàn tách biệt với nhánh hành pháp, là nhánh tôi làm việc. Tuy nhiên chúng tôi cũng đã báo cáo lại quan điểm của Thượng nghị sĩ Webb, và tôi tin rằng Ngài Webb cũng sẽ nêu quan điểm của mình khi có cuộc thảo luận riêng với Ngoại trưởng Clinton và một số quan chức khác trong chính quyền Obama. Tôi tin rằng các quan chức sẽ có cuộc trao đổi bổ ích về vấn đề này và sau đó sẽ đưa ra quyết định cần phải làm gì.

Câu hỏi: Xin Ngài cho biết Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ thực hiện những biện pháp cụ thể gì để tăng cường quan hệ ngoại giao vì như Ngài đã phát biểu Hoa Kỳ rất quan tâm và gia tăng sự chú ý tới khu vực Đông Nam Á?

Câu hỏi thứ hai của tôi liên quan đến vấn đề kinh tế. Tôi được biết đã có cuộc đàm phán về việc xây dựng Hiệp định Thương mại Tự do giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, xin Ngài cho biết tình hình của cuộc đàm phán này?

Đại sứ Michalak: Tôi xin trả lời câu hỏi hai trước bởi vì câu hỏi đó dễ hơn.

Chúng tôi đang thảo luận với Chính phủ Việt Nam và nhiều đối tác khác trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương về Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP). Việt Nam đã thể hiện mối quan tâm tham gia cuộc thảo luận cùng với một số nước khác như Brunei, Singapore, New Zealand và Chile. Cả Australia nữa. Tôi không thể quên Australia được. Họ sẽ giết tôi nếu tôi quên không nhắc tới họ.

Gần đây, tôi nghĩ tháng trước, đã có cuộc họp Bộ trưởng Thương mại khối APEC tại Singapore. Tại cuộc họp đó, Đại diện Thương mại Hoa Kỳ Ron Kird đã nói với mọi người rằng chúng tôi chưa thể nói có hay không tham gia vào TPP đuợc vì chính quyền vẫn đang xem xét các chính sách thương mại. Song, cho dù chúng tôi đang xét duyệt, những người tham dự cuộc họp đều cảm thấy rằng họ có cuộc thảo luận tích cực, đầy hứa hẹn. Tôi cũng đang nóng lòng chờ đợi kết quả xét duyệt của chính quyền.

Về câu hỏi thứ nhất của anh, tôi nghĩ, Hoa Kỳ đã thực hiện một số biện pháp cụ thể để tăng cường quan hệ và sự hiện diện của chúng tôi đối với khu vực Đông Nam Á.

Tôi nghĩ Ngoại trưởng Clinton, trong chuyến viếng thăm nước ngoài đầu tiên với cương vị Ngoại trưởng, đã tới Châu Á. Trong chuyến thăm đó bà đã gặp gỡ Ban Thư ký ASEAN tại Jakarta. Chỉ riêng sự kiện này đã cho thấy một dấu hiệu rất tích cực, và tôi tin tưởng rằng, không những chỉ Việt Nam mà các nước khác trong khu vực cũng nhận thấy điều này. Tiếp sau đó, Ngoại trưởng đã tham dự Diễn đàn An ninh Khu vực mới được tổ chức ở Phuket. Tại đó, Ngoại trưởng đã tuyên bố rằng Hoa Kỳ sẽ ký kết và đã ký kết Hiệp ước Hợp tác và Hữu nghị giữa các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á.

Bà cũng đã làm chủ toạ phiên họp đầu tiên giữa các Bộ trưởng Ngoại Giao của một số nước thuộc khu vực sông Mê-kông. Hoa Kỳ, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam đã gặp gỡ để trao đổi các vấn đề chung và việc Hoa Kỳ có thể giúp đỡ như thế nào để giải quyết một số vấn đề này. Chúng tôi đã đưa ra một số công cụ mà chúng tôi nghĩ là có thể trợ giúp. Ví dụ, thành lập cơ quan Dự báo Mê-kông, đây là một công cụ dự báo để nghiên cứu ảnh hưởng của ngập lụt và bão lớn ở Đồng bằng sông Mê-kông và các nước khác trong khu vực sông Mê-kông.

Chúng tôi đã trao đổi về việc xây dựng chương trình đối tác giữa Uỷ ban Sông Mê-kông và Uỷ ban Sông Mississippi bởi vì hai con sống này rất giống nhau và cùng trải nghiệm những vấn đề tương tự như ngập lụt và cứu trợ thảm hoạ.

Trên đây là một số việc chúng tôi đã làm. Chúng tôi đã thảo luận về một số lĩnh vực hợp tác khác, và tôi nghĩ, chúng tôi sẽ tiếp tục trao đổi các phương thức hợp tác khác nữa.

Câu hỏi: Câu hỏi của tôi là, nhánh lập pháp và hành pháp có liên quan tới nhân quyền. Ngài có thể cho tôi biết về việc Quốc hội Hoa Kỳ đang thảo luận dự Luật Nhân Quyền 2009 của Việt Nam. Theo như tôi hiểu thảo luận này được đưa ra vì từ năm 2006 tới nay, sau khi Việt Nam được đưa ra khỏi danh sách các nước đặc biệt quan ngại về vấn đề tự do tôn giáo, Việt Nam đã có một số suy giảm về vấn đề nhân quyền. A/ Theo Ngài có cơ sở gì cho việc thảo luận Dự thảo tại Quốc hội? B/Liệu việc thảo luận có phải là bức thông điệp đúng đắn gửi tới Chính phủ Việt Nam không? C/Ngài cho rằng cuộc thảo luận sẽ có ảnh hưởng gì đối với quan hệ hai nước?

Đại sứ Michalak: Có một số điểm. Trước tiên, về Dự luật, tôi nghĩ, chính quyền cũng đang xây dựng quan điểm về Dự luật Nhân quyền. Cụ thể về Dự luật này, tôi chưa được đọc và tôi được biết Thượng viện chưa đưa ra hành động gì về Dự luật. Do vậy chúng ta phải chờ và xem những diễn biến liên quan tiếp theo.

Về cơ sở, tôi nghĩ, việc đầu tiên chúng ta cần phải làm là nhận biết rằng những nước trong danh sách đặc biệt quan ngại về tự do tôn giáo là một phạm trù tồn tại trong Luật Tự do Tôn giáo. Nếu anh xem Luật Tự do Tôn giáo, anh sẽ thấy có một bản liệt kê các tiêu chí mà một nước bị coi là đáng quan ngại nằm trong các tiêu chí đó. Đúng là Việt Nam đã từng trong danh sách đó, song Việt Nam đã có những cải thiện về tự do tôn giáo, và chúng tôi nghĩ nên đưa Việt Nam ra khỏi danh sách. Quan điểm của chúng tôi vẫn vậy, Việt Nam không làm việc gì khiến chúng tôi phải đưa Việt Nam trở lại danh sách các nước đặc biệt quan ngại.

Tôi tin rằng việc chúng tôi thảo luận nhân quyền với Chính phủ Việt Nam và để Chính phủ biết khi nào chúng tôi khó chịu hoặc quan ngại về các động thái nhân quyền là một việc làm hoàn toàn phù hợp. Tôi cũng cho rằng cần ghi nhận và khen ngợi khi Việt Nam có những tiến bộ.

Tôi tin rằng, trong các cuộc trao đổi của tôi với nhân dân Việt Nam, các nhà lãnh đạo tôn giáo và những người thuộc nhiều thành phần trong xã hội Việt Nam, họ đều tin rằng đã có những tiến bộ rõ rệt về tự do tôn giáo ở Việt Nam. Tuy nhiên tình hình chưa được hoàn hảo và vẫn còn một số vấn đề chúng tôi cần tiếp tục trao đổi với Chính phủ, song các vấn đề đó không nghiêm trọng tới mức để chúng tôi phải nói rằng nên đưa Việt nam trở lại danh sách các nước đặc biệt quan ngại về tự do tôn giáo.

Như tôi đã nói trong lời khai mạc, chúng tôi vẫn còn quan ngại về nhiều cuộc bắt giam gần đây, việc hình sự hoá những hành vi mà chúng tôi coi là tự do ngôn luận, hoặc việc trao đổi những vấn đề mà hầu hết các nước trên thế giới không coi là phạm tội. Chúng tôi quan ngại về vấn đề đó và chúng tôi thường xuyên đưa vấn đề này ra trao đổi với Chính phủ Việt Nam. Thông qua các cuộc đối thoại về nhân quyền và các cuộc trao đổi chính thức và không chính thức với chính phủ, chúng tôi hy vọng sẽ đạt được một số tiến bộ về những vấn đề này.

Câu hỏi: Tôi muốn hỏi tiếp câu hỏi của phóng viên Nhật Bản về quan hệ Mỹ-ASEAN.

Trong chuyến thăm Châu Á sắp tới, Tổng thống Obama sẽ dừng chân tại bốn nước. Mỹ luôn nói rằng Việt Nam là một trong những đối tác hàng đầu tại khu vực. Vậy tại sao ông Obama không đến Việt Nam [trong chuyến thăm này]?

Đại sứ Michalak: Tôi không biết. Tôi nghĩ bạn cần hỏi chính Tổng thống Obama câu hỏi đó.

Tôi đã nói với Tổng thống rằng ông ấy nên đến Việt Nam. Nhưng với tư cách là người đã từng làm việc để tổ chức nhiều chuyến thăm của các Tổng thống trước đây, tôi biết rằng có rất nhiều yếu tố cần cân nhắc. Năm nay thì Tổng thống sẽ không sang Việt Nam. Nhưng chúng tôi đang làm việc để có thể có chuyến thăm trong năm tới.

Câu hỏi: Khi mới bắt đầu làm việc tại Việt Nam, ông nói hợp tác giáo dục là một trong những ưu tiên hàng đầu của mình. Tôi được biết số sinh viên Việt Nam sang Mỹ du học đã tăng. Vậy trong thời gian còn lại của nhiệm kỳ, ông có tiếp tục nỗ lực tăng số sinh viên Việt Nam sang Mỹ du học, hoặc khuyến khích các cơ sở giáo dục của Mỹ mở văn phòng tại Việt Nam hay không?

Đại sứ Michalak: Tôi đã nói, thậm chí ngay từ trước khi đến Việt Nam, rằng tôi muốn tăng gấp đôi số sinh viên Việt Nam sang Mỹ. Chúng tôi đã làm được điều đó. Chúng tôi sẽ tiếp tục làm việc để đưa thêm sinh viên Việt Nam sang Mỹ. Nhưng tôi không chắc tôi có thể hứa là sẽ lại tăng gấp đôi con số một lần nữa. [Cười]

Chúng tôi cũng cố gắng đưa nhiều trường đại học Mỹ hơn nữa đến Việt Nam. Tôi đã tổ chức hai hội thảo giáo dục và sẽ tổ chức thêm một cuộc nữa trong năm tới, nhằm tăng cường các mối liên kết nói trên. Tôi được nghe rất nhiều thông tin thú vị về các trường đại học tư nhân dự định được mở tại Việt Nam và sẽ chủ yếu sử dụng mô hình đào tạo của Mỹ. Chúng tôi sẽ làm việc với các trường đó để có thể giúp đỡ họ theo bất cứ hình thức nào có thể. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng sẽ tiếp tục làm việc với Chính phủ Việt Nam, vì bản thân Chính phủ cũng muốn có sự hỗ trợ của chúng tôi để thực hiện kế hoạch xây dựng một trường đại học theo kiểu Mỹ của Chính phủ. Chúng tôi nghĩ rằng bản báo cáo của Nhóm Công tác Giáo dục Việt Nam-Hoa Kỳ sẽ có một số gợi ý hữu ích. Hy vọng rằng báo cáo này sẽ sớm được công bố. Hiện chúng tôi chỉ còn chờ thêm một chữ ký.

Chúng tôi cũng đã mở rộng chương trình Fulbright và sẵn sàng nỗ lực hết mức có thể để tiếp tục mở rộng các chương trình hợp tác với chính phủ trong lĩnh vực giáo dục.

Câu hỏi: Tôi không rõ vấn đề quan hệ kinh tế thương mại có phải là đề tài ông ưa thích hay không, nhưng xin được hỏi ông một câu hỏi. Việt Nam đã thu hút lượng đầu tư lớn từ các nhà đầu tư và doanh nghiệp Mỹ. Trong bốn tháng đầu năm nay, Hoa Kỳ đã trở thành nhà đầu tư hàng đầu [tại Việt Nam]. Vậy theo ông, tại sao Việt Nam thu hút được nhiều đầu tư từ Mỹ? Ông vui lòng cho biết đánh giá về triển vọng đầu tư từ Mỹ vào Việt Nam trong tương lai?

Đại sứ Michalak: Bạn nói đúng. Trong bốn tháng, hoặc thậm chí sáu tháng đầu năm nay, Hoa Kỳ là nhà đầu tư hàng đầu tại Việt Nam. Trên thực tế, chúng tôi có thể vẫn là nhà đầu tư hàng đầu tại Việt Nam. Tôi chỉ không chắc đó là do Hoa Kỳ đầu tư nhiều hơn hay do các nước khác giảm bớt đầu tư tại Việt Nam.

Kinh tế toàn cầu suy giảm đã tác động tiêu cực đến nhiều nước trong khu vực; đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng giảm khá nhiều trên toàn thế giới. Nhưng có thể nói tôi tin tưởng rằng các công ty Mỹ vẫn rất quan tâm đến Việt Nam.

Tối qua, tôi có buổi tiếp bốn, năm công ty Mỹ chuyên về IT tại nhà mình. Họ cho tôi biết về nhiều kế hoạch của họ, trong đó có một số kế hoạch rất hay cho Việt Nam trong thời gian tới. Cuối tuần vừa rồi tôi ở Đà Nẵng và có cuộc gặp với Hội đồng Cố vấn Kinh doanh APEC. Tôi được nghe không chỉ từ các đại diện Hoa Kỳ mà còn từ các đại diện khác trong toàn khu vực APEC rằng họ rất thích thú với những gì họ thấy tại Việt Nam.

Việt Nam đã thực hiện rất nhiều cải cách kinh tế mà tôi cho rằng rất hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Điều quan trọng là liệu Việt Nam có tiếp tục nhịp độ cải cách như từ trước đến nay hay không. Ví dụ, gần đây tôi được biết báo chí đưa tin Thủ tướng đã nói muốn dỡ bỏ khoảng 30 phần trăm các quy định về kinh tế của Việt Nam. Đây là một phần của Đề án 30 đang được Chính phủ triển khai. Tôi cho rằng đây là một đề án tuyệt vời. Tôi hoan nghênh ngài Thủ tướng đã cho thực hiện đề án này. Chính các cải cách như vậy cũng như sự ủng hộ từ các cấp cao nhất của chính phủ sẽ tiếp tục làm Việt Nam giữ được tính cạnh tranh và hấp dẫn đối với nhà đầu tư nước ngoài.

Tôi rất thích nói về chủ đề kinh tế. Chắc chắn rồi. Bất cứ lúc nào. [Cười].

Câu hỏi: Tôi là phóng viên Tạp chí Việt-Mỹ. Xin ông cho biết cụ thể về Đối tác Mê Kông-Mississippi. Ông cũng nói là ngân sách hạn chế không cho phép Mỹ mở lãnh sự quán tại Đà Nẵng. Vậy việc xây toà đại sứ mới ở Hà Nội như thế nào? [Cười].

Đại sứ Michalak: Tôi rất mừng là bạn hỏi câu hỏi này, thưa ngài Thượng nghị sĩ.

Ngân sách là một vấn đề trong quá trình bàn thảo về toà đại sứ mới. Tuy nhiên, cũng còn các vấn đề khác, mà tôi muốn nói rằng, nằm ở cả hai phía. Cả phía Hoa Kỳ và Việt Nam đều có một số vấn đề làm cho việc xây toà đại sứ mới trở nên rất khó khăn trong thời điểm này. Nhưng tôi sẽ không nói cụ thể về điều đó.

Về đối tác Mê-kông, chúng tôi nhận thấy có nhiều hoạt động hợp tác giữa các nước thuộc và không thuộc khu vực Mê-kông nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực Mê-kông. Tôi biết rằng Nhật Bản đang có rất nhiều hoạt động ở đây. Chúng tôi cũng nhận thấy một số hoạt động của một vài nước khác. Chúng tôi tin rằng Mê-kông là một phần thiết yếu trong tương lai của Việt Nam, do đó chúng tôi thấy tầm quan trọng của việc hỗ trợ Việt Nam tiếp tục phát triển để cũng có thể tham gia vào khu vực Mê-kông.

Đây là cuộc họp đầu tiên của Bộ trưởng Ngoại giao các nước sông Mê-kông. Một trong những vấn đề được thảo luận là liệu có muốn tiếp tục đối tác này hay không, và có ý tưởng nào cho việc nâng cao hợp tác trong tương lai hay không. Tôi được biết tất cả các Bộ trưởng Ngoại giao, trong đó có Bộ trưởng Phạm Gia Khiêm, đều cho rằng cuộc họp thượng đỉnh cấp khu vực như thế này là rất tốt và họ chắc chắn muốn tổ chức cuộc họp tiếp theo trong năm tới, tức là năm Việt Nam chủ trì ASEAN. Về việc giải quyết các vấn đề như sử dụng nguồn nước tốt nhất như thế nào, làm sao để khai thác sông Mê-kông về phương diện năng lượng một cách hiệu quả nhất, điều gì sẽ xảy ra với sông Mê-kông khi quá trình nóng lên của trái đất tiếp diễn? Đây là những câu hỏi nằm trong mối quan tâm của các nước sông Mê-kông cũng như trong phạm vi mối quan hệ chặt chẽ giữa đồng bằng Mississippi và đồng bằng Mê-kông. Do đó chúng tôi tin rằng có cơ hội thực sự để trao đổi ý tưởng và các thông lệ tốt nhất một cách hiệu quả.

Câu hỏi: Tôi muốn quay trở lại câu hỏi về hợp tác kinh tế giữa Mỹ và Việt Nam. Mỹ đặc biệt quan tâm đầu tư vào lĩnh vực nào tại Việt Nam trong dài hạn cũng như trong ngắn hạn?

Đại sứ Michalak: Tôi nghĩ có rất nhiều lĩnh vực. Hiển nhiên chúng ta đã thấy lượng đầu tư lớn vào lĩnh vực bán dẫn. Và không chỉ có bán dẫn. Sắp tới sẽ có nhà máy lắp ráp đầu tiên của Intel, tôi nghĩ đó là nhà máy lắp ráp đầu tiên hoặc lớn nhất của Intel tại Châu Á.

Chúng tôi đã có nhà máy tuốc-bin gió tại Hải Phòng. Chúng tôi cũng đang giúp xây dựng các cảng biển ở phía Nam. Boeing đang muốn tìm hiểu khả năng mua linh kiện máy bay từ Việt Nam. Các công ty IT cũng đang tìm hiểu khả năng sử dụng phần mềm của Việt Nam tại nhiều cơ sở IT trên khắp thế giới.

Tôi cho rằng những gì các bạn đang thấy là mong muốn của nhiều nhà đầu tư về việc phát triển công nghệ và bắt đầu tận dụng lợi thế về sinh lực và sức trẻ của Việt Nam.
 
Do đó tôi cho rằng có rất nhiều cơ hội ở đây, nhưng bên cạnh đó cũng có rất nhiều thách thức. Để có lượng đầu tư đó, Việt Nam cần có lực lượng lao động lành nghề. Cần tiếp tục cải cách giáo dục, cải thiện cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện cho việc vận chuyển hàng hoá trong nước và trong khu vực. Có rất nhiều thách thức, đòi hỏi phải có nhiều nỗ lực.

Câu hỏi: Dường như ông rất thích nói về đề tài kinh tế. Vậy tôi có một câu hỏi dành cho ông. Nền kinh tế Mỹ đang có dấu hiệu hồi phục. Nhưng ông có nghĩ thói quen tiêu dùng [của người Mỹ] sẽ không còn giống như trước khi suy thoái xảy ra? Ông nghĩ sao về việc này và nó sẽ có ảnh hưởng đến xuất khẩu của Việt Nam như thế nào? Theo ông, thuận lợi và bất lợi của của sự hồi phục đó đối với kinh tế Việt Nam là gì? Đối phó với sự thay đổi đó như thế nào? Xin cảm ơn ông.

Đại sứ Michalak: Thường thì những người có thể trả lời những câu hỏi đó được trả lương nhiều hơn tôi rất nhiều. [Cười]. Tôi sẽ trả lời câu hỏi của bạn, nhưng tôi mong là câu trả lời này sẽ không xứng đáng với đúng số tiền mà bạn phải trả để có được nó. [Cười].

Tôi cho rằng các mô hình tiêu dùng ở Mỹ đã có sự thay đổi. Trong một số năm tới, mọi người sẽ cảm thấy không chắc chắn về tương lai, do đó họ sẽ tiết kiệm hơn trong chi tiêu. Chúng tôi hy vọng rằng quá trình phục hồi [của nền kinh tế] sẽ bao gồm cả sự phục hồi của thị trường lao động. Nhưng không rõ sẽ mất bao lâu để thị trường lao động phục hồi.

Nhìn chung, điều này có nghĩa là người tiêu dùng thay vì mua loại cao cấp nhất, đắt tiền nhất của một thứ hàng hoá nào đó, sẽ chuyển sang mua loại ở mức trung bình. Tôi nghĩ trên thực tế điều này sẽ có lợi cho Việt Nam, vì một số thị trường mục tiêu đối với hàng may mặc, giày dép và đồ nội thất của Việt Nam là các nhà bán lẻ các hàng hoá có giá trị ở mức trung bình tại Mỹ. Thậm chí chúng ta đã thấy điều đó. Tôi cho rằng Việt Nam là một trong số ít các nước mà xuất khẩu may mặc vào Mỹ không bị giảm đáng kể.

Như vậy, tôi cho rằng đây sẽ là một lợi thế cho Việt Nam.

Câu hỏi: Xin có câu hỏi về vấn đề chất Da Cam. Xin ông cho biết ý kiến về vụ kiện các công ty Mỹ của nạn nhân chất Da Cam Việt Nam? Xin ông cho biết về hợp tác giữa Hoa Kỳ và Việt nam trong giải quyết ô nhiễm dioxin và chất Da Cam tại Việt Nam?

Đại sứ Michalak: Tôi không nêu quan điểm về các vụ kiện pháp luật. Tôi không phải là luật sư. Hầu hết các vấn đề pháp lý đều quá phức tạp đối với tôi. Tôi biết rằng về phía mình, Chính phủ Hoa Kỳ từ năm 2001 đã làm việc với Chính phủ Việt Nam về rất nhiều phương diện khác nhau của vấn đề Da Cam/dioxin, như y tế ,nghiên cứu khoa học, môi trường.

Chúng tôi đã có quan hệ hợp tác tốt đẹp với Văn phòng Ban chỉ đạo 33; Ủy ban Cố vấn Chung [về chất Da Cam/dioxin] đã nhóm họp 2 hoặc 3 lần, cuộc họp tiếp theo sẽ được tổ chức trong hai tuần tới tại Hà Nội.

Chúng tôi cũng đã bắt đầu một số công việc về phục hồi [môi trường]. Chính phủ Việt Nam đã yêu cầu chúng tôi làm việc tại các điểm nóng ở Đà Nẵng. Chúng tôi đã tiến hành công việc đó và đã gửi một số mẫu đất đi xét nghiệm, nhằm xem xét mức độ hiệu quả của công nghệ phục hồi môi trường đang được áp dụng tại đó.

Chúng tôi cũng đã bắt đầu triển khai ba dự án về sức khoẻ tại khu vực Đà Nẵng. Tôi nghĩ rằng trong cuộc họp sắp tới của Uỷ ban Cố vấn Chung, chúng tôi sẽ rà soát các tiến bộ đã đạt được. Xin được nhắc lại là Chính phủ Việt Nam đã phối hợp cùng chúng tôi trong từng bước thực hiện, giúp chúng tôi quyết định xem dự án nào sẽ mang lại lợi ích nhiều nhất và sẽ hợp tác triển khai như thế nào. Tôi trông đợi sẽ tiếp tục quan hệ hợp tác đó.

Câu hỏi: Tôi có một câu hỏi nữa về vấn đề nhân quyền. Ông có nhắc đến tên một số người bị bắt. Sứ quán có thông lệ gửi cho Chính phủ danh sách những người mà các ông muốn được thả hay không, trước ngày Quốc khánh Việt Nam chẳng hạn?

Đại sứ Michalak: Có chứ.

Câu hỏi: Vậy danh sách đó gồm những ai? Nó được gửi khi nào và như thế nào?

Đại sứ Michalak: Khi thông tin về đặc xá được công bố, chúng tôi gửi thư đến cơ quan chức năng kèm theo danh sách những người chúng tôi muốn được thả. Chúng tôi không công bố danh sách đó.

Câu hỏi: Ông có thấy có tín hiệu tốt nào cho một trường hợp bất kỳ trong danh sách đó hay không?

Đại sứ Michalak: Thông thường những tín hiệu tốt mà chúng tôi thấy chỉ xuất hiện sau khi danh sách đặc xá đã được công bố. Lúc đó chúng tôi sẽ xem để biết các tín hiệu tốt đó là gì. [Cười].

Câu hỏi: Xin ông đánh giá về quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trong lĩnh vực giáo dục?

Đại sứ Michalak: Tôi cho rằng triển vọng hợp tác Việt Nam-Hoa Kỳ về giáo dục rất lớn. Chúng tôi tiếp tục nỗ lực tăng số sinh viên Việt Nam sang Mỹ du học, tăng cường hợp tác giữa các trường đại học và cơ sở giáo dục của Hoa Kỳ và Việt Nam, cũng như làm những gì có thể để hỗ trợ các chương trình cải cách quy định mà Chính phủ Việt Nam muốn thực hiện.

Tôi muốn thấy các giáo sư Việt Nam tham gia các khoá học tại Mỹ, các giáo sư Mỹ sang Việt Nam, nhiều sinh viên Việt Nam hơn nữa, và thậm chí là cả các quan chức chính phủ, sẽ sang Mỹ theo học các khoá ngắn hạn. Chúng tôi sẽ xem xét nhiều lựa chọn khác nhau. Những gì có thể làm được, chúng tôi sẽ làm.

Xin cảm ơn các bạn.

# # # #


 

lên đầu trang ^

Công cụ:

Printer_icon.gif In trang này



 

    Trang Web này được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ quản lý.
    Chúng tôi không chịu trách nhiệm về nội dung và tính bảo mật thông tin của các trang Web khác được liên kết đến.


Đại sứ quán Hoa Kỳ