Phát biểu của Đại sứ Michael W. Marine
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
Ngày 28 tháng 7 năm 2005
QUAN HỆ VIỆT NAM - HOA KỲ: CƠ HỘI VÀ NHỮNG TRỞ NGẠI
Kính thưa Ngài Chủ tọa - Giáo sư Phan Cự Đệ, thưa Chủ tịch Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam (VCCI), TS. Vũ Tiến Lộc. Thưa các vị khách quý, thưa quý ông, quý bà. Tôi rất vinh dự có cơ hội được thảo luận về mối quan hệ thương mại ngày càng phát triển giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Đặc biệt tôi rất vui vì đã có cơ hội được phát biểu trước sinh viên và các giáo sư của một số trường đại học của Việt Nam đang có mặt tại đây tối hôm nay.
Năm 2005 đánh dấu 30 năm ngày chiến tranh kết thúc - một mốc lịch sử quan trọng trong quan hệ song phương của chúng ta. Hơn nữa, năm nay còn là năm kỷ niệm 10 năm bình thường hóa quan hệ song phương giữa Việt Nam-Hoa Kỳ. Ngoài ra còn một mốc lịch sử nữa cũng đáng chú ý trong năm nay. Đầu tháng 7 cách đây năm năm, Đại diện Thương mại Hoa Kỳ lúc đó là Robert Zoellick và Bộ trưởng Thương mại lúc đó là Vũ Khoan đã ký Hiệp định Thương mại Song phương - hay còn gọi là BTA. Bước đột phá đó và quá trình thực hiện Hiệp định cho đến nay đã mở đường cho việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Trong bối cảnh lịch sử đó, tối hôm nay, tôi mong muốn được chia sẻ những suy nghĩ của mình về vị trí của mối quan hệ kinh tế Việt Nam-Hoa Kỳ hiện nay cũng như đường hướng phát triển của mối quan hệ này trong tương lai.
Kể từ khi BTA có hiệu lực từ tháng 12/ 2001, thương mại hai chiều đã tăng gấp ba lần và năm ngoái vượt mức 6,4 tỷ đô-la. Xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ đã tăng gấp đôi trong năm 2002 và 2003 và còn tăng thêm 16% năm 2004. Hoa Kỳ hiện là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam và chiếm 1/5 tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Xuất khẩu của Hoa Kỳ sang Việt Nam đã tăng 250% trong vòng ba năm qua. Những số liệu thống kê thương mại trong những tháng đầu năm 2005 cho thấy thương mại hai chiều tiếp tục tăng mạnh, đến tháng 5 đã lên tới 35%.
Đầu tư cũng là một điểm sáng khác trong quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ. Tổng số đầu tư của Hoa Kỳ tại Việt Nam hiện đã lên tới 2,6 tỷ đô-la. Năm ngoái, các công ty của Hoa Kỳ đã trở thành những nhà đầu tư lớn nhất về số vốn được thực hiện, lên tới 531 triệu đô-la, tương đương 19% tổng đầu tư tại Việt Nam. Các công ty của Hoa Kỳ ngày càng quan tâm tới đầu tư ở Việt Nam, một phần là do giá nhân công ở một số ngành thấp hơn 30% so với ở miền Nam Trung Quốc hiện nay. Mặc dù thương mại và đầu tư giữa hai nước đã tăng mạnh trong những năm gần đây nhưng vẫn còn rất nhiều cơ hội để phát triển hơn nữa.
Chuyến thăm lịch sử của Thủ tướng Phan Văn Khải tới Hoa Kỳ tháng trước đã đánh dấu mười năm đầu tiên trong quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ và mở đường cho hai nước đưa mối quan hệ lên một tầm cao mới. Trong khi chúng ta vui mừng vì đã khám phá và nhận ra những cơ hội thương mại mới trong chuyến thăm đó, cả hai nước muốn được thấy những mối quan hệ này được mở rộng hơn nữa và nhanh hơn nữa. Triển vọng rõ ràng là rất sáng lạn, tuy nhiên tối nay tôi muốn tập trung vào một số vấn đề có nguy cơ làm giảm triển vọng tăng trưởng trong thương mại song phương, và trên thực tế, thậm chí có thể phủ bóng đen lên những triển vọng về việc tiếp tục mở rộng nhanh chóng nền kinh tế của Việt Nam.
Việt Nam cần phải làm gì để có thể cạnh tranh được với các nước láng giềng nhằm thu hút đầu tư và mở rộng thị trường xuất khẩu? Câu trả lời là phải tăng cường sức hút của Việt Nam với tư cách là một điểm thu hút đầu tư và mở rộng cơ hội kinh doanh cho các công ty của Hoa Kỳ và của các quốc gia khác cũng như các công ty tư nhân của Việt Nam. Để làm được điều đó, Việt Nam cần phải xây dựng một nền kinh tế hoạt động hiệu quả, minh bạch, dựa trên luật pháp và không có tham nhũng. Điều đó có nghĩa là tạo điều kiện cho các công ty và các nhà đầu tư nước ngoài tiếp cận các thị trường và các ngành đang ngày càng lớn mạnh của Việt Nam trong khuôn khổ pháp lý và điều tiết có thể tiên liệu được. Điều đó cũng có nghĩa là thiết lập khu vực tài chính huy động vốn một cách có hiệu quả và cho vay vốn một cách có trách nhiệm nhằm hỗ trợ khu vực tư nhân đang bắt đầu phát triển. Và điều đó cũng có nghĩa là bảo vệ nguồn vốn trí tuệ, thường chỉ quyền sở hữu trí tuệ (IPR), thông qua các bộ luật mạnh và thực thi pháp luật có hiệu quả. Đồng thời, điều đó cũng có nghĩa là Việt Nam bây giờ phải đầu tư cải thiện cơ sở hạ tầng nhằm phục vụ mở rộng nền kinh tế trong khi vẫn tiếp tục có các biện pháp bảo vệ môi trường của đất nước tươi đẹp này.
Như tôi đã nêu ở trên, đầu tư của Hoa Kỳ đã tăng lên nhanh chóng trong những năm gần đây, chủ yếu là do hiệp định thương mại song phương đã loại bỏ một số rào cản vốn ngăn không cho các nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường Việt Nam, thế nhưng sức hút của môi trường đầu tư Việt Nam vẫn có thể được tăng cường hơn nữa. Các nhà đầu tư tiềm năng tìm đến những địa bàn đầu tư có hành lang pháp lý và điều tiết rõ ràng, minh bạch và có khả năng tiên liệu nhằm đảm bảo tính bất khả xâm phạm của các hợp đồng. Song, Việt Nam vẫn còn bị coi là một nơi đầu tư tương đối rủi ro và đắt đỏ hơn vì những vấn đề bất ngờ ở đây xảy ra thường xuyên hơn những nơi khác. Ví dụ, quy trình định giá của hải quan Việt Nam vẫn còn tùy tiện và không thể tiên liệu được. Các vụ tranh chấp sử dụng đất ở đây có thể kéo dài hàng tháng, thậm chí hàng năm. Hệ thống pháp luật còn non yếu và thiếu hiệu quả. Pháp quyền vẫn còn là ngoại lệ, chứ chưa phải là quy định. Các nhà lãnh đạo Việt Nam thừa nhận có thách thức này và đang gắng sức xây dựng hệ thống pháp luật.
Nguồn vốn trí tuệ là một thành tố then chốt trong kinh tế học ở thế kỷ 21. Bảo vệ không đầy đủ quyền sở hữu trí tuệ là nhân tố cản trở quan trọng khiến các nhà đầu tư tiềm năng nản lòng. Mặc dù Việt Nam đã bắt đầu xây dựng các bộ luật và quy định chặt chẽ để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, song việc thực thi những bộ luật và quy định này vẫn còn rất yếu kém. Nạn ăn cắp bản quyền và làm hàng giả vẫn là những mối quan ngại lớn, dù những sản phẩm đó là phim ảnh, âm nhạc, sách, phần mềm, dược phẩm hay các sản phẩm có thương hiệu khác. Thiếu cơ chế bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là một trở ngại lớn đối với đầu tư tri thức trong những ngành chủ chốt như phát triển phần mềm - một lĩnh vực mà Việt Nam rất có tiềm năng. Về phim ảnh và âm nhạc Mỹ, tỷ lệ đánh cắp bản quyền ở Việt Nam chắc chắn là 100%. Còn đối với dược phẩm và những loại sản phẩm khác, việc làm hàng giả là mối quan ngại lớn về sức khỏe. Tôi hy vọng Chính phủ Hoa Kỳ và Việt Nam cũng như cộng đồng doanh nghiệp và các tổ chức như VCCI sẽ phối hợp với nhau để tăng cường bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ thông qua việc thực thi có hiệu quả các bộ luật hiện hành và trừng phạt mạnh mẽ hơn những trường hợp vi phạm quyền sở hữu trí tuệ. Luật Sở hữu Trí tuệ hiện đang được soạn thảo sẽ là một cơ hội tốt để biến việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ thành một điểm mạnh, chứ không phải là một điểm yếu của Việt Nam. Tôi cũng muốn nói thêm rằng phải biến điều đó thành hành động cho khu vực tư nhân của Việt Nam. Khi các hội viên của VCCI xây dựng tài sản trí tuệ của chính họ thì lẽ tất yếu các quý vị đều hy vọng và đòi hỏi những tài sản đó phải được bảo vệ và không bị đánh cắp.
Quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường của Việt Nam một phần liên quan tới việc giảm bớt sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế dưới hình thức sở hữu, can thiệp và quá nhiều quy định. Trong thị trường ở Việt Nam, Nhà nước cần trở thành trọng tài chứ không nên vừa đá bóng vừa thổi còi. Việc đảm bảo một hệ thống tài chính lành mạnh thông qua giám sát và tạo một sân chơi bình đẳng nơi tất cả các công ty đều có thể cạnh tranh bình đẳng chính là vai trò của Nhà nước. Nhà nước không cần phải hạn chế thương mại và đầu tư trong các ngành, chẳng hạn như viễn thông, tài chính, phân phối và năng lượng. Nhà nước cũng không cần hạn chế sở hữu của nước ngoài trong phạm vi 30%. Hầu hết các nhà đầu tư nước ngoài đều muốn có tiếng nói, nếu không muốn nói là kiểm soát thực sự, trong việc quản lý các dự án hoặc công ty của họ. Việc giới hạn đầu tư dưới mức 50% là một hạn chế đối với nguồn vốn, chuyên môn, đào tạo và công nghệ. Điều này cũng đúng đối với việc nhượng quyền vốn mới chỉ được cho phép 5% tiền bản quyền. Tăng trưởng kinh tế sẽ bị hạn chế khi Nhà nước định giá hoặc trợ giá, thậm chí ngay cả với những mặt hàng thiết yếu như xăng dầu. Việc Nhà nước sở hữu nhiều doanh nghiệp và nhiều doanh nghiệp trong số đó không lành mạnh về tài chính nhưng lại sử dụng nguồn vốn rất lớn từ ngân hàng là điều không nên làm. Việc duy trì tình trạng lẫn lộn hiện nay giữa các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân sẽ dẫn tới ngày càng có nhiều khoản vay không hiệu quả và hạn chế tiềm năng tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam.
Bằng cách tạo ra một sân chơi bình đẳng trong lĩnh vực tài chính, chính phủ sẽ khuyến khích thành lập một thị trường vốn có thể thu hút nguồn tiết kiệm ngầm vào các ngân hàng, cho phép thị trường trái phiếu và cổ phiếu thu hút cả đầu trong nước lẫn đầu tư nước ngoài. Đây là những kênh huy động vốn cho khu vực tư nhân của Việt Nam. Việt Nam nên học hỏi từ các nước láng giềng. Chẳng hạn, Việt Nam nên hoàn thiện và mở rộng hệ thống ngân hàng thương mại, chứ không phải hệ thống tiết kiệm qua bưu điện. Cùng với việc phát triển thị trường vốn tư nhân, biện pháp này sẽ đảm bảo có thêm nguồn vốn cho các công ty làm ăn có lãi nhất.
Một trong những trở ngại lớn nhất đối với nỗ lực của Việt Nam nhằm xây dựng một môi trường đầu tư nước ngoài là sự thiếu minh bạch. Việc thiếu một lộ trình rõ ràng về cách thức đầu tư thiết lập một doanh nghiệp đã tạo cơ hội cho tham nhũng và làm tổn hại đến trách nhiệm và uy tín của chính phủ. Quá trình hoàn thiện các cơ chế pháp lý và luật thương mại của Việt Nam, cùng với sự chồng chéo về chức năng của các cơ quan nhà nước, việc thiếu thông tin và thường không đưa ra được những quyết định điều hành có thể áp dụng công khai, đã dấn tới tình trạng không rõ ràng, thiếu đồng bộ và nhất quán trong các chính sách và quyết định của chính phủ về các dự án thương mại. Chính điều này đã khiến cho việc kinh doanh tại Việt Nam khó tiên liệu. Cũng như ở nhiều quốc gia khác trong khu vực, tình trạng tham nhũng là vấn đề mà không chỉ các công ty của Hoa Kỳ, các công ty nước ngoài khác, mà cả các công ty của Việt Nam đều phàn nàn. Vấn đề này vẫn là một trở ngại lớn dù là trong đấu thầu trong các dự án lớn, kiểm tra hàng hóa tại hải quan hay bất cứ hoạt động kinh doanh bình thường nào khác. Do đó, việc ban hành các quy định rõ ràng và minh bạch là điều cần làm ngay.
Một lĩnh vực khác mà Việt Nam không thể không chú ý là cơ sở hạ tầng. Chất lượng và chi phí viễn thông, cảng biển, giao thông vận tải, xử lý rác thải và cung cấp nước sạch ở Việt Nam vẫn là mối quan ngại của bất cứ nhà đầu tư nào. Trong thế giới ngày nay, nếu không có khả năng tiếp cận xa lộ thông tin tốc độ cao, với chi phí thấp và thuận tiện thì nhiều nhà đầu tư sẽ không đến Việt Nam. Nền tảng của xa lộ thông tin là một hệ thống viễn thông có khả năng cạnh tranh, nhưng hiển nhiên đây lại là một điểm yếu của Việt Nam trong năm 2005. Việc mất điện cũng là nhân tố cản trở đầu tư. Và dĩ nhiên, khi kinh tế tăng trưởng hơn nữa thì nhu cầu về điện cũng sẽ lớn hơn. Các máy tính và máy chủ, suy cho cùng, cũng cần phải có điều hòa nhiệt độ thậm chí ngay cả khi người ta không cần đén nó. Đồng thời, Việt Nam cũng cần xử lý chất thải rắn và chất thải công nghiệp nhằm bảo vệ môi trường và sức khỏe cho người dân. Một số doanh nghiệp đang phải ngưng lại kế hoạch mở rộng của họ vì cảng Sài Gòn sẽ đạt công suất tối đa vào tháng 12 năm 2006.
Ngoài ra còn có nhiều nguy cơ rủi ro nữa về kinh tế. Sức mạnh của một nền kinh thế phụ thuộc phần nhiều vào sức khỏe của người dân của một quốc gia. Do vậy, Việt Nam hiện phải đối mặt với hai vấn đề lớn về y tế mà nếu không hành động kịp thời và cẩn trọng, những vấn đề này có thể sẽ nhanh chóng trở thành khủng hoảng nghiêm trọng. Một trong những vấn đề đó là dịch cúm gia cầm. Hoa Kỳ đang phối hợp với các quan chức Việt Nam, Tổ chức Y tế Thế giới, Tổ chức Nông Lương và nhiều nhà tài trợ khác để giúp Việt Nam lập kế hoạch phòng chống dịch cúm gia cầm. Vấn đề tiếp theo là HIV/AIDS. Tổng thống Bush đã xác định Việt Nam là một trong 15 quốc gia ưu tiên được nhận viện trợ trong Kế hoạch Cứu trợ AIDS Khẩn cấp của ông. Lý do chính khiến Tổng thống chọn Việt Nam là quốc gia ưu tiên thứ 15 - và là duy nhất ở châu Á - là vì căn bệnh này có khả năng được khống chế thực sự ở Việt Nam nếu có hành động kịp thời. Tuy nhiên, nếu chúng ta thất bại thì cái giá phải trả về con người và những chi phí khác sẽ rất lớn. Tôi đã từng công tác tại Kenya cuối những năm 1990 và đã tận mắt chứng kiến sự tàn phá mà HIV/AIDS có thể gây ra đối với một đất nước có sức sống mạnh mẽ và những triển vọng kinh tế của nó. Viện trợ của Chính phủ Hoa Kỳ sẽ giúp hạn chế sự lan tràn của căn bệnh nguy hiểm này, tuy nhiên để xoá bỏ mối đe doạ này đòi hỏi phải có sự đồng tâm hợp lực của tất cả mọi thành phần trong xã hội Việt Nam, trong đó có khu vực doanh nghiệp.
Tôi không muốn các quý vị có ấn tượng sai. Hoa Kỳ rất lạc quan về Việt Nam và triển vọng tương lai kinh tế của đất nước này. Nhìn chung, các công ty Hoa Kỳ ở đây cũng đánh giá tích cực về Việt Nam. Năm ngoái, Phòng Thương mại Hoa Kỳ đã tiến hành điều tra các hội viên để tìm hiểu quan điểm của họ về môi trường kinh doanh tại Việt Nam. Cuộc điều tra có những kết luận tích cực như sau:
77% tin rằng nền kinh tế Việt Nam sẽ vận hành tốt hơn nhiều hoặc tốt hơn so với năm ngoái.
67% hy vọng sẽ tuyển dụng thêm nhiều nhân viên người Việt Nam trong năm 2005.
63% hy vọng lợi nhuận sẽ tăng lên trong năm 2004 và 82% hy vọng lợi nhuận sẽ tăng hơn nữa trong năm 2005.
90% không hề lo ngại về sự an toàn của bản thân hoặc gia đình họ.
Nhưng - và đây cũng là điểm chốt trong thông điệp của tôi - 70% lo ngại về tham nhũng, cơ sở hạ tầng yếu kém, các vấn đề đất đai và thuế.
Tôi vừa nêu những trở ngại có thể sẽ khiến Việt Nam không tận dụng được các cơ hội để khai thác hết tiềm năng của mình. Hoa Kỳ và các đối tác thương mại khác của Việt Nam đang phối hợp với Chính phủ Việt Nam để giải quyết những trở ngại nêu trên thông qua các cuộc đàm phán song phương về tiếp cận thị trường và các phiên thảo luận đa phương của Nhóm làm việc về việc gia nhập WTO. Suy cho cùng, động lực thúc đẩy việc giải quyết những vấn đề này phụ thuộc vào ý chí chính trị của Chính phủ và người dân Việt Nam. Trong một số trường hợp, các giải pháp thường không đơn giản và đòi hỏi chi phí lớn. Nhưng mục tiêu cuối cùng phải là tiếp tục tăng cường cơ hội kinh tế cho tất cả mọi người. Hay nói một cách đơn giản hơn, để tạo công ăn việc làm, Việt Nam cần phải tự mình chuyển đổi từ một quốc gia đang phát triển thành một quốc gia phát triển. Điều đó có thể thực hiện được và sẽ rất nhanh thôi: chúng ta hãy nhìn tấm gương Hàn Quốc và gần đây là Malaysia. Tôi cho rằng các quý vị - các nhà lãnh đạo doanh nghiệp Việt Nam - cần phải đóng vai trò chủ chốt trong quá trình chuyển đổi này. Tôi và các cộng sự của tôi trong cơ quan ngoại giao của Hoa Kỳ tại Việt Nam mong muốn hợp tác với các quý vị để thực hiện nhiệm vụ này.
Xin cảm ơn.