Phát biểu của Đại sứ M.W. Marine
Hội đồng Thương mại Thế giới
Los Angeles, California
Ngày 28 tháng 10 năm 2005
Xin cảm ơn ông Kane đã có lời giới thiệu tốt đẹp. Thưa các quý bà và các quý ông, hôm nay tôi rất vinh dự được phát biểu trước quý vị, và tôi xin cảm ơn Hội đồng thương mại thế giới Los Angeles đã dành cho tôi cơ hội tham dự hội thảo này. Tuy đã có thời gian là sinh viên trường Loyola University tại Los Angeles, Nam California, và sau đó là sinh viên trường UC Santa Barbara, đây là lần đầu tiên tôi đến Nam California trên cương vị Đại sứ Mỹ ở Việt Nam, tôi rất vui mừng được trở về đây.
Nam California có quan hệ văn hóa và lịch sử rộng rãi với Việt Nam, vì thế chuyến đi này của tôi rất thuận lợi. Hơn nữa, tôi tin tưởng rằng qua chuyến đi này, tôi có thể mở rộng hiểu biết về quan hệ song phương Việt-Mỹ. Tôi mong được biết ý kiến nhận xét và được nghe các câu hỏi của quý vị sau phần trình bày này.
Hôm nay, tôi muốn trình bày một cách tổng quan về mối quan hệ năng động của chúng ta đối với Việt Nam, về những thành tựu đạt được và những định hướng cho tương lai. Rõ ràng là chúng ta đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong những năm gần đây. Tổng thống Bush đã tiếp Thủ tướng Phan Văn Khải tại Nhà Trắng trong chuyến thăm Hoa Kỳ đầu tiên của một Thủ tướng đương nhiệm của Việt Nam. Năm nay, chúng ta kỉ niệm 30 năm chấm dứt chiến tranh, 10 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao, và 5 năm ngày ký Hiệp định thương mại song phương (BTA)Việt-Mỹ. Mỗi ngày kỉ niệm này có một ý nghĩa riêng.
Cùng với chuyến thăm của Thủ tướng và nhiều cuộc tiếp xúc khác ở cấp cao đã diễn ra, năm nay chúng ta còn ó nhiều cơ hội để củng cố quan hệ hữu nghị.
Mặt khác, quan hệ đang phát triển giữa hai nước cũng có những thách thức – những thách thức về kinh tế, thương mại, chính trị và những thách thức chung – mà Hoa Kỳ và Việt Nam cùng phải đối mặt. Cần ghi nhận rằng những thành tựu mà chúng ta đạt được trong năm qua trong quá trình vượt qua một số thách thức là kết quả của những nỗ lực liên tục từ cả hai phía nhằm cải thiện quan hệ song phương. Mặc dù đã trải qua một lịch sử rất bi thương, chúng ta đã cùng nhau tạo nên những mối quan hệ mật thiết, mở đường cho hòa giải và hợp tác và tôi tin rằng đó sẽ là một mẫu mực điển hình cho các nước khác làm theo.
Sự hợp tác nhằm xác định một cách đầy đủ nhất những người Mỹ mất tích trong chiến tranh ở Đông Dương là nhân tố ban đầu có tác dụng thúc đẩy các quan hệ giữa chúng ta. Vấn đề này luôn luôn là một ưu tiên hàng đầu của chúng ta. Chúng ta đang tiếp tục công việc nhân đạo này cùng với nhân dân Việt Nam, những người còn đang vật lộn với thách thức tìm kiếm và nhận biết những người con mất tích trong chiến đấu của mình
Từ năm 1992, chương trình hợp tác Mỹ-Việt nhằm xác định một cách đầy đủ nhất những người Mỹ mất tích trong chiến tranh đã đưa về nước di hài của trên 500 binh sĩ và đã có những câu trả lời cuối cùng cho gia đình họ. Tôi đã từng được đi thăm những địa bàn tại đó các quân nhân Mỹ và các cán bộ Việt Nam cùng làm việc bên nhau trong những điều kiện rất khó khăn để tìm kiếm những câu trả lời ấy. Những nỗ lực nhân đạo chung như vậy sẽ tiếp tục được thực hiện cho đến khi sứ mệnh đó hoàn thành.
Trong thời gian 10 năm từ ngày bình thường hóa quan hệ, chúng ta đã kết hợp việc áp dụng có hiệu quả các tiến bộ khoa học trong quan hệ song phương trong các lĩnh vực khoa học và y tế, giáo dục và văn hóa, an ninh và tăng cường luật pháp cũng như trong lĩnh vực hợp tác quân sự. Những nỗ lực bền bỉ chung mà chúng ta đã dạt được trong các lĩnh vực này dường như khó hình dung nổi đối với những người đã từng theo dõi quan hệ Việt Mỹ mười năm trước đó.
Đặc biệt hơn cả, quan hệ kinh tế thương mại là cơ sở của quan hệ giữa hai nước. Từ khi BTA có hiệu lực vào năm 2001, giá trị trao đổi thương mại giữa hai nước đã tăng gấp ba, vượt 6,4 tỉ đô-la. Hiện nay, Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, tiêu thụ 1/5 tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam. Giá trị xuất khẩu hàng hóa Mỹ vào Việt Nam đã tăng 250 % trong ba năm vừa qua. Các số liệu thống kê đối với nửa đầu năm 2005 cho thấy rằng trao đổi thương mại hai chiều tiếp tục phát triển, giá trị trao đổi đến tháng 6 năm 2005 tăng 30 % so với cùng kỳ năm ngoái.
Đáng chú ý là giá trị xuất khẩu hàng hóa của Mỹ vào Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2005 đã tăng 76 % so với cùng kỳ năm ngoái. Năm 2004, California đứng thứ hai (sau bang Washington) về xuất khẩu vào Việt Nam, với tổng giá trị xuất khẩu đạt 151 triệu đô-la đối với những sản phẩm như máy tính và hàng điện tử, thực phẩm chế biến, máy móc và phương tiện vận tải.
Bức tranh đầu tư cũng sáng sủa: các công ty Mỹ ngày càng quan tâm đến hoạt động đầu tư tại Việt Nam, một phần là do đối với một số lĩnh vực, giá nhân công có thể rẻ hơn 30% so với giá ở Nam Trung Quốc.
Tuy hoạt động thương mại và đầu tư giữa hai nước đã gia tăng vượt bậc trong những năm gần đây, vẫn còn nhiều lĩnh vực có thể được phát triển.
Quá trình đàm phán hiện nay về việc gia nhập WTO của Việt Nam đang xác lập cơ sở cho sự phát triển thương mại và đầu tư trong tương lai. Sau khi trình bày, tôi sẵn sàng nói thêm về vấn đề này khi trả lời các câu hỏi của quý vị. Ở đây, tôi chỉ khẳng định rằng quá trình đàm phán đang tiếp diễn và chúng ta sẽ tiếp tục xem xét mọi vấn đề chưa giải quyết để có thể sớm kết thúc đàm phán.
Chuyến thăm Mỹ của Thủ tướng Phan Văn Khải đánh dấu 10 năm đầu của quan hệ Mỹ-Việt và tạo điều kiện để hai bên cùng nâng những quan hệ song phương lên một tầm cao mới. Hoàn thành những công việc cần thiết để gia nhập WTO sẽ là một mốc quan trọng trên con đường hướng tới những quan hệ kinh tế sâu sắc và phong phú hơn. Tuy nhiên, Việt Nam có thể và cần phải làm nhiều, thật nhiều, để thu hút đầu tư và phát triển các cơ hội kinh doanh cho các doanh nghiệp Mỹ và các nước ngoài khác.
Trong số những việc cần làm, Việt Nam cần xây dựng một hệ thống tài chính cho phép hướng các dòng vốn tới những người có thể sử dụng chúng một cách hữu hiệu, thiết lập một hệ thống pháp lý và lập quy có khả năng dự báo, minh bạch, có cơ sở luật pháp và không tham nhũng; và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ thông qua hệ thống luật mạnh và thực thi có hiệu quả. Việt Nam cũng cần đầu tư để cải thiện cơ sở hạ tầng, đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư nước ngoài, đồng thời bảo vệ môi trường thiên nhiên tươi đẹp của mình.
Xin nói một chút về quyền sở hữu trí tuệ, một lĩnh vực được quan tâm đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp tại Nam California. Việt Nam mới bắt đầu xây dựng những quy định pháp lý mà hầu hết mọi công ty đều đòi hỏi đối với một địa bàn đầu tư tiềm năng. Nhưng cái thiếu ở đây là ở khâu thực hiện.
Nạn trộm bản quyền và làm hàng giả là những vấn đề quan trọng, dù cho sản phẩm là phim, nhạc, sách, phần mềm tin học, dược phẩm hay thương hiệu. Đối với phim và sách Mỹ, tỉ lệ trộm bản quyền gần như là 100% ở Việt Nam. Tình trạng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ không những làm hại hoạt động đầu tư nước ngoài mà còn khiến cho Việt Nam lạc hậu so với các nước láng giềng trong những lĩnh vực cạnh tranh quan trọng. Để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cần có tiếng nói phối hợp của Chính phủ Mỹ và các doanh nghiệp Mỹ. Chúng ta sẽ tiếp tục nhấn mạnh tầm quan trọng của vấn đề này mỗi khi có dịp.
Hỗ trợ Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế trước những thách thức xuyên quốc gia là việc Mỹ có thể và đã tiến hành. Việt Nam cũng phải đương đầu với hai vấn đề y tế quan trọng, có thể leo thang thành những cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nếu không có những hành động cẩn trọng và kịp thời. Trước hết là vấn đề cúm gà. Nhận thức tính nghiêm trọng của vấn đề này, Chính phủ Việt Nam đã triển khai những nỗ lực to lớn để tiêm chủng gia cầm và kiểm soát virút ở loài chim. Tuy nhiên điều đó có thể vẫn chưa đủ để ngăn chặn một đại dịch đối với người trong trường hợp có sự chuyển hóa của virút.
Để đối phó với mối đe dọa toàn cầu này, Chính phủ Mỹ đang đi đầu trong một sáng kiến chính trị quốc tế cấp cao đối vấn đề cúm gia cầm và đại dịch cúm. Đầu tháng này, Bộ Ngoại giao Mỹ đã tổ chức hội thảo đầu tiên của các đối tác quốc tế về cúm gia cầm và đại dịch cúm. Về phần mình, Việt Nam cùng với hơn 70 nước khác đã chấp thuận làm một thành viên đối tác. Nói một cách vắn tắt, chương trình Đối tác kêu gọi các nước công khai chia sẻ thông tin để được hỗ trợ nhằm cải thiện việc giám sát và khả năng đáp ứng khi dịch bệnh bùng phát. Để mở đầu, Chính phủ Mỹ sẽ cung cấp 25 triệu đô-la cho khu vực Đông Nam Á, trong đó Việt Nam là một trọng tâm, để chiến đấu chống bệnh cúm gia cầm. Chúng tôi dự định đối phó với tình trạng bùng phát thông qua các chuơng trình tăng cường giám sát và giáo dục đại chúng rộng rãi, hỗ trợ chương trình tiêm chủng gia cầm đang triển khai và xây dựng năng lực nghiên cứu và chẩn đoán.
Vấn đề thứ hai về y tế là HIV/AIDS, vấn đề này đã lan tràn trong cộng đồng những người tiêm chích ma túy và những người mại dâm và đang có nguy cơ trở thành một bệnh dịch phổ biến, gây ra những tổn thất to lớn về người và của. Chính phủ Mỹ cam kết làm một đối tác tích cực đối với Việt Nam để tránh tình trạng khủng hoảng HIV này. Năm nay, chúng tôi đã cung cấp trên 27 triệu đô-la và sang năm chúng tôi sẽ đóng góp 33 triệu đô-la cho cuộc chiến đấu này. Năm 2004, Tổng thống Bush đã coi Việt Nam là một trong 15 nước ưu tiên nhận hỗ trợ từ chương trình khẩn cấp chống AIDS. Tổng thống Bush coi Việt Nam là nước thứ 15 trong diện ưu tiên, và Việt Nam nước duy nhất ở châu Á được xếp vào diện này vì có khả năng thực sự kiểm soát dịch bệnh này đối với Việt Nam với những hành động kịp thời.
Như tôi đã nói rõ trong phần trình bày của mình, chúng ta đang làm việc rất tích cực với Việt Nam về những vấn đề quan trọng liên quan đến một tình trạng khủng hoảng y tế tiềm tàng và nhu cầu cải thiện môi trường kinh doanh và thương mại. Nhưng điều quan trọng là cần nhớ rằng quan hệ giữa hai nước đang ngày càng phát triển. Chẳng hạn, trong lĩnh vực quốc phòng và trao đổi quan hệ quân sự, các mối quan hệ đang phát triển một cách vững chắc theo hướng tích cực. Tàu hải quân Mỹ thường xuyên ghé thăm các cảng của Việt Nam, và trong mỗi dịp như vậy đã góp phần đẩy mạnh sự hiểu biết lẫn nhau trên phương diện văn hóa. Quân đội Mỹ cũng đóng góp phần hỗ trợ của Mỹ cho những nỗ lực phá mìn của Việt Nam cũng như tham gia vào các hoạt động nhân đạo khác. Các nhà lãnh đạo quân sự của hai nước hiện thường xuyên gặp nhau không những để trao đổi ý kiến về các vấn đề an ninh mà còn để phát triển một cơ sở chung cho những hành động nhằm tăng cường ổn định khu vực vì sự phát triển bền vững.
Chúng ta cũng có những quan hệ khác với Việt Nam trong những lĩnh vực nhạy cảm trước kia như chống khủng bố và thi hành luật. Mặc dù tôi tin rằng chúng ta có thể làm nhiều hơn nữa – đặc biệt trong lĩnh vực thi hành luật – trong những năm qua chúng ta đã có tiến bộ, đặc biệt là về Hiệp định song phương về chống gây mê ký năm ngoái.
Các lĩnh vực quân sự và thi hành luật luôn luôn là các lĩnh vực nhạy cảm nhất trong mọi mối quan hệ, sự phát triển đạt được trong các lĩnh vực này phản ánh sự chia sẻ sự tin cậy gia tăng và tinh thần hợp tác của hai nước.
Mỹ và Việt Nam không còn ở trong tình trạng có thể nghĩ đến đấu tranh quân sự với nhau. Mỹ hoàn toàn tôn trọng chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Hai nước chia sẻ nhiều lĩnh vực cùng quan tâm về an ninh khu vực và quốc tế và đang tìm cách phối hợp hoạt động trong những vấn đề này.
Chẳng hạn, cả hai nước đều mong muốn hòa bình cho khu vực châu Á-Thái Bình Dương và tin rằng không thể có tăng trưởng kinh tế và thịnh vượng nếu không có một môi trường an ninh ổn định.
Việt Nam cũng mong muốn ngăn chặn sự phát triển và phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt (WMD), và đã phản đối ý định của Bắc Triều Tiên đi ngược lại ý nguyện của cộng đồng quốc tế với việc phát triển vũ khí hạt nhân. Điều đó có ý nghĩa không nhỏ nếu xét đến quan hệ truyền thống chặt chẽ giữa Hà Nội và Bình Nhưỡng.
Việt Nam và Mỹ cũng cùng thể hiện tinh thần phản đối sự lan tràn trên toàn cầu của chủ nghĩa khủng bố. Các nhà lãnh đạo Việt Nam đã khẳng định rõ ràng sự cần thiết phải đấu tranh chống khủng bố. Việt Nam cũng là một thành viên tích cực trong những nỗ lực chống khủng bố khu vực, đặc biệt là trong khuôn khổ các hoạt động của ASEAN.
Dĩ nhiên trong mọi quan hệ song phương, dù là giữa những đồng minh gần gũi hay những đối tác mới, vẫn có sự cọ sát và những vấn đề bất đồng. Thật vậy, và có tính nghịch lý trong một chừng mực nào đó, khi quan hệ giữa hai nước càng phát triển, thì lại càng có nhiều lĩnh vực có thể dẫn đến bất đồng.
Tôi cho rằng quan hệ Mỹ-Việt hiện nay là như vậy, nhưng chúng ta không nghĩ đến việc phải cố gắng thay đổi. Luôn luôn có những lĩnh vực trong đó hai nước không có cùng quan điểm. Điều đó không có nghĩa là chúng ta cần chấm dứt hợp tác trong những lĩnh vực có bất đồng về lợi ích trong quan hệ chung. Cũng không có nghĩa là chúng ta cứ để cho một phương diện nào đó của quan hệ song phương cản trở một phương diện khác. Đúng hơn, thách thức là ở chỗ phải làm thế nào – và với hy vọng tìm được giải pháp – để có thể dàn xếp những mối bất đồng sao cho chúng không làm phương hại hay giảm sút quan hệ chung giữa hai nước.
Một lĩnh vực mà chúng ta có ý kiến bất đồng với Việt Nam là vấn đề nhân quyền, trong đó có tự do tôn giáo. Chính phủ Việt Nam tỏ ra tự hào, một cách đúng đắn, về tiến bộ của mình trong việc bảo đảm nhân quyền “tập thể” trong những vấn đề như giáo dục và giảm nghèo. Nhưng chúng tôi vẫn cho rằng Chính phủ Việt Nam không khoan nhượng với những người bất đồng chính kiến và tiếp tục ngăn cản cả những động thái như bàn bạc về dân chủ đa đảng. Hơn nữa, có điều không thể chấp nhận được là nhân dân Việt Nam không được hưởng những quyền tự do cơ bản về tôn giáo, ngôn luận, báo chí, hội họp. Ngay cả khi tìm cách mở rộng quan hệ kinh tế với Việt Nam, chúng ta vẫn tiếp tục đề cao những lý tưởng này và lưu ý Chính phủ Việt Nam rằng đó không phải là những đặc quyền mà đúng hơn là nguyên tắc được thừa nhận và cần được thực hiện ở mọi nơi.
Trên thực tế, tình trạng chưa tốt đẹp về nhân quyền ở Việt Nam vẫn là một rào cản cho một quan hệ song phương tốt đẹp hơn.
Từ khi Mỹ xem Việt Nam như nước cần quan tâm đặc biệt về vi phạm tự do tôn giáo vào tháng 9 năm 2004, chúng ta đã tiếp tục hối thúc Chính phủ Việt Nam mở rộng không gian cho những người theo tôn giáo thực hành tín ngưỡng của mình. Đáp lại, Việt Nam đã ban hành luật lệ mới về tôn giáo và chính thức cấm cưỡng bức từ bỏ tín ngưỡng. Một số người mà chúng tôi cho rằng bị tù vì vấn đề tôn giáo đã được tha trong những năm gần đây. Vào tháng 5, chúng tôi trao đổi thư với Chính phủ Việt Nam trong đó có tóm tắt tất cả những bước đi mà Việt Nam dự định thực hiện để áp dụng đầy đủ những quy định mới về tôn giáo. Hiện nay, chúng tôi đang giám sát chặt chẽ việc thực thi những cam kết này. Chúng tôi vẫn quan ngại về việc một số quan chức địa phương vẫn chưa hiểu về nội dung và tinh thần của những quy định mới này và vẫn tiếp tục giam giữ hay đối xử không tốt những người theo tôn giáo.
Một địa bàn mà chúng tôi nhận thấy có tiến bộ là Tây Nguyên. Chúng tôi đã ghi nhận sự cởi mở của Việt Nam trong quá trình làm việc với Campuchia và Cao ủy Liên Hợp Quốc về người tị nạn về vấn đề phúc lợi và điều kiện sống của người thiểu số, đặc biệt là đối với những người trước kia đã di cư sang Campuchia và nay đã hồi hương. Chúng tôi vẫn quan ngại về vấn đề nhân quyền ở Tây Nguyên, nhưng chúng tôi cảm thấy được khích lệ về việc Việt Nam đã mở rộng việc cho phép các nhà quan sát quốc tế đến địa phương này, trong đó có nhân viên của chúng tôi. Đây là một bước tiến đối với một địa bàn có lịch sử phức tạp như Tây Nguyên.
Một dấu hiệu tích cực khác trên mặt trận nhân quyền là việc tha và đặc xá một số tù nhân mà Mỹ quan tâm vào ngày 2 tháng 9. Từ lần đầu tiên khi tôi lên tiếng kêu gọi Chính phủ Việt Nam thả tù nhân vì lí do tôn giáo trong một bài phát biểu hồi tháng 3 vừa qua, Việt Nam đã có một con số lịch sử về việc đặc xá tù nhân vào dịp quốc khánh với 26.000 tù nhân được tha trong 3 đợt, trong đó có những người thuộc diện đặc biệt. Những đợt đặc xá này rất quan trọng và chúng toi mong rằng sẽ tiếp tục được chứng kiến những động thái thuộc loại này.
Tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng Việt Nam và Mỹ đã đồng ý tiến hành đối thoại song phương về nhân quyền trong một tương lai gần. Đó cũng là một dịp để đề cập trực tiếp những vấn đề quan tâm với Chính phủ Việt Nam.
Tuy nhiên, Việt Nam vẫn chưa đi đủ xa, và chúng tôi sẽ tiếp tục kêu gọi Chính phủ Việt Nam tha những tù nhân vì lí do tôn giáo xứng đáng được hưởng tự do sau đây: nhà báo Nguyễn Vũ Bình, bác sĩ Phạm Hồng Sơn, nhà văn Nguyễn Khắc Toàn, nhà hoạt động Trần Văn Lương và nguyên sĩ quan cảnh sát Nam Việt Nam Phan Văn Bàn.
Về những vấn đề chúng ta cần quan tâm – và dĩ nhiên còn có những vấn đề cần quan tâm khác mà chúng tôi chưa nghĩ đến – tôi cho rằng tôi cũng như đại sứ quán và lãnh sự quán ở TP Hồ Chí Minh có trách nhiệm giảm thiểu tình trạng thiếu tin cậy giữa hai nước thông qua việc tăng cường tối đa thông tin và hiểu biết lẫn nhau. Chúng tôi tiến hành điều đó thông qua giao tiếp với các bộ, các trường và các viện. Chúng tôi cũng tìm cách giao lưu với thanh niên và các cơ quan truyền thông đại chúng mà chính phủ vẫn kiểm soát. Mặc dù có sự kiểm soát, đã có dấu hiệu cho thấy rằng truyền thông đại chúng bắt đầu có một vai trò tích cực như đài quan sát của người dân, thông qua những bài báo về các vụ tham những và những vấn đề phát sinh do tình trang không quan tâm bảo vệ môi trường. Mới cách đây 3 tháng, tôi có tham gia chat trực tiếp trên mạng Việt Nam Net, liên quan đến những câu hỏi của độc giả Việt Nam và Mỹ về những vấn đề có liên quan đến tự do tôn giáo, nhân quyền và chất độc màu da cam. Nội dung thảo luận kéo dài khoảng một giờ được duy trì trên mạng, dường như không bị kiểm duyệt. Trong vòng 4 ngày, trang web đã nhận được trên 350.000 tin. Đó là một việc nhỏ nhưng có ý nghĩa trong những cố gắng của chúng tôi trong việc cung cấp thông tin và trao đổi ý kiến với công chúng.
Khi nghĩ lại về sự xa cách và sự thù địch trước kia giữa hai nước, mà cũng chỉ mới cách đây không lâu, tôi cho rằng cả hai bên đều phải nỗ lực xây những nhịp cầu, đẩy mạnh thông tin và tạo nên một bầu không khí tin cậy và hiểu biết lẫn nhau như chúng ta đã làm được trong thập niên vừa qua. Chúng ta có nhiều việc phải làm, vì vậy công việc này cần được tiếp tục tiến hành.
Nhưng không phải là các đại sứ quán và các viên chức nhà nước là đủ để xây dựng những nhịp cầu và đưa hai nước xích lại gần nhau. Nam California là nơi sinh sống của một số đông người không phải quốc tịch Việt Nam mà có quan hệ đến Việt Nam, như hôm nay chúng ta có thể thấy trong hội trường này. Người Mỹ gốc Việt có vị trí then chốt trong việc giúp đỡ để xây dựng những nhịp cầu, loại bỏ sự hiểu lầm và tạo nên lòng tin cậy. Tất cả các vị trong cộng đồng Việt-Mỹ có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc xây dựng và làm phong phú quan hệ song phương Mỹ-Việt.
Nhưng ở đây phải có một con đường hai chiều. Dường như Chính phủ Việt Nam công nhận những đóng góp quan trọng mà nguời Việt Nam trên toàn thế giới có thể mang lại cho tiến trình phát triển của Việt Nam và đã tiến hành việc tranh thủ những đóng góp đó. Nhưng Việt Nam còn có thể làm được nhiều hơn, như đối xử một cách tôn trọng với phần mộ của người chết trong chiến tranh ở Nam Việt Nam và công khai thừa nhận những nỗ lực nhân đạo của người Mỹ gốc Việt nhằm giúp Việt Nam.
Người Mỹ được biết đến như những người có tinh thần lạc quan mạnh mẽ về tương lai, và lịch sử đã chứng tỏ rằng điều đó được đảm bảo. Đó cũng là một tính cách chung của người Mỹ và người Việt. Cả người Mỹ lẫn người Việt đều nổi tiếng về tính cách quả quyết và quan điểm đầy hi vọng về cuộc sống. Theo tôi, những điều đó làm cho họ gần nhau và trở thành đối tác tốt dối với nhau. Hơn hết, tôi tin rằng tinh thần lạc quan tương đồng là một phần quan trọng của quan hệ đối tác song phương hiện tại, một quan hệ đối tác mà chúng ta có thể phát triển.
Tôi biết rằng tôi rất lạc quan. Tôi xin nói với quý vị rằng vào tháng trước, Chính phủ Việt Nam đã thông báo cho chúng tôi biêt rằng họ đã ủng hộ các nạn nhân trận bão Katrina ở Mỹ 100.000 đô-la và một nhóm thày thuốc sẵn sàng bay sang Mỹ để hỗ trợ về y tế. Chúng tôi không thể tiếp nhận sự hỗ trợ về y tế, do những vấn đề liên quan đến trách nhiệm. Nhưng chúng tôi tiếp nhận số tiền ủng hộ với lòng biết ơn.
Hôm sau, một đại diện của chúng tôi được mời tham dự lễ phát động chiến dịch quyên góp của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam để ủng hộ nạn nhân Mỹ. Đại diện của chúng tôi đã nhận được một tấm séc 20.000 đô-la do Hội Chữ thập đỏ Việt Nam trao cho và sau đó đã bắt tay hơn 100 vị đại diện Hội Chữ thập đỏ Việt Nam thuộc các công ty và văn phòng ở khắp Hà Nội khi họ bỏ vào hòm quyên góp những phong bì dày tiền ủng hộ. Và nghi lễ đó đã được tiến hành khắp nơi ở Việt Nam tại 64 tỉnh.
Tôi hết sức xúc động vì tinh thần ủng hộ hào hiệp bất ngờ này của những người dân và của một đất nước không lấy gì làm dư dật về kinh tế đối với các nạn nhân trận bão Katrina ở Mỹ. Không một sự kiện nào mà chúng ta đã tổ chức để kỉ niệm 10 năm quan hệ ngoại giao có thể thể hiện mối quan hệ sâu sắc đã hình thành giữa hai dân tộc một cách rõ ràng như sự đáp ứng hào hiệp ấy khi chúng tôi gặp khó khăn. Chính vì vậy mà tôi rất lạc quan về việc chúng ta đang thực sự cùng chia sẻ mục tiêu nâng mối quan hệ này lên một tầm cao mới.
Để kết luận, tôi muốn nói rằng toàn thể quý vị ở đây, dù là thuộc cộng đồng học giả, doanh nhân, du lịch hay phát triển, đều có một vai trò quan trọng đối với việc đẩy mạnh các quan hệ trao đổi giữa nhân dân Mỹ và nhân dân Việt Nam để tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa Mỹ và Việt Nam. Tôi hy vọng rằng quan hệ giữa hai nước nói chung và giữa California và Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ. Tôi tin tưởng ở sự giúp đỡ của quý vị. Xin cảm ơn quý vị.