|
|
Phó Đại sứ
Cựu Đại sứ
Cựu Phó đại sứ
|  |
Phát biểu của Đại sứ Michael W. Marine
Phòng Thương mại Hoa Kỳ tại Hà Nội Ngày 28 tháng 9 năm 2004 Xin cảm ơn Terence. Xin chào các Quý ông, Quý bà. Trước hết, tôi xin cảm ơn Hội đồng Thống đốc thuộc Phòng Thương mại Hoa Kỳ đã mời tôi đến nói chuyện với các bạn ngay trong những ngày đầu tiên tôi đến Việt Nam. Tôi cũng xin giới thiệu với các bạn sự hiện diện tối nay của một vị khách quý đến từ Washington, Phó Trợ lý Ngoại trưởng Thứ nhất phụ trách các vấn đề kinh tế và kinh doanh, ông Shaun Donnelly. Tôi hy vọng rằng rất nhiều người trong số các bạn sẽ có cơ hội được tiếp chuyện với Đại sứ Donnelly, một trong những quan chức kinh tế hàng đầu của Bộ Ngoại giao Mỹ. Đây là chuyến đi đầu tiên của ông đến Việt Nam, và như tất cả chúng ta đều biết, được thấy những điều mới mẻ thì rất là thú vị. Chính vì vậy, chúng tôi rất vui mừng là ông Donnelly có thể sắp xếp để dừng chân tại Hà Nội trong chuyến đi này. Điều tôi mong muốn được làm tối nay là nhìn lại mối quan hệ song phương giữa Mỹ và Việt Nam, chủ yếu tập trung vào các khía cạnh kinh tế và thương mại. Sau đó, tôi rất hoan nghênh những câu hỏi của các bạn. Nhưng có lẽ xin được nói rằng tôi là một người mới ở đây. Vì vậy, rất có thể tôi phải xin các bạn tha thứ nếu không trả lời được một vài câu hỏi hóc búa nào đó. Tuy nhiên, nếu không thể trả lời được ngay thì chúng tôi sẽ cố gắng nhanh chóng phúc đáp các bạn sau. Quan hệ Mỹ-Việt đã đạt được những bước tiến dài trong một thời gian tương đối ngắn. Nỗ lực hợp tác trong vấn đề xác định đầy đủ nhất những lính Mỹ mất tính từ cuộc xung đột ở Đông Dương đã tạo ra động lực ban đầu để giúp chúng ta thúc đẩy quan hệ giữa hai nước, và vấn đề này vẫn là một trong những ưu tiên hàng đầu của chúng ta. Từ mối quan hệ rất hạn chế trong thập niên 80 đến sự kiện bình thường hóa quan hệ ngoại giao vào năm 1995, chúng ta đã tiến tới đàm phán Hiệp định Thương mại Song phương (gọi tắt là BTA) vào năm 2001, tiếp theo là những hiệp định về chống ma túy và hàng không dân dụng trong năm vừa qua. Mối quan hệ hiện nay giữa Mỹ và Việt Nam bao quát một loạt các vấn đề ngày càng đa dạng và phức tạp; mà vấn đề trước hết là Việt Nam cần phải tuân thủ những tiêu chuẩn được công nhận rộng rãi về quyền con người, trong đó có quyền tự do tôn giáo. Những vấn đề khác cũng có ý nghĩa then chốt để tăng cường mối quan hệ song phương bao gồm thương mại và đầu tư, an ninh khu vực, chống khủng bố, sức khỏe toàn cầu, gỡ phá mìn nhân đạo, và cuộc đấu tranh chống tội phạm xuyên quốc gia, đặc biệt là buôn lậu ma túy và buôn người. Bản thân tôi cũng có nhiều kinh nghiệm về Việt Nam với tư cách là Phó Giám đốc Văn phòng Bộ Ngoại giao Mỹ phụ trách các vấn đề về Việt Nam, Lào và Campuchia từ năm 1988 đến năm 1990. Vào thời kỳ đó, chúng tôi chủ yếu tập trung vào vấn đề POW/MIA và các vấn đề nhân đạo khác. Trong hai năm đó, tôi đã đến Hà Nội sáu lần để thảo luận về những nỗ lực của các tổ chức phi chính phủ của Mỹ nhằm giúp đỡ cho trẻ em và những cựu chiến binh tàn tật của Việt Nam. Những cuộc thảo luận đó đóng góp quan trọng vào những nỗ lực của chúng tôi nhằm khuyến khích sự hợp tác của Việt Nam trong việc xác định đầy đủ nhất số lính Mỹ mất tính trong chiến tranh. Hai tuần trước đây, khi tôi trở lại Hà Nội lần đầu tiên kể từ năm 1990, tôi nhanh chóng nhận ra rằng đây là một nước Việt Nam khác và cũng là một mối quan hệ Mỹ-Việt rất khác. Xin trở lại mối quan hệ kinh tế giữa Mỹ và Việt Nam. Theo tôi, Mỹ và Việt Nam cần phải tiếp tục tăng cường quan hệ kinh tế và tận dụng những thiện chí mà mối quan hệ này tạo ra để làm đòn bẩy mở rộng các mối quan hệ song phương cũng như mang lại lợi ích cho nền kinh tế của hai nước chúng ta. Quan hệ kinh tế thương mại ngày càng sâu sắc hơn giữa hai nước sẽ hỗ trợ sự phát triển của xã hội dân sự, khuyến khích cải cách kinh tế, đưa Việt Nam hội nhập sâu hơn vào hệ thống thương mại quốc tế dựa trên luật lệ, đồng thời tăng cường hơn nữa lợi ích của người lao động, người tiêu dùng, nông dân và các nhà kinh doanh của Việt Nam và Mỹ. Nếu thực thi đầy đủ những nghĩa vụ cam kết trong BTA, Việt Nam cũng sẽ tăng cường được nỗ lực gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới. Tôi tin tưởng rằng giúp đỡ Việt Nam trở thành thành viên của WTO sẽ hỗ trợ cho những lợi ích dài hạn của Mỹ, bởi vì những tiến triển trong cải cách kinh tế sẽ tạo điều kiện cho những thay đổi về chính trị-xã hội mà chúng ta mong muốn diễn ra tại đất nước này. Hiệp định Thương mại Song phương có tác động đáng kể đến tăng trưởng thương mại song phương giữa hai nước trong hai năm vừa qua. Tuy nhiên, sự tăng trưởng đó hiện đang chậm lại. Thống kê thương mại cuối cùng trong năm 2003 cho thấy tổng thương mại song phương đạt 5,88 tỷ đô-la, gần gấp đôi so với năm 2002. Tổng giá trị thương mại trong bảy tháng đầu năm 2004 gần tương đương với tổng giá trị thương mại cùng kỳ năm 2003. Vì vậy, năm 2004 vẫn có thể được coi là một năm tốt đẹp, mặc dù chưa hẳn đã là một năm chứng kiến bước đột phá. Do các mức thuế quan được cắt giảm nên kết quả trực tiếp là xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ tăng khoảng 128% vào năm 2002 và 90% vào năm 2003, đồng thời xuất khẩu của Mỹ sang Việt Nam cũng tăng lên đáng kể, đặc biệt nhờ bán được một số máy bay Boeing. Cách đây chín ngày, Việt Nam đã nhận được chiếc máy bay Boeing thứ tư và cũng là chiếc máy bay cuối cùng trong khuôn khổ của một thỏa thuận sơ bộ ký vào năm 2001. Tất nhiên, chúng tôi vẫn mong muốn và sẽ thúc đẩy Vietnam Airlines tiếp tục mua thêm những chiếc Boeing khác. Những số liệu chính thức của Việt Nam cho thấy đầu tư của Mỹ tại nước này trong năm nay đã tăng lên trên 1 tỷ đô-la. Tuy nhiên, số liệu này vẫn chưa phản ánh đầy đủ con số thực tế, bởi nó không bao gồm những khoản đầu tư của các chi nhánh công ty Mỹ tại Singapore và các nước khác trong khu vực, ví dụ như khoản đầu tư trị giá gần 1 tỷ đô-la của tập đoàn Conoco-Phillips. Tôi vừa được xem những kết quả sơ bộ của một khảo sát mới có kể đến các khoản đầu tư liên quan đến Mỹ. Theo khảo sát này, các khoản đầu tư liên quan đến Mỹ đã được thực hiện tại Việt Nam cho đến cuối năm 2003 đạt 2,6 tỷ đô-la, và đầu tư của các công ty Mỹ đã tăng đáng kể vào năm ngoái. Hiệp định Thương mại Song phương 2001 cũng đang góp phần tạo ra một hệ thống pháp quyền tại Việt Nam. Hiệp định này buộc Việt Nam, trong thời gian mười năm, phải thực hiện một loạt các cam kết cải cách chưa từng có trong cơ cấu pháp luật và quy định, và vì vậy Hiệp định trở thành một xúc tác then chốt thúc đẩy sự thay đổi. BTA xóa bỏ những rào cản phi thuế quan, cắt giảm thuế quan đối với một số mặt hàng xuất khẩu của Mỹ và trao cho Việt Nam quy chế thương mại bình thường khi tiếp cận thị trường Mỹ. Khi được triển khai đầy đủ, BTA sẽ hỗ trợ cho việc bảo hộ và đảm bảo thực thi hiệu quả các quyền sở hữu trí tuệ (viết tắt là IPR), mở cửa thị trường Việt Nam cho các nhà cung cấp dịch vụ của Mỹ, tạo ra những nguyên tắc và quy định minh bạch và bình đẳng cho các nhà đầu tư Mỹ. Có một lĩnh vực ưu tiên mà Việt Nam chưa theo kịp với những nghĩa vụ mà nước này cam kết trong BTA là đảm bảo thực hiện quyền sở hữu trí tuệ. Những nỗ lực của Chính phủ Việt Nam trong việc áp dụng những biện pháp mạnh mẽ nhằm đảm bảo thực hiện quyền sở hữu trí tuệ có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với việc thực thi BTA và gia nhập WTO mà còn đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế liên tục và mạnh mẽ của đất nước này. Việc đảm bảo thực hiện quyền sở hữu trí tuệ sẽ khuyến khích đầu tư trong nước và nước ngoài trong những lĩnh vực phụ thuộc vào sở hữu trí tuệ như công nghệ thông tin. Thành công của Việt Nam trong việc thu hút những khoản đầu tư cực kỳ cần thiết để phát triển những lĩnh vực này sẽ tỷ lệ thuận với thành công trong việc hạn chế sao chép và nạn hàng giả. Tháng 12 năm 2004 là đến hạn thực hiện một số nghĩa vụ quan trọng được cam kết trong BTA. Những nghĩa vụ này bao gồm cắt giảm đáng kể thuế quan; từng bước xóa bỏ một số hạn ngạch nhập khẩu; đưa ra một số quyền thương mại mới; cho phép các công ty Mỹ thế chấp quyền sử dụng đất tại các ngân hàng nước ngoài; cho phép thành lập công ty liên doanh về dịch vụ Internet, và giảm bớt những hạn chế đối với đầu tư của Mỹ, bao gồm việc xóa bỏ những yêu cầu về vốn tối thiểu trong công ty liên doanh. Việt Nam tiếp tục đạt được những tiến bộ trong nỗ lực gia nhập WTO, mà gần đây nhất là tại phiên đàm phán thứ 8 về việc Việt Nam gia nhập WTO được tổ chức vào tháng 6 tại Geneva. Bên lề phiên đàm phán này, Mỹ và Việt Nam cũng đã tiến hành các cuộc đàm phán về tiếp cận thị trường song phương đối với hàng hóa và dịch vụ. Phó Đại diện Thương mại Mỹ Josette Shiner đã đến Hà Nội vào tháng 7 và có các cuộc thảo luận về tình trạng quan hệ thương mại song phương giữa hai nước cũng như về các vấn đề liên quan đến WTO. Chúng ta cũng đang tiến tới một vòng đàm phán mới về tiếp cận thị trường song phương tại Washington vào cuối tháng 10. Hy vọng rằng, tiếp theo những nỗ lực này là một phiên họp tiếp theo của Ban công tác tại Geneva vào tháng 12. Chính phủ Việt Nam đã xác định các lĩnh vực như bưu chính viễn thông, phân phối, vận tải và dịch vụ tài chính là những lĩnh vực khó tiến hành tự do hóa. Tuy nhiên, Mỹ vẫn tiếp tục theo đuổi những tiến triển hơn nữa trong các lĩnh vực này cũng như trong lĩnh vực nông nghiệp. Vẫn còn tồn tại câu hỏi liệu Việt Nam có thể thực hiện những cải cách rộng rãi cần thiết trong thời gian tới và liệu nhịp độ hiện nay của các cuộc thảo luận tại Quốc hội có đáp ứng được kỳ hạn mục tiêu của Việt Nam hay không. Bởi vậy, Việt Nam sẽ cần phải nỗ lực nhanh chóng để hoàn thành mục tiêu gia nhập WTO vào cuối năm 2005. Hiệp định Vận chuyển Hàng không Mỹ-Việt đã được ký tại Washington trong chuyến thăm của Phó Thủ tướng Vũ Khoan vào tháng 12 năm ngoái. United Airlines đang sắp sửa trở thành hãng vận tải hàng không đầu tiên của Mỹ có lợi thế về cung cấp các chuyến bay trực tiếp theo lộ trình từ San Francisco đến Thành phố Hồ Chí Minh qua Hồng Kông. Chúng tôi hy vọng sẽ được nhìn thấy chiếc máy bay của United Airlines hạ cánh tại Thành phố Hồ Chí Minh trước Lễ Giáng sinh năm nay. Bởi Việt Nam chưa phải là một thành viên của WTO nên họ sẽ bị áp dụng hạn ngạch dệt may vào năm tới, sau khi Hiệp định đa phương về Hàng Dệt may và Quần áo chấm dứt hiệu lực vào ngày 1 tháng 1 năm 2005. Vào tháng 7, Mỹ và Việt Nam đã gia hạn hiệp định dệt may song phương đến ngày 31 tháng 12 năm 2005. Sự gia hạn này sẽ tăng cường khối lượng hàng dệt may có thể được tiêu thụ tại thị trường Mỹ bằng cách cho phép các công ty được mượn hạn ngạch cho năm tiếp theo. Như bản thân Chính phủ Việt Nam đã công nhận, việc gia nhập WTO có ý nghĩa rất quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế liên tục của Việt Nam. Chẳng hạn, khi Hiệp định WTO về hàng dệt may và quần áo chấm dứt hiệu lực vào ngày 1 tháng 1 năm 2005, hàng dệt may xuất khẩu của các nước thành viên WTO sẽ không còn bị áp dụng hạn ngạch. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn sẽ tiếp tục bị áp dụng hạn ngạch cho đến khi gia nhập WTO. Điều này có nghĩa là các công ty dệt may của Việt Nam sẽ phải cạnh tranh với các công ty của những nước khác không bị ràng buộc bởi hạn ngạch, ví dụ như Trung Quốc. Tất nhiên, mối quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam không chỉ đơn thuần là những vấn đề kinh tế và thương mại. Điều mấu chốt để tăng cường các mục tiêu trong chính sách tổng thể của chúng ta tại Việt Nam là các chương trình hỗ trợ sẽ được sử dụng để thúc đẩy phát triển xã hội dân sự, pháp quyền, giúp đỡ người tàn tật và người bị bệnh HIV/AIDS, quản lý môi trường và cải cách thương mại. Những kết quả của BTA mà tôi đã mô tả trước đó cũng phản ánh tác động của Chương trình Hỗ trợ Xúc tiến Thương mại (viết tắt là STAR); chương trình này cung cấp 10,6 triệu đô-la trong vòng bốn năm để hỗ trợ kỹ thuật cho việc thực hiện BTA. Trong những tháng gần đây, chương trình hỗ trợ của chúng tôi đối với Việt Nam đã theo đuổi một trọng tâm mới và có ý nghĩa cấp bách. Như các bạn đã biết, Tổng thống Bush đã xác định Việt Nam là một trong 15 nước sẽ được nhận hỗ trợ đặc biệt nhằm phòng chống HIV/AIDStrong Kế hoạch Cứu trợ Khẩn cấp AIDS. Chúng tôi sẽ phân bổ khoảng 25 triệu đô-la trong khuôn khổ Kế hoạch Khẩn cấp cho Việt Nam vào năm tài khóa 2005. Trong mười ngày vừa qua, một nhóm kỹ thuật liên ngành của Chính phủ Mỹ đã được cử đến đây cộng tác với Việt Nam nhằm phát triển một chiến lược phân bổ hiệu quả những nguồn lực mới này. Một vấn đề mà chúng tôi đặc biệt quan tâm là những chương trình nào về phòng chống và giáo dục HIV/AIDS đang được thực hiện tại các công ty tư nhân, đặc biệt là các tập đoàn đa quốc gia mà rất nhiều người trong số các bạn ở đây tối nay là đại diện. Nhóm công tác của Chính phủ Mỹ đã gặp gỡ các thành viên của Phòng Thương mại Hoa Kỳ vào tuần trước để bàn thảo về vấn đề này. Và tôi đặc biệt mong muốn Phòng Thương mại Hoa Kỳ và các thành viên hãy góp phần vào cuộc chiến chống lại sự lan tràn của HIV/AIDS tại Việt Nam. Có rất nhiều cách thức để cộng đồng doanh nghiệp Hoa Kỳ tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh có thể tham gia. Giáo dục công nhân, hỗ trợ nhân đạo để tăng cường đóng góp dịch vụ công cộng cho các trung tâm chăm sóc gần khu vực hoạt động của công ty chỉ là một trong số rất nhiều hoạt động mà các bạn có thể làm. Một lý do then chốt giải thích tại sao Tổng thống Bush lựa chọn Việt Nam là nước thứ 15 trong Kế hoạch Khẩn cấp Cứu trợ AIDS và là nước duy nhất của châu Á có tên trong chương trình này là bởi vì thực sự có một cơ hội tuyệt vời để kiểm soát bệnh dịch AIDS tại Việt Nam nếu chúng ta khẩn trương hành động. Tuy nhiên, nếu chúng ta thất bại, những thành quả kinh tế của Việt Nam sẽ bị xói mòn và triển vọng tăng trưởng kinh tế hơn nữa của đất nước này sẽ bị lu mờ. Vào cuối thập niên 90 của thế kỷ XX, tôi đã làm việc ở Kenya và tôi đã thấy tận mắt sự tàn phá mà HIV/AIDS có thể gây ra đối với một đất nước đang tràn trề sinh lực. Chúng ta phải làm tất cả những gì có thể làm để ngăn chặn số phận nghiệt ngã này đổ lên đầu người dân Việt Nam. Một nửa dân số Việt Nam được sinh ra sau năm 1975 và không có nhiều ký ức về những năm tháng chiến tranh. Người dân Việt Nam vốn rất trọng học vấn, năng lực công việc và tài kinh doanh. Với năng lực lãnh đạo tốt, tương lai Việt Nam thực sự là rất tươi sáng. Tầm quan trọng của Việt Nam ngày càng gia tăng với tư cách là một đối tác thương mại. Ngoài ra, gần đây, Việt Nam đã đảm nhận nhiều trách nhiệm trong các tổ chức khu vực và quốc tế. Rõ ràng là một nước Việt Nam mạnh mẽ và phồn vinh, có thể đảm nhận vai trò lãnh đạo để đóng góp vào ổn định khu vực, sẽ mang lại lợi ích cho nước Mỹ và nhân dân Mỹ. Tuy nhiên, Chính phủ Việt Nam vẫn tiếp tục không cho phép bất đồng chính kiến và hạn chế đáng kể quyền tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do báo chí, và tự do lập hội. Đúng là nước Việt Nam ngày nay rõ ràng đã bớt hà khắc hơn so với một thập kỷ trước đây; người dân Việt Nam được hưởng nhiều quyền tự do cá nhân hơn và khả năng làm chủ cuộc sống của họ ngày càng được tăng cường. Tuy nhiên, vẫn có thể làm được nhiều điều hơn thế. Chúng ta cần chứng tỏ cho chính quyền Việt Nam thấy rằng mở rộng các quyền tự do cá nhân, coi trọng và tuân thủ pháp quyền sẽ mở đường cho việc tăng cường đầu tư và cam kết của Mỹ, và sẽ cải thiện vị thế của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế. Để biểu thị mối quan ngại về tình hình liên quan đến khả năng người dân Việt Nam được thực hiện các tín ngưỡng tôn giáo của họ, gần đây Chính phủ Mỹ đã liệt Việt Nam vào diện Quốc gia được Quan tâm Đặc biệt. Mặc dù chúng tôi thừa nhận rằng Việt Nam đã đạt được những tiến bộ trong lĩnh vực này nhưng vẫn tồn tại một sự thực rõ ràng là một số lượng đáng kể công dân Việt Nam không được tự do thờ phụng và hành đạo theo tín ngưỡng mà họ mong muốn. Và đây là điều mà chúng ta không thể nhắm mắt làm ngơ. Tôi sẽ cố gắng hơn nữa để thúc đẩy chương trình nghị sự kinh tế và thương mại giữa Mỹ và Việt Nam, đồng thời tôi cũng sẽ tiếp tục tìm kiếm những tiến bộ rõ rệt từ phía Việt Nam trên các lĩnh vực nhân quyền và tự do tôn giáo; những lĩnh vực này sẽ phải được cải thiện để quan hệ giữa hai đất nước chúng ta tiếp tục phát triển. Về khía cạnh này, tôi sẽ khuyến khích Chính phủ Việt Nam tạo thuận lợi cho hỗ trợ trực tiếp nước ngoài và các dự án phát triển nhằm cải thiện điều kiện sống ở Tây Nguyên cho tất cả các cư dân, kể cả người Thượng. Tôi cũng sẽ giữ một lập trường mạnh mẽ về việc tôn trọng các quyền cơ bản, bao gồm tự do lập hội hòa bình, tự do ngôn luận và tự do tôn giáo. Theo quan điểm của tôi, việc tiếp tục tăng cường mối quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam về cả chiều sâu lẫn chiều rộng đang có triển vọng rất tươi sáng. Điều then chốt để tiếp tục đạt được tiến bộ là phải kiên nhẫn, đồng thời phải có niềm tin trong quan hệ hợp tác với nhau. Tôi mong muốn được đóng góp vào sự phát triển tích cực của mối quan hệ vốn còn rất non trẻ nhưng lại đầy hứa hẹn này, và tôi cũng mong được cộng tác với tất cả các bạn trong nỗ lực chung này. Xin cảm ơn.
|
| lên đầu trang ^ |
|
|