jump over navigation bar
Embassy SealBộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Đại sứ quán Hoa Kỳ - Hanoi, Vietnam flag graphic
Đại sứ quán Hoa Kỳ
 
  Phó Đại sứ Cựu Đại sứ Đại sứ M.W. Marine

Phát biểu của Đại sứ Michael W. Marine

Từ thù thành bạn: Tăng cường sự tham gia của Hoa Kỳ tại Việt Nam

Phát biểu tại Chicago Club
81 East Van Buren Street
17h30, 27 tháng 3, 2007

Xin kính chào và xin cảm ơn sự đón tiếp của Quý vị trong buổi tối hôm nay. Tôi rất ấn tượng khi xem danh sách những nhân vật quan trọng được Hội đồng Các vấn đề toàn cầu Chicago đón tiếp hàng tháng và lấy làm vinh dự được là một người trong số đó.

Khi chuẩn bị cho chuyến thăm này, tôi đã tìm hiểu chút ít về thành phố khả kính của Quý vị. Tôi được biết biệt danh Windy City (Thành phố Gió thổi) của Chicago hoàn toàn không bắt nguồn từ đặc trưng thời tiết nơi đây. Rõ ràng, người dân Chicago trong cuộc cạnh tranh giành quyền đăng cai Hội chợ Thế giới 1883 đã làm những người New York, và thậm chí có lẽ cả những người Washington nữa, phải nể sợ bởi sự kiên trì của mình. Biệt danh mới của Chicago đã ra đời từ đây. Và hơn hết, thành phố đã tổ chức thành công kỳ Hội chợ Thế giới nổi danh trong năm đó. Điều này nói lên đức tính chịu đựng bền bỉ của Quý vị. Mặc dù vậy, tôi không hy vọng bài phát biểu của mình tối hôm nay sẽ một lần nữa thử thách đức tính đó, mà tôi mong rằng nó sẽ là xuất phát điểm để chúng ta sẽ cùng trao đổi và thảo luận với nhau. 

Tôi cũng đã tìm hiểu một số chi tiết khác nữa về thành phố của Quý vị. Tôi được biết Chicago được thành lập từ năm 1833 với số dân lúc bấy giờ là 350 người. Uỷ ban Thương mại, một trong những ưu tiên ban đầu của thành phố, ra đời năm 1848. Kể từ khi thành lập, thành phố đã trải qua những kỳ thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn và chiến tranh, đồng thời với sự phát triển mạnh mẽ, sâu rộng về thương mại, kiến trúc và môi trường chính trị năng động dành cho những nỗ lực của người dân Chicago. Không chỉ tồn tại qua những thời kỳ khó khăn này, Chicago còn trở nên vô cùng thịnh vượng.

Tôi hy vọng Quý vị sẽ không ngạc nhiên khi tôi nói rằng có nhiều điều gợi cho tôi nhớ đến Hà Nội, nơi tôi đang sinh sống. Cũng giống Chicago, Hà Nội được hình thành từ một thị trấn nhỏ bé gần 1000 năm trước đây. Và cũng như đất nước Việt Nam, Hà Nội đã trải qua những gian nan, khổ cực, thử thách và chiến thắng. Trong những năm gần đây, đất nước này đã trỗi dậy mạnh mẽ hơn bao giờ hết trên nhiều bình diện khác nhau.

Tôi đảm nhiệm cương vị Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam từ tháng 9 năm 2004. Trong bài phát biểu của tôi tại Phòng Thương mại Hoa Kỳ không lâu sau khi tôi đến Việt Nam, tôi đã bày tỏ hy vọng mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ ngày càng phát triển sâu rộng. Tôi ghi nhận rằng cả hai bên cần kiên trì trong quá trình xây dựng lòng tin hơn nữa trong quan hệ song phương . Tôi muốn gọi đó là mối quan hệ “non trẻ, nhưng đầy hứa hẹn”.

Giờ đây, sau hai năm rưỡi, tôi có thể nói một cách tự hào rằng Hoa Kỳ và Việt Nam, với rất nhiều nỗ lực, đã tiến một bước xa trong việc đạt được mục tiêu nói trên. Những mối liên kết giữa hai bên đã được mở rộng và tăng cường, thậm chí nhiều mối quan hệ đã được thiết lập trong những lĩnh vực chưa từng được khai phá trước đây.

Có rất nhiều nguyên nhân cho việc này. Tuy nhiên, tôi tin rằng nguyên nhân chủ yếu là ở cả hai bờ Thái Bình Dương đều có sự nhìn nhận căn bản về tầm quan trọng của mối quan hệ ổn định và có lợi giữa hai bên, cũng như về việc các mục tiêu chiến lược của Việt Nam và Hoa Kỳ đang ngày càng xích lại gần nhau. Hai bên có cùng mục tiêu về tăng trưởng và phát triển của khu vực Đông Nam Á, ổn định và an ninh của khu vực châu Á-Thái Bình Dương, thành công trong cuộc chiến chống các nguy cơ xuyên quốc gia, tiếp tục quan hệ hợp tác trao đổi giữa chính phủ và nhân dân hai nước.

Đây là một thời kỳ vô cùng đặc biệt đối với Việt Nam. Khi hai bên nối lại quan hệ ngoại giao năm 1995, Việt Nam vừa trải qua nhiều thập kỷ chiến tranh. Những thế hệ người Việt Nam đi trước chỉ biết đến sự cô lập với thế giới bên ngoài và cơ chế kế hoạch hóa tập trung cộng sản chủ nghĩa. Hà Nội lúc bấy giờ chỉ có 2,4 triệu dân và hơn một triệu chiếc xe đạp. Ngày nay, Hà Nội đã trở thành một thành phố với số dân hơn 3,1 triệu và có khoảng 4 triệu xe gắn máy.

Hiện nay, Việt Nam đã là thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và được hưởng Quy chế Quan hệ Thương mại Bình thường Vĩnh viễn với Hoa Kỳ. Năm 2006, Việt Nam đã đăng cai tổ chức Hội nghị Các nhà lãnh đạo cấp cao của Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC). Lãnh đạo của 21 quốc gia, trong đó có Tổng thống Bush của Hoa Kỳ, đã gặp gỡ và làm việc với nhau. Những khó khăn và thách thức mà Việt Nam đã trải qua để tổ chức thành công APEC 2006 là vô cùng to lớn. Trước thềm sự kiện lịch sử này, các quan chức cấp cao của Hoa Kỳ, bao gồm Ngoại trưởng Condoleezza Rice, Bộ trưởng Tài chính Hank Paulson, Đại diện Thương mại Susan Schwab, đã làm việc với những người đồng nhiệm phía Việt Nam để thảo luận về mọi phương diện của mối quan hệ song phương mà mới chỉ hai năm trước đây tôi còn gọi là “non trẻ”.

Giờ đây, ngoài các quan chức chính phủ, những người đứng đầu các tập đoàn như Boeing, Microsoft, Intel, Motorola và các công ty hàng đầu khác của Hoa Kỳ thường xuyên có các chuyến thăm cũng như đã trở thành những đối tác quan trọng của Việt Nam. Kể từ khi Hiệp định Thương mại Song phương Việt-Mỹ bắt đầu được thực thi từ cuối năm 2001, đồng thời trong quá trình Việt Nam chuẩn bị gia nhập WTO, Việt Nam đã sửa đổi, cải thiện toàn bộ hệ thống luật pháp về đầu tư và thương mại. Kết quả đạt được là mức tăng trưởng mạnh mẽ trong thương mại hai chiều với Hoa Kỳ, với giá trị nhảy vọt từ 1,5 triệu đô-la năm 2001 lên 9,7 triệu đô-la năm 2006. Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam và là quốc gia đứng thứ tư về các hoạt động đầu tư tại Việt Nam.

Việt Nam đã trở thành một điểm đầu tư vô cùng hấp dẫn, một Con hổ châu Á khác đang trỗi dậy, với kỳ vọng thu hút ít nhất 15 triệu đô-la đầu tư trực tiếp nước ngoài trong năm nay. Thị trường chứng khoán Việt Nam đã tăng trưởng một cách đáng kinh ngạc với tỉ lệ 144% năm 2006 và đã tăng hơn 50% trong năm nay.

GDP của Việt Nam tăng ở mức ít nhất 7% mỗi năm trong vòng 5 năm qua, đặc biệt là mức 8.2 % năm ngoái. Tăng trưởng bình quân đầu người đã gấp đôi trong 14 năm qua, từ 355 đô-la năm 1993 lên 720 đô-la năm 2007. Chúng tôi tiên liệu rằng tăng trưởng sẽ tiếp tục đạt mức hiện tại trong nhiều năm tới đây, và Chính phủ Việt Nam đã có các kế hoạch để đạt được điều đó.

Ấn tượng hơn nữa là những thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực y tế và xóa đói giảm nghèo. Theo Ngân hàng Thế giới, tỉ lệ nghèo đói đã giảm 2/3, từ mức 59% năm 1993 xuống còn 19% theo số liệu thống kê mới nhất. Tỉ lệ tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm một nửa, từ 38 trường hợp/1.000 em năm 1990 xuống chỉ còn 19 trường hợp năm 2003.

Trên toàn đất nước Việt Nam, bạn có thể thấy tràn ngập nguồn sinh lực, bầu nhiệt huyết và hy vọng. Tuy nhiên, Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức thực sự và vẫn còn rất nhiều công việc đang chờ đợi phía trước.

Theo bản Báo cáo “Doing Business 2007” của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam đã thụt lùi xuống vị trí 104 trong tổng số 175 quốc gia - giảm 6 bậc - về phương diện môi trường kinh doanh tích cực. Nguyên nhân của việc này là sự chậm trễ trong việc thực hiện cải cách luật pháp, các chính sách rườm rà, năng lực thực thi hợp đồng yếu kém, chế độ bảo vệ nhà đầu tư thiếu chặt chẽ.

Việt Nam cần khẩn trương triển khai các hoạt động chống tham nhũng tại tất cả các cấp, như cam kết của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng. Tham nhũng diễn ra hàng ngày và ảnh hưởng đến các công dân Việt Nam thuộc mọi thành phần xã hội. Căn bệnh ung thư nếu không được xử lý một cách toàn diện và công khai sẽ đe dọa huỷ hoại những tiềm năng của đất nước. Các rào cản đối với các nỗ lực cải cách toàn diện còn rất lớn. Rõ ràng sự chậm trễ trong việc tạo ra những thay đổi cần thiết sẽ làm giảm khả năng Việt Nam hoàn thành chuyển đổi kinh tế để trở thành một quốc gia có thu nhập trung bình, cũng như việc hiện thực hoá giấc mơ trở thành một đất nước công nghiệp vào năm 2020.

Ngoài ra, để phát triển hơn nữa mối quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam trên mọi phương diện, Chính phủ Hà Nội cần xem xét lại một số nguyên tắc về chính sách đối ngoại của mình, đặc biệt là quan điểm “Làm bạn với tất cả các quốc gia”. Với tư cách là một nước được hưởng lợi từ hệ thống thương mại toàn cầu, chúng ta trông đợi Việt Nam sẽ có thái độ trách nhiệm hơn trong mối quan hệ với các quốc gia đang đe doạ sự ổn định của khu vực và toàn cầu như Myanmar, Iran và Bắc Triều Tiên.

Hoa Kỳ cũng hy vọng và trông đợi Việt Nam sẽ có những thay đổi, cho phép các công dân của mình được tự do hơn nữa trong việc bày tỏ chính kiến, thực hiện các tập tục tín ngưỡng, tôn giáo, tham gia hơn nữa vào các hệ thống quản lý nhà nước minh bạch nhằm đảm bảo trách nhiệm giải trình, gồm cả quyền được lựa chọn người lãnh đạo và người đại diện cho mình. Mặc dù đã đạt được các thành tựu phát triển quan trọng về kinh tế và xã hội, việc tiếp tục đà phát triển đó đòi hỏi Việt Nam khai thác tối đa năng lực và khả năng sáng tạo của người dân. Điều này sẽ không thể thực hiện được dù ở bất cứ xã hội nào nếu xã hội đó không có hệ thống chính trị cởi mở, cho phép mỗi cá nhân được tự do bày tỏ quan điểm của mình, cả về chính trị lẫn các phương diện khác, theo những cách thức ôn hòa.

Hiện nay, vẫn còn một số cá nhân đang bị cầm tù hoặc bị quản thúc tại Việt Nam. Họ bị buộc tội chỉ bởi vì đã bày tỏ những chính kiến của mình một cách ôn hòa. Do đó, tôi đã và sẽ tiếp tục yêu cầu Chính phủ Việt Nam trả tự do cho nhà báo Nguyễn Vũ Bình, luật sư Lê Thị Công Nhân, luật sư Nguyễn Văn Đài, linh mục Công giáo Nguyễn Văn Lý, nhà hoạt động về vấn đề nhà đất Bùi Kim Thành và luật sư Lê Quốc Quân. Đồng thời, để phục vụ mục đích phát triển và hội nhập quốc tế hơn nữa của Việt Nam, tôi đề nghị Chính phủ Việt Nam có những hành động cần thiết để hợp pháp hoá việc bày tỏ chính kiến cá nhân theo các con đường phi bạo lực.

Tháng trước, tôi tham dự một chương trình giao lưu trực tuyến trên VietnamNet, trang thông tin điện tử lớn nhất Việt Nam với số lượng truy cập lên tới 50 triệu lượt một ngày. Trong vòng 2 giờ đồng hồ, tôi đã nhận được hàng trăm câu hỏi trực tiếp về các chủ đề từ nhân quyền, đầu tư trực tiếp nước ngoài, các nỗ lực của Hoa Kỳ trong việc phòng chống HIV/AIDS, đến các vấn đề về tự do tôn giáo và thậm chí cả những câu hỏi về việc học tập của tôi tại trường đại học. Băng ghi âm toàn bộ cuộc phỏng vấn, hoàn toàn chưa biên tập, đã được đăng trên website của VietnamNet trong thời gian một tuần lễ. Tuy nhiên bản ghi cuối cùng được đăng trên chính website này ngày hôm sau đã bị lược bỏ 3 câu. Đó là phần tôi kêu gọi Chính phủ Việt Nam cho phép các công dân của mình được tự do hơn nữa trong việc bày tỏ chính kiến cá nhân. Điều này nhắc nhở chúng ta rằng người dân Việt Nam rất mong muốn được trao đổi thông tin, nhưng Chính phủ của họ vẫn thực hiện các hoạt động kiểm soát khi các quan chức chính phủ cảm thấy họ bị chỉ trích.

Tôi và các cộng sự của mình tiếp tục nhấn mạnh tầm quan trọng của các quyền tự do cơ bản - bày tỏ chính kiến, tôn giáo, hội, họp - mà chúng ta, những công dân Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác trên thế giới đang được hưởng và trân trọng. Hoa Kỳ cũng sẽ tiếp tục khuyến khích việc thực hiện các thông lệ thương mại minh bạch và cởi mở, xây dựng hệ thống giáo dục bình đẳng và năng động, quản lý tài nguyên thiên nhiên bền vững, hợp tác với tinh thần trách nhiệm cao giữa các tổ chức đa phương và khu vực, các nỗ lực chung trong việc giải quyết các vấn đề sức khỏe mà Việt Nam đang gặp phải hiện nay.

Một ví dụ điển hình là việc Việt Nam tham gia Kế hoạch Khẩn cấp Cứu trợ AIDS (PEPRAR) do Tổng thống Bush khởi xướng. Việt Nam là quốc gia châu Á duy nhất trong số 15 quốc gia trọng điểm của Kế hoạch này, với mục tiêu giảm sự lan truyền của đại dịch AIDS. Khoản trợ giúp trị giá 59 triệu đô-la cho Việt Nam trong năm nay cho phép thực hiện các hoạt động hợp tác tích cực và xây dựng quan hệ đối tác quan trọng nhằm đối phó các nguy cơ toàn cầu, đe dọa phá bỏ tiềm năng phát triển của Việt Nam nếu không được kiểm soát.  

Hiển nhiên, có rất nhiều thách thức to lớn trong mối quan hệ song phương giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Mặc dù vậy, tôi tin tưởng rằng Hoa Kỳ luôn sẵn sàng nâng mối quan hệ của mình với Việt Nam lên tầm cao mới, sâu sắc và chặt chẽ hơn trong nhiều lĩnh vực hơn nữa. Khi bước sang thập kỷ thứ hai của mối quan hệ bình thường hóa, quan hệ đối tác đang và sẽ ngày càng được củng cố với nỗ lực từ cả hai phía. Tôi hy vọng và tin tưởng rằng Việt Nam sẽ tiếp tục con đường cải cách luật pháp và kinh tế hiện nay, với những cải thiện khá vững chắc về môi trường kinh doanh và sự tín nhiệm ngày càng tăng đối với tính minh bạch của hệ thống quản lý nhà nước. Những nỗ lực cải cách này sẽ mang lại thay đổi trong khu vực doanh nghiệp sở hữu nhà nước và mức tăng trưởng hơn nữa cho khu vực tư nhân, cũng như bước đầu triển khai hiệu quả việc bảo hộ sở hữu trí tuệ, đem đến những tiến bộ vững chắc trong việc xây dựng chế độ pháp quyền.  

Cùng với môi trường kinh doanh đang tiếp tục được cải thiện, tôi cũng tin rằng các quyền tự do khác mà chúng ta, những người Mỹ, trân trọng cũng sẽ được tôn trọng, bắt rễ và nảy nở mãnh liệt tại Việt Nam.

Trước mắt chúng ta là cả những thách thức và thành quả. Tuy vậy, tôi vẫn rất lạc quan về sự phát triển của quan hệ đối tác và tình bằng hữu mạnh mẽ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Tôi cũng rất cảm kích chính quyền và người dân thành phố Chicago, các công ty như Boeing và Motorola, các tổ chức học thuật như Đại học Chicago và Đại học Loyola đã và đang đóng góp vào quá trình nói trên. Những người bạn Việt Nam của chúng ta thực sự may mắn khi có được những đối tác như Quý vị. Xin chân thành cảm ơn Quý vị và xin sẵn lòng trả lời một số câu hỏi của Quý vị.

lên đầu trang ^

Công cụ:

Printer_icon.gif In trang này



 

    Trang Web này được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ quản lý.
    Chúng tôi không chịu trách nhiệm về nội dung và tính bảo mật thông tin của các trang Web khác được liên kết đến.


Đại sứ quán Hoa Kỳ