jump over navigation bar
Embassy SealBộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Đại sứ quán Hợp chúng quốc Hoa Kỳ - Hanoi, Vietnam flag graphic
Đại sứ quán Hoa Kỳ
 
  Phó Đại sứ Cựu Đại sứ Cựu Phó đại sứ

Phỏng vấn Đại sứ Michael W. Marine

Đại sứ Michael W. Marine trả lời phỏng vấn báo Việt Nam News về trợ giúp của chương trình PEPFAR dành cho nỗ lực phòng chống HIV/AIDS của Việt Nam

Hà Nội, 31/7/2007

Phóng viên: Thưa Đại sứ, ông đánh giá thế nào về tình hình HIV/AIDS ở Việt Nam, so với các nước khác trên thế giới và nhất là so với 14 nước trọng điểm khác trong Kế hoạch Khẩn cấp của Tổng thống Mỹ về Cứu trợ AIDS (PEPFAR)?

Đại sứ Marine: Tình hình HIV/AIDS ở các nước trên thế giới rất khác nhau. Chúng tôi cũng có vấn đề với HIV/AIDS ở Mỹ. Ở Việt Nam, dịch vẫn còn tập trung hầu hết ở các nhóm có nguy cơ cao, trong đó có những người tiêm chích ma tuý và hành nghề mãi dâm, nhưng cũng có các dấu hiệu dịch đang bắt đầu lan ra cộng đồng và điều đó thật đáng lo ngại.

Tình hình HIV/AIDS ở Việt Nam quả là nghiêm trọng nhưng tôi được biết tỷ lệ các trường hợp có HIV của Việt Nam thấp hơn 14 nước còn lại tham gia PEPFAR, điều này có nghĩa chúng ta có thể đạt được thành công lớn vì dịch vẫn còn ở mức độ hạn chế. Nhưng để thành công, phải rất nỗ lực. Không chỉ các nhân viên y tế, mà các nhà giáo dục, Bộ Lao động-Thương binh-Xã hội, Bộ Công an, các cấp chính quyền đều có vai trò trong nỗ lực này. Cần phải làm nhiều hơn nữa để tạo ra các kênh liên lạc tốt hơn và làm cho công việc hiệu quả hơn.

Tôi nghĩ chúng ta đã làm được rất nhiều việc có ích, đứng đầu là Bộ Y tế, với sự tham gia của nhiều người khác. Mỹ là nước viện trợ song phương lớn nhất dành cho Việt Nam và chúng tôi cũng là nước đóng góp chính cho Global Fund (Quỹ Toàn cầu về Phòng chống HIV/AIDS). Có 3 khía cạnh trong công tác phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam: dự phòng - ngăn ngừa các trường hợp nhiễm mới; điều trị - cải thiện công tác điều trị và giúp đỡ những người có HIV hoặc đã chuyển sang giai đoạn AIDS; và chăm sóc - đây là một vấn đề phức tạp, liên quan đến giúp đỡ những người bị ảnh hưởng vì họ là thành viên của gia đình có người có HIV/AIDS, trẻ mồ côi do cha mẹ mất vì HIV/AIDS, và chăm sóc những bệnh nhân ở bất cứ giai đoạn nào, nhất là những người sắp mất trong khi điều trị bằng thuốc với họ không còn tác dụng nữa.

Về mặt điều trị và chăm sóc, còn nhiều việc phải làm nhưng chúng ta đang làm tốt công tác này. Tuy nhiên, về mặt dự phòng, tôi thấy lo lắng, chúng ta chưa đạt được thành công trong việc ngăn ngừa các trường hợp nhiễm mới, đây là một thực tế không chỉ riêng ở Việt Nam mà trên toàn thế giới. Có quá nhiều trường hợp nhiễm mới. Hiện nay, chúng ta có những phương pháp điều trị bằng thuốc giúp người bệnh duy trì cuộc sống bình thường. Nhưng việc điều trị đó rất tốn kém. Xã hội phải gánh các chi phí đó và nếu có quá nhiều trường hợp nhiễm mới, chi phí cứ thế tăng lên và điều đó thật đáng lo ngại.

Phóng viên: Tình hình đã thay đổi như thế nào kể từ khi ông đến Việt Nam năm 2004, khi đó Việt Nam trở thành nước thứ 15 tham gia chương trình PEPFAR?

Đại sứ Marine: Tình hình đã thay đổi nhiều, chúng ta có nhiều tiền hơn để thực hiện công việc. Tiền viện trợ thông qua PEPFAR đã giúp chúng ta có nhiều nguồn lực hơn để đương đầu với HIV/AIDS ở Việt Nam.

Tôi thấy sự hợp tác, cộng tác giữa các nhà tài trợ đã tăng lên đáng kể để củng cố công việc chúng ta đang làm và bảo đảm rằng chúng ta làm nhiều nhất có thể được mà không trùng lặp công việc của nhau. Tôi cũng thấy mức độ hợp tác và đối thoại giữa các nhà tài trợ và Chính phủ Việt Nam đã tốt lên nhiều.

Như tôi đã nói ở phần trên, vì hàng ngày vẫn có thêm hơn 100 người nhiễm HIV, cho nên chúng ta chưa thể lơi là, chúng ta chưa chiến thắng, chúng ta đang làm việc tốt hơn nhưng chúng ta vẫn chưa chiến thắng. Chúng ta cần làm việc tích cực hơn và khôn ngoan hơn. Chừng nào chúng ta chưa thể giảng giải cho mọi người về HIV là gì thì sẽ vẫn còn người bị lây nhiễm, chúng ta cần cải thiện công tác dự phòng một cách cụ thể.

Số tiền dành cho cuộc chiến này đã tăng từ 34 triệu đôla Mỹ trong tài khoá 2006 lên 66 triệu đôla Mỹ cho tài khoá 2007, điều đó cho thấy sẽ có nhiều việc được làm nhưng chúng ta vẫn cần thêm tiền. Với 25 triệu đôla chúng ta có thể nỗ lực có giới hạn, với 65 triệu đôla chúng ta có thể làm được nhiều việc hơn, mở rộng chương trình tư vấn và xét nghiệm của chúng ta, chúng ta có thể xây dựng thêm đối tác với các phòng xét nghiệm để tăng cường năng lực xét nghiệm. Cần có thêm tài trợ để đánh bại dịch bệnh này.

Chúng ta hiện có kha khá tiền, chúng ta cần sử dụng số tiền đó hiệu quả, chúng ta cần có các chương trình hiệu quả về dự phòng, điều trị và chăm sóc. Tiền của PEPFAR chỉ là một phần trong số đó. Còn có Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển châu Á, Chính phủ Anh và quỹ Global Fund - quỹ này được nhiều nhà tài trợ đóng góp - chuyên làm việc về HIV, sốt rét và lao.

Điều quan trọng đối với PEPFAR là kết quả, chúng tôi gọi là mục tiêu. Chúng tôi muốn đến cuối năm 2008 sẽ có 22.000 người được điều trị ở Việt Nam. Một mục tiêu khác là ngăn ngừa hơn 600.000 trường hợp. Thật khó đo đếm được mức độ thành công về mặt con số các trường hợp. Chúng ta không nhất thiết phải khẳng định các kết quả này là của các chương trình này, nhưng chúng tôi vẫn cố gắng thống kê các kết quả và như vậy sẽ dễ dàng hơn khi làm việc với Quốc hội Mỹ để đề nghị tài trợ thêm.

Bạn biết đấy, Tổng thống Bush mới tuyên bố ông muốn chương trình PEPFAR tiếp tục. Ban đầu PEPFAR dự kiến diễn ra từ 2004 đến 2008, hiện nay chúng tôi đang chuẩn bị cho giai đoạn 2, từ 2009 đến 2013. Tổng thống muốn tăng gấp đôi tiền viện trợ từ 15 tỷ đôla lên 30 tỷ đôla và đó là một số tiền lớn. Nhưng điều quan trọng là như tôi đã nói lúc trước: nếu chúng ta không thành công trong công tác dự phòng, sẽ chẳng có số tiền nào là đủ cả. Chúng ta sẽ phải tiếp tục chi tiền cho việc điều trị, đó là lý do tại sao việc dự phòng rất quan trọng như vậy đấy.

Phóng viên: Những khó khăn, thách thức đối với chương trình ở Việt Nam là gì, thưa ông?

Đại sứ Marine: Chúng ta phải duy trì các kênh liên lạc tốt với các đối tác. Tôi gặp gỡ với các cán bộ điều hành của nhóm công tác PEPFAR tại Việt Nam 2 tuần 1 lần và chúng tôi thảo luận những việc cần làm.

Tôi nghĩ bên cạnh công tác dự phòng, cần chú ý đến sự kỳ thị và phân biệt đối xử, chúng ta phải làm thế nào để những người có HIV và AIDS hoà nhập với cộng đồng để con cái họ có thể đi học mà không gặp vấn đề gì, và hàng xóm của họ đối xử với họ như bình thường? Khi tôi đi thăm các tỉnh, tôi trao đổi với các lãnh đạo tỉnh. Tôi nghĩ họ hầu hết đều cố gắng xử lý vấn đề này. Nhiều điều đã cải thiện ở Việt Nam kể từ khi luật mới về phòng chống HIV/AIDS được thông qua, nhưng nếu bạn ra đường và hỏi mọi người, bạn sẽ thấy vẫn có sự định kiến, những khái niệm sai và hiểu lầm về sự lây nhiễm cũng như các tác động liên quan. Tất cả những điều đó cần phải thay đổi.

Phóng viên: Thưa Đại sứ, những thách thức đối với Việt Nam trong 5 năm tới là gì?

Đại sứ Marine: Tôi nghĩ tôi cũng đã nói về các thách thức đó. Đó là cần có các kênh liên lạc tốt giữa chính phủ với các tổ chức phi chính phủ, các nỗ lực gia tăng hoạt động ngoại giao nhân dân, các nỗ lực giúp người có HIV/AIDS hoà nhập, xây dựng một chiến lược và kế hoạch hiệu quả để giải quyết vấn đề dự phòng.

Có nhiều khía cạnh, chẳng hạn như tôi tin là cần phải có các bài giảng về HIV/AIDS trong chương trình giáo dục. Không nhất thiết phải diễn ra hàng tuần, nhưng có thể là một hoặc hai lần trong năm học. Chương trình đó cần phù hợp với độ tuổi, cần có thông tin tốt và trình bày theo những cách thức mà các bạn trẻ có thể hiểu.

Đó là một thách thức trong xã hội Việt Nam vì mọi người ngại nói về nó. Chừng nào còn ngại nói về nó, thì sẽ còn nhiều sự hiều lầm. Có nhiều cách để nói ra vấn đề. Chúng ta cần làm việc tốt hơn với những người tiêm chích ma tuý, họ dùng chung kim tiêm và có nguy cơ lây nhiễm. Đương nhiên là cần làm thế nào để người ta không dùng ma tuý nữa, nhưng cũng phải có một chiến lược đối với những người vẫn cứ dùng ma tuý. Tức là chúng ta phải dạy họ các tự bảo vệ bản thân họ và những người thân của họ.

Phóng viên: Xin cảm ơn Đại sứ!

lên đầu trang ^

Công cụ:

Printer_icon.gif In trang này



 

    Trang Web này được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ quản lý.
    Chúng tôi không chịu trách nhiệm về nội dung và tính bảo mật thông tin của các trang Web khác được liên kết đến.


Đại sứ quán Hoa Kỳ