Quan hệ Thương mại Mỹ-Việt
KỶ NIỆM MỘT NĂM NGÀY HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI SONG PHƯƠNG CÓ HIỆU LỰC
VOA phỏng vấn Đại sứ Raymond F. Burghardt
Ngày 10/12/2002
Hỏi: Ngày 10/12/2002 đánh dấu kỷ niệm 1 năm ngày Hiệp định Thương mại Song phương giữa Hoa Kỳ và Việt Nam bắt đầu có hiệu lực. Trước khi xem xét những điều mà hiệp định này đã mang lại cho cả hai nước trong năm đầu tiên được thực hiện, có lẽ nên nhắc các thính giả của chúng tôi rằng hiệp định này là kết quả của 4 năm đàm phán.Thưa Ngài Đại sứ, tại sao thời gian đàm phán để đi đến hiệp định lại lâu như vậy?
Trả lời: Bản Hiệp định Thương mại là một bước then chốt trong quá trình bình thường hóa quan hệ do Tổng thống George H.W. Bush khởi xướng từ hơn 10 năm trước, được tiếp nối bởi Tổng thống Clinton, và được thực hiện bởi Tổng thống George W. Bush. Giờ đây hiệp định này là nguyên tắc trọng yếu trong quan hệ của Hoa Kỳ với Việt Nam và nó đã bắt đầu có tác động đến sự thịnh vượng của nhân dân hai nước.
Đây là hiệp định thương mại song phương toàn diện nhất mà Hoa kỳ hoặc Việt Nam từ trước đến nay chưa bao giờ đàm phán với một quốc gia nào khác. Chỉ vì một lý do này thôi, cũng đủ thấy chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi tiến trình đàm phán và phê chuẩn hiệp định đã diễn ra một cách cẩn thận và được thảo luận kỹ càng.
Hỏi: Trong quá trình đàm phán, Đại sứ quán đã đưa ra một thông cáo tuyên bố rằng "mục đích của Hiệp định là đảm bảo sự minh bạch của pháp luật thương mại, khuyến khích và thúc đẩy thương mại, và giúp Việt Nam hội nhập về kinh tế, gồm cả việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới". Thưa Ngài Đại sứ, hai nước đã làm được những gì nhằm đạt đến mục đích đó?
Trả lời: Một năm sau khi Hiệp định Thương mại Song phương giữa Hoa Kỳ và Việt Nam có hiệu lực, hiệp định lịch sử này rõ ràng đã đem lại lợi ích cho nhân dân và các công ty của hai quốc gia vì sự tăng vọt mậu dịch hai chiều. Xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ trong chín tháng đầu năm 2002 tăng 113 phần trăm so với cùng kỳ năm ngoái. Đồng thời, xuất khẩu của Hoa Kỳ sang Việt Nam cũng tăng lên đáng kể - tăng 30% năm nay.
Việc thực hiện Hiệp định là một lộ trình thực hiện chức năng để Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới. Nhiều thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới hiện nay đang theo dõi sát sao tình hình thực hiện Hiệp định của Việt Nam, và coi đó là biểu hiện cho khả năng của Việt Nam trong việc đáp ứng những yêu cầu cơ bản để gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới. Đây là một trong những mục tiêu chủ yếu của Hiệp định -- sự tiến gần đến Tổ chức Thương mại Thế giới và sự hội nhập Việt nam vào nền kinh tế thế giới. Sự cải cách kinh tế phù hợp với Hiệp định là một bước cần thiết tiến tới việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới.
Để đạt được mục tiêu nói trên, còn nhiều việc cần phải làm trong những lĩnh vực mà bạn đã đề cập. Việt Nam đang đối diện với một số thử thách nghiêm trọng trong việc thực hiện những nghĩa vụ của mình, nhất là về lĩnh vực tính minh bạch, sự đầu tư và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Những lĩnh vực này quan trọng không những đối với sự thực thi thành công của bản Hiệp định mà cũng để cải tiến môi trường đầu tư trên khắp đất nước Việt Nam, đẩy mạnh sự hội nhập của Việt nam vào nền kinh tế toàn cầu và sửa soạn Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới.
Hoa Kỳ đang cung cấp những sự trợ giúp kinh tế song phương rất lớn lao, bao gồm lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ và tính minh bạch, không những nhằm vào mục đích thực thi bản Hiệp định mà cũng để chuẩn bị Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới.
Hỏi: Xin Ngài Đại sứ cho biết những kết quả đáng chú ý nhất mà bản Hiệp định đã đạt được kể từ tháng 12 năm 2001?
Trả lời: Việt Nam đã được hưởng lợi rất nhiều từ việc Hoa Kỳ cho Việt Nam quyền tiếp cận thị trường Hoa Kỳ theo mức cao của Tổ chức Thương mại Thế giới. Sự tăng trưởng to lớn trong mậu dịch có một tác động thực tế và đáng kể đối với các vấn đề như tạo việc làm, đầu tư, thu thuế và phát triển kinh tế nói chung tại Việt Nam, và cũng có lợi cho người tiêu dùng và các nhà xuất khẩu Hoa Kỳ.
Bản Hiệp định là một yếu tố quan trọng đưa Việt Nam đi theo đúng định hướng cải cách kinh tế. Việc Việt Nam thực hiện Hiệp định sẽ tạo ra một nền kinh tế trong nước hiệu quả hơn và một nền kinh tế có thể thu hút nhiều đầu tư nước ngoài hơn.
Hỏi: Thưa Ngài Đại sứ, liệu bản Hiệp định có thể còn hiệu quả hơn trong những điều kiện và hoàn cảnh khác hay không?
Trả lời: Tôi nghĩ rằng bản Hiệp định đã có hiệu quả cao trong điều kiện hoàn cảnh khó khăn. Mức tăng trưởng mạnh mẽ trong thương mại song phương của hai nước cần phải được xem xét trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu vừa trải qua những cú sốc nghiêm trọng hồi năm ngoái, và xuất khẩu của Việt Nam sang các nước khác trong giai đoạn này đang chững lại hoặc giảm đi. Sự thành công của bản Hiệp định là một điểm sáng trong bức tranh thương mại mờ tối.
Hỏi: Thưa Ngài Đại sứ, liệu sự tranh chấp hiện nay về vấn đề cá da trơn giữa hai nước, với những hệ quả tất yếu của nó - vụ kiện chống bán phá giá, và quyết định mới đây của Bộ Thương mại Hoa Kỳ tuyên bố Việt Nam là một nền kinh tế phi thị trường - có làm giảm đi triển vọng thành công nói chung của việc thực hiện bản Hiệp định hay không?
Trả lời: Không hề có chuyện đó. Bản Hiệp định và sự diễn biến chống bán phá giá là hai vấn đề tách biệt. Bản Hiệp định không phải là một cây đũa thần và không nhằm mục đích chấm dứt tất cả các tranh chấp thương mại. Chính phủ Hoa Kỳ và Việt Nam đã đồng ý rõ ràng trong bản Hiệp định rằng mỗi nước có thể áp dụng luật pháp thương mại công bằng của mình, bao gồm cả luật pháp về bán phá giá.
Hỏi: Thưa Ngài Đại sứ, Ngài có muốn chia sẻ bất cứ suy nghĩ nào khác với các thính giả Việt Nam của chúng tôi trong dịp này không?
Trả lời: Tôi sang Việt Nam để trở thành Đại sứ Hoa Kỳ vào ngày 15/12/2001, tức là 5 ngày sau khi bản hiệp định lịch sử bắt đầu có hiệu lực. Nhưng đó không phải là lần đầu tiên tôi có mặt ở Việt Nam. Tôi đã có mặt ở Việt Nam từ năm 1970 đến 1973. Quả là một điều xúc động khi trở lại Việt Nam bây giờ với trách nhiệm tiếp tục quá trình bình thường hóa quan hệ giữa hai nước chúng tôi.
Hiện nay, phần lớn công việc hàng ngày của Đại sứ quán liên quan đến các khía cạnh kinh tế trong quan hệ giữa hai nước chúng tôi, nhưng tôi cũng tìm cách mở rộng quan hệ vượt phạm vi thương mại thuần túy. Cho đến nay, chúng tôi thường xuyên có các cuộc bàn luận chính thức với Chính phủ Việt Nam về nhiều vấn đề quan trọng, như vấn đề nhân quyền, các vấn đề chiến lược khu vực và toàn cầu, và cuộc chiến chống chủ nghĩa khủng bố quốc tế. Ngoài ra, chúng tôi cũng có một số nỗ lực hợp tác trong các lĩnh vực như khoa học và công nghệ, lao động, và y tế. Chúng tôi cũng là nhà tài trợ cho Việt Nam lớn thứ 7 với mức đóng góp hàng năm hơn 30 triệu đô la. Với sự thiết lập Quỹ Giáo dục Việt Nam trong năm nay, một chương trình trao đổi mới do Chính phủ Hoa Kỳ tài trợ trong ngành khoa học và công nghệ, chúng tôi sẽ cung cấp thêm 5 triệu đô la dành cho các suất học bổng và trao đổi sinh viên. Điều này có nghĩa là Việt Nam sẽ là nước nhận được nhiều nhất sự tài trợ giáo dục từ Chính phủ Hoa Kỳ. Hiện nay chúng tôi đã có một mối quan hệ tốt đẹp, nhưng chúng tôi còn muốn xây dựng quan hệ gần gũi hơn nữa trong các lĩnh vực thực thi pháp luật, chống ma túy, và hợp tác giữa quân đội hai nước. Chính phủ Hoa Kỳ sẽ tiếp tục hướng tới một mối quan hệ chặt chẽ hơn trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau và mục tiêu là một tương lai thịnh vượng chung và hạnh phúc tinh thần cho cả hai dân tộc chúng tôi.
Cảm ơn bạn đã dành cho tôi cơ hội phát biểu ý kiến với các thính giả của đài.