jump over navigation bar
Embassy SealBộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Đại sứ quán Hoa Kỳ - Hanoi, Vietnam flag graphic
 
Thông tin cập nhật
 
  Trung tâm Thông tin Tư liệu Các dịch vụ của IRC Dịch vụ Reference Update Tư liệu dịch Kinh tế & Thương mại An ninh khu vực Các vấn đề toàn cầu Báo chí, truyền thông và công nghệ thông tin Bài 10 Bài 15 Chính trị, xã hội và văn hóa Mỹ Các chương trình trao đổi giáo dục Quan hệ Mỹ-Việt Góc Nghiên cứu Việt Nam-Hoa Kỳ Học tập ở Hoa Kỳ Cơ hội xin viện trợ/học bổng Các hoạt động dành cho công chúng

Tư liệu dịch: Báo chí, truyền thông và công nghệ thông tin

NỀN BÁO CHÍ HOA KỲ
Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, năm 1994

Ngành công nghiệp truyền thông là khu vực tư nhân sử dụng nhiều nhân công nhất tại Hoa Kỳ và lĩnh vực thông tấn là bộ phận lớn nhất của ngành công nghiệp đó. Tạo ra thông tin chứ không chỉ truyền bá thông tin là một ngành kinh doanh tăng trưởng nhanh tại Hoa Kỳ. 

Trước đây, các hãng kinh doanh tin tức Hoa Kỳ thường là các hãng trong nước, nhưng hiện nay thì không còn như vậy. Việc truyền tin tức thông qua hệ thống vệ tinh của hãng CNN 24 giờ một ngày và việc xuất bản Tạp chí Wall Street trong cùng ngày tại châu Á và châu Âu thể hiện rõ nét tầm vóc toàn cầu của ngành truyền thông Hoa Kỳ. 

Tuy vậy, đã có những thay đổi trong những khía cạnh khác của ngành này bên cạnh sự tăng trưởng. Báo chí Hoa Kỳ đã trải qua một sự chuyển đổi cơ bản trong những năm gần đây, một phần do công nghệ mới và một phần do những thay đổi trong xã hội mà báo chí lựa chọn để phản ánh. Đây không phải là điều đáng ngạc nhiên bởi vì chính sự thay đổi là một đặc trưng của nền văn hóa Hoa Kỳ. Cho dù có tự coi mình là một người quan sát hay không thì ngành công nghiệp tin tức Hoa Kỳ vẫn là một bộ phận đầy đủ trong nền văn hóa đó, cũng như trong hệ thống chính trị dân chủ và nền kinh tế thị trường tự do của đất nước này. 

Được bảo vệ bởi sự can thiệp của chính phủ bằng một điều luật đã tồn tại 200 năm trong Hiến pháp Hoa Kỳ, báo chí đã tự mình trở thành một người giám sát đối với đời sống chính quyền, người ghi lại các sự kiện công cộng và thậm chí là người phân xử không chính thức các hành động của công chúng. Ngành công nghiệp tin tức của Hoa Kỳ cũng là một ngành kinh doanh rất lớn. Chỉ riêng báo chí đã tạo ra khoảng 32 tỉ đô-la doanh thu từ quảng cáo trong mỗi năm. Các tạp chí, với hơn 11.000 loại, cũng phát hành với số lượng nhiều hơn cả số người Mỹ đọc chúng. Mỗi hộ gia đình có ít nhất là ba chiếc đài thu thanh và hơn 95% số hộ có tivi. 

Không cần phải nói, báo chí không phải luôn luôn là một phương tiện thông tin đại chúng. Báo chí Hoa Kỳ ra đời vào thế kỷ XVIII, là một công cụ nhỏ của giới trí thức tinh hoa và là một đại biểu vô tư trong đời sống chính trị của các đảng phái. Đó là các tờ báo in khổ nhỏ, được điều hành bởi những người phụ trách bưu điện thuộc địa và những nhà in với chính kiến riêng. Phải ít nhất là một thế kỷ sau, báo chí Hoa Kỳ mới tự chuyển đổi hình thức thành một phương tiện truyền thông không bị lệ thuộc bởi ý thức hệ, phù hợp với những nhu cầu, sự năng động và đa dạng của đất nước. 

Tuy vậy, dù có sự thay đổi, báo chí Hoa Kỳ vẫn duy trì hai yếu tố cơ bản trong hơn hai thế kỷ qua là: (1) sự độc lập của nó đối với chính phủ và (2) tồn tại về mặt tài chính sự, nếu không muốn nói i là của công chúng để có thể ủng hộ. 

Ngày nay, báo chí được biết dưới cái tên đa phương tiện truyền thông, danh từ số nhiều của phương tiện truyền tải, và là một sự phản ánh của nhiều thành tố của báo chí trong thời đại điện tử. Điều này là do ký tự viết không còn thống trị nghành công nghiệp thông tin như trước nữa mà thay vào đó là hình ảnh và âm thanh. 

Một số nghiên cứu gần đây cho rằng, 65% người Mỹ phụ thuộc vào truyền hình để thoả mãn nhu cầu tin tức hàng ngày của họ. Tuy vậy, số liệu này có thể gây hiểu lầm bởi vì như thế có nghĩa là truyền hình hoàn toàn làm thoả mãn nhu cầu tin tức của công chúng. Trong 65% số người đó, có nhiều người đọc báo và tạp chí, nghe đài, nhận được rất nhiều thư từ và sách quảng cáo (phần lớn trong số đó là những quảng cáo không theo yêu cầu được gửi vào hộp thư của họ). Ngày nay, mọi người phải làm quen với thành viên mới nhất của gia đình truyền thông: máy fax. Thêm vào đó là thiết bị xem băng hình, thư điện tử và một công cụ mới được gọi là hình ảnh tương tác, do vậy có gì ngạc nhiên khi người dân Mỹ than phiền rằng “không có thời gian trong ngày” để làm tất cả những thứ mà họ muốn hoặc cần làm. 

Một trong những hệ quả của tất cả các lựa chọn này là việc gia tăng cạnh tranh trong thị trường thông tin và quảng cáo nhằm giành được sự chú ý của mọi người, và việc tranh giành này cũng đã góp phần làm mờ nhạt ranh giới từng một thời rõ ràng giữa thông tin, giải trí và thương mại. Báo chí không còn dễ dàng được định nghĩa như một thập kỷ trước đây. Ngành kinh doanh tin tức Hoa Kỳ đang phải đối mặt với cái mà giới tâm thần học gọi là “sự khủng hoảng bản sắc”. Điều này đặc biệt đúng trong lĩnh vực báo chí, khi vai trò (và cả doanh thu) của nó đang bị thu hẹp trong thời đại điện tử. Liên quan tới vấn đề này là sự lo ngại cũng như một số bằng chứng nhất định cho thấy thói quen đọc của người Mỹ đang suy giảm, chủ yếu là do có truyền hình và thiết bị xem băng ghi hình tại nhà. 

Tuy nhiên còn quá sớm để kết thúc thời đại của các phương tiện truyền thông dưới hình thức ấn phẩm. Hầu như tất cả các thị trấn của nước Mỹ với mọi quy mô dân số (10.000 người hay nhiều hơn) đều có tờ báo riêng của mình, cũng như được tiếp cận với một tờ nhật báo lớn. 

Câu chuyện về nền báo chí Hoa Kỳ là một câu chuyện phức tạp phản ánh chủ nghĩa đa nguyên của chính đất nước. Một trong những miêu tả được ưa thích là: sự đa dạng. Tuy nhiên, vẫn có những sự liên kết mỏng manh ràng buộc các phương tiện truyền thông tại Hoa Kỳ. Dưới đây là một số nét chung quan trọng nhất: 

  • Ngành công nghiệp tin tức Hoa Kỳ là một ngành kinh doanh.
  • Ngành này tự coi là sự đại diện của công chúng.
  • Ngành công nghiệp tin tức hầu như không bị quản lý của nhà nước.
  • Không có một định nghĩa chung nào về tin tức.
  • Báo chí chủ đạo nhìn chung không mang tính ý thức hệ.
  • Truyền thống báo chí Hoa Kỳ là dựa vào cộng đồng. 

Một ngành kinh doanh: Ngành công nghiệp báo chí và phát thanh, truyền hình Hoa Kỳ chủ yếu gồm các doanh nghiệp tìm kiếm lợi nhuận và phải có tình hình tài chính khoẻ mạnh để có thể tồn tại. Chỉ một số lượng nhỏ trong số này là được trợ cấp (dưới 20% ngành truyền thông và dưới 1% ngành báo chí). Hầu hết phụ thuộc vào quảng cáo thương mại để tạo ra phần lớn thu nhập (khoảng 75%). Năm 1991, ngành truyền thông đã thu được tổng cộng 130 tỉ đô-la doanh thu từ quảng cáo. 

Chủ tòa báo hoặc nhà in thường là một doanh nhân nhiều hơn là một nhà báo, trong khi đó, biên tập viên lại luôn là người phụ trách các công việc về tin tức của tờ báo. Chủ nhà in, người có tiếng nói cuối cùng đối với sản phẩm, có thể không muốn đưa những tin tức có thể gây hại đến công việc kinh doanh của mình trong khi biên tập viên trong giới báo chí Hoa Kỳ lại thường bị chi phối bởi câu nói: “Nếu đó là tin tức, hãy cho xuất bản”. Trong điều kiện kinh doanh khả quan nhất, chủ nhà in sẽ trao cho biên tập viên thẩm quyền cuối cùng đối với các tin tức đó. 

Một trong những cách mà khu vực thông tin của ngành báo chí tự bảo vệ mình không bị ảnh hưởng bởi sự xung đột về động cơ lợi nhuận là việc tách biệt rõ ràng bộ phận kinh doanh và bộ phận tin tức, cách ly mỗi các bộ phận để tránh ảnh hưởng lẫn nhau. Tuy nhiên, gần đây, sự phân cách mang tính truyền thống đó đã bị phá vỡ trong một chừng mực nào đó do việc các tờ báo, các tạp chí mới và các chương trình tin tức phát sóng đang đẩy mạnh cuộc chiến giành thêm “thị phần”. 

Với số lượng các hãng truyền thông nhiều như vậy và thêm vào đó là việc các nhà quảng cáo có thể tiếp cận khách hàng của mình bằng nhiều cách khác, cuộc cạnh tranh giữa các hãng truyền thông để có được những đồng đô-la từ quảng cáo là rất gay gắt. Các nhà phê bình cho rằng điều này đã góp phần vào chính sách chiều theo mong muốn và những thị hiếu không lành mạnh của một số khán giả hơn là những gì mà khán giả cần. Nhưng mặt khác, những người chủ trương chính sách này lại nói rằng dành sự chú ý cho thị trường của mình là cách hiệu quả nhất để phục vụ công chúng, và rằng, vai trò của báo chí không phải là ra lệnh hay thuyết giảng độc giả của mình. 

Trung tâm của sự tận tâm “phục vụ khách hàng” này là sự ra đời của hình thức sở hữu nhóm và sự suy tàn của cuộc cạnh tranh giữa các tờ báo trong cộng đồng. Kết quả là ngành công nghiệp này đã trở nên đồng nhất hơn. Hầu hết các tờ báo thuộc “sở hữu gia đình” và các đài phát sóng địa phương đã bị các tập đoàn truyền thông lớn mua lại, và điều này đã ảnh hưởng tiêu cực đến tính chất cá nhân. Đây cũng là một xu hướng không chỉ trong ngành truyền thông. 

Tiêu chuẩn chủ đạo đánh giá thành công của các hãng truyền thông thuộc sở hữu tập đoàn của Hoa Kỳ chính là khả năng sinh lợi nhuận. Tiêu chuẩn này, đi đôi với sự lo ngại rằng người Mỹ đang dành ít thời gian hơn cho việc đọc tin tức, đã thay đổi căn bản hình thức của báo chí Hoa Kỳ. Giống như cách trình bày của tờ USA Today thuộc sở hữu của Gannette khởi xướng, hầu hết báo chí ngày nay đều sử dụng nhiều màu sắc hơn, nhiều hình hoạ hấp dẫn hơn, những câu chuyện ngắn hơn và nhiều tin tức giải trí hơn nhằm thu hút thế hệ xem truyền hình. 

Tuy nhiên, điều này không có nghĩa rằng sở hữu tập đoàn và sự quan tâm ngày càng lớn vì lợi nhuận về bản chất là có hại đối với nghề làm báo. Thật mỉa mai là, một số hãng tin có ợi nhuận cao nhất lại cũng là những hãng tin tốt nhất bởi vì họ đã sử dụng nguồn thu nhập ngày càng tăng của mình để cung cấp tài chính cho các chương trình có chất lượng tốt hơn. Cũng giống như với các hệ thống báo chí phổ biến rộng rãi khác, những lời buộc tội thường xuyên rằng các phương tiện thông tin đại chúng có xu hướng đưa tin giật gân nhằm “bán báo” là những lập luận khó bác bỏ. Nhưng có một điều quan trọng cần ghi nhận là các nhà báo đang làm việc của Hoa Kỳ không quan tâm tới lợi nhuận của tòa báo của mình; để được in bài trên trang nhất: có, còn việc bán báo: không. Và những gì xuất hiện trên những cột tin tức của các tờ báo ngày nay vẫn chủ yếu là quan điểm của các nhà báo chứ không phải của các nhà kinh doanh. 

Đại diện cho niềm tin công chúng: Tự coi mình vừa là một ngành kinh doanh, vừa là đại diện cho niềm tin của công chúng có thể gây nên xung đột, nếu không muốn nói là một sự lẫn lộn, ngay trong ngành công nghiệp tin tức, không nên đề cập dưới con mắt của công chúng. 

Tuy vậy, “quyền được biết của công chúng” vẫn là hạt nhân của triết lý báo chí tự do Hoa Kỳ và nó định hướng con đường đi cho báo chí, đặc biệt là trong mối quan hệ với chính phủ. Có người gọi mối quan hệ này là “đối địch”. Người khác lại nghĩ về mối quan hệ này một cách ôn hòa hơn, chỉ đơn giản là báo chí có vai trò giám sát chứ không có vai trò đối lập. 

Đó là mối quan hệ mà trong đó các quan chức cố gắng nói về cách nhìn của họ đối với các sự kiện hoặc là tìm cách lảng tránh sự công khai, trong khi báo chí cố gắng tìm ra những sai lầm và chiến đấu chống lại những cố gắng nhằm che đậy những sai lầm đó. Nói chung, để đối phó với những áp lực từ phía các phương tiện truyền thông đại chúng, rất nhiều các cơ quan lập pháp của các bang đã thông qua các đạo luật “Ánh dương”, yêu cầu các cuộc họp của chính quyền bang phải được tổ chức công khai. Bên cạnh đó còn có Đạo luật Tự do Thông tin của liên bang (FOIA), trao cho các công dân có yêu cầu - thường là các nhà báo - quyền được tiếp cận các hồ sơ và tài liệu của chính quyền bang không cần bảo mật vì lý do an ninh. 

Tóm lại, nền báo chí Hoa Kỳ đảm nhiệm vai trò như là “người giám sát chính phủ”. Quyền lực có được từ vai trò chủ yếu là tự nhận này đã mang đến cho báo chí một danh hiệu đáng kính là “quyền lực thứ tư”, sau ba nhánh quyền lực chính thức của nhà nước (lập pháp, tư pháp và hành pháp). Đây cũng chính là vai trò đã truyền cảm hứng cho Thomas Jefferson, một trong những người sáng lập ra nền dân chủ Hoa Kỳ, khi tuyên bố cách đây khoảng 200 năm rằng: nếu ông phải chọn giữa một bên là một chính phủ không có báo chí và một bên là báo chí không có chính phủ, ông sẽ “không do dự một giây mà chọn cái thứ hai”.      

Chính tầm nhìn như vậy về cách thức vận hành của một nền dân chủ như vậy nên đã thúc đẩy những tác giả của Hiến pháp Hoa Kỳ quyết định vấn đề tự do bày tỏ quan điểm là Điều bổ sung sửa đổi thứ nhất trong chương “Tuyên ngôn Nhân quyền” (Bill of Rights). Trên thực tế, điều luật sửa đổi này chỉ đơn giản nói rằng Quốc hội không thể ban hành các đạo luật vi phạm quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí. Điều khoản ngắn gọn này đã là kim chỉ nam cũng như là tấm lá chắn bảo vệ cho báo chí Hoa Kỳ trong hơn hai thế kỷ qua, song nó không phải là điều bất di bất dịch. Điều quy định này hầu như được thử thách hàng ngày tại các tòa án, trên các con phố và tại các cơ quan quyền lực. Cho đến nay, sự bảo vệ của Điều bổ sung sửa đổi thứ nhất này đã vượt qua được những thử thách trên. 

Chính một phần nhờ sự bảo vệ này mà các phương tiện truyền tin Hoa Kỳ có được sự miễn trừ nhất định trước sự trả đũa từ phía chính quyền. Ví dụ: quan chức chính quyền cực kỳ khó khăn nếu muốn dành thắng lợi trong một vụ kiện giới truyền thông về bôi nhọ danh tiếng bởi vì các tòa án đã phán quyết rằng, công chức chính phủ phải công khai trước sự giám sát cũng như có trách nhiệm đặc biệt trong một hệ thống dân chủ. Các nhà báo Hoa Kỳ cũng đã dành thắng lợi trong nhiều cuộc đấu tranh nhằm bảo vệ sự bí mật của nguồn tin trước yêu cầu của chính phủ, tuy nhiên những cuộc chiến tranh như vậy vẫn thường hay xảy ra. 

Một lĩnh vực vẫn chưa được khẳng định i chính là vấn đề an ninh quốc gia và bí mật của chính phủ. Trong lịch sử, các nhà báo Hoa Kỳ có nhiều quyền tự chủ hơn so với các nhà báo Anh chẳng hạn. Thường thường, chính phủ liên bang vẫn cảnh báo các nhà báo rằng họ có thể bị truy tố theo quy định của những đạo luật hiện hành về tội thu thập tin tức tình báo về Hoa Kỳ. Tuy nhiên, việc này cũng đã không được thực hiện hay theo đuổi một cách nghiêm túc trong những năm gần đây. 

Các phương tiện truyền thông Hoa Kỳ dễ bị tổn thương hơn nhiều trước những vụ kiện cá nhân, những người mà quyền riêng tư của họ có thể đối đầu trực tiếp với cái mà báo chí gọi là “quyền được biết” của công chúng. Tại Hoa Kỳ, bôi nhọ danh tiếng là sự xâm phạm mang tính dân sự chứ không phải là hình sự, tuy nhiên, theo lời của nhiều người trong ngành công nghiệp tin tức, số lượng tiền thưởng hoặc tiền phạt khổng lồ mà tòa án đặt ra trong những năm gần đây đã tạo ra hiệu ứng “lạnh gáy” đối với các hãng kinh doanh tin tức. 

Sự gia tăng của các vụ kiện về bôi nhọ danh tiếng chỉ là một ví dụ về những gì mà báo giới Hoa Kỳ cho là sự ủng hộ đang ngày càng giảm đi từ phía công chúng. Một cuộc khảo sát năm 1991 do Hội các nhà biên tập tin Hoa Kỳ tiến hành đã cho thấy, có ¼ số người được hỏi ý kiến nói rằng sẽ không ủng hộ bất kỳ một sự bảo vệ nào cho báo giới nếu như Hiến pháp được xem lại vào ngày hôm nay, và chưa đến một nửa số người được hỏi đồng ý có một sự bảo vệ nào đó cho báo giới. Đây là sự phản ánh quan niệm tiêu cực coi các phương tiện truyền thông là : kiêu ngạo, định kiến, không chính xác và tọc mạch. 

Các cuộc khảo sát về độ tin cậy đã xoay quanh câu hỏi: Người dân Mỹ tin tưởng vào ai hơn – báo giới hay chính phủ nước họ. Câu trả lời cũng thay đổi tuỳ theo thời điểm và hoàn cảnh. Sau vụ tai tiếng Watergate đầu những năm 1970, báo giới nhận được sự tin tưởng rất cao của công chúng. Tuy nhiên, sau việc đưa tin gây tai tiếng dẫn đến việc một thượng nghị sĩ rút khỏi cuộc đua tranh cử tổng thống năm 1988, báo giới lại chịu sự chỉ trích nặng nề vì đã vượt quá chuẩn mực của nội dung và vi phạm sự riêng tư. 

Nhìn chung, báo giới Hoa Kỳ tin rằng có quá nhiều người dân lẫn lộn giữa lợi ích của giới truyền thông với lợi ích của công chúng. Trong khi các nhà báo lo ngại về những quan niệm này, họ lại có xu hướng coi đó là một thách thức trong quan hệ với công chúng nhiều hơn là một đòi hỏi để có những thay đổi quan trọng. 

Không bị quản lý : Một ấn bản nghiêm túc như tờ New York Times hay một tờ báo lá cải được bày bán ở siêu thị đều tự coi là những tờ báo. Không có đạo luật hay cơ quan chính phủ hoặc cá nhân nào phản đối chuyện đó, bởi vì không có yêu cầu nào về xin phép hoạt động đối với các tờ báo và cũng không có một định nghĩa hay quy định nào về một ấn bản cung cấp tin tức chính thống. 

Ngoài ra, ngành công nghiệp tin tức cũng như nghề làm báo tại Hoa Kỳ không tự điều tiết giống như nghề luật và nghề dược. Báo chí không đòi hỏi một chuẩn mực tối thiểu nào về tư cách thành viên, không cấp hay huỷ bỏ giấy phép hoạt động và cũng không quy định các tiêu chuẩn nghề nghiệp. Mỗi hãng tin hay hiệp hội nhà báo tự đề ra cho mình bộ quy tắc ứng xử và chuẩn mực riêng. 

Việc quyết định liệu một người có đủ tư cách và khả năng để trở thành một nhà báo hay không tại Hoa Kỳ cũng chỉ phụ thuộc vào người thuê anh ta. Tuy vậy, ngày càng có nhiều nhà báo Hoa Kỳ tốt nghiệp từ các trường báo chí, một xu hướng giúp chuẩn hóa các tiêu chí tối thiểu trên toàn quốc. 

Mặc dù mang đặc trưng là chủ nghĩa cá nhân và đa dạng, vẫn có một sự giống nhau đáng kể về các giá trị cũng như cách làm việc trong ngành công nghiệp tin tức chính thống. Những giá trị này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phục vụ công chúng, việc đưa tin vô tư và sự cân bằng về quan điểm. Hầu hết các tờ báo Hoa Kỳ đều rất cố gắng tách thông tin khỏi các ý kiến đưa ra bằng việc phân định rõ ràng các cột tin tức và phần bình luận. 

Mặc dù không có sự quản lý chính thức nào đối với báo chí, song vẫn có cơ chế “kiềm chế” và “đối trọng” chống lại sự thái quá của nhà báo ở cả trong và ngoài ngành. Sự kiềm chế từ bên ngoài bao gồm các đạo luật về chống bôi nhọ danh tiếng và sự giám sát của các tổ chức giám sát do báo giới thành lập. Sự cạnh tranh cũng có xu hướng giúp cho các hãng tin giữ được sự “trung thực”. Sự kiềm chế từ bên trong là việc một số tờ báo chỉ định một “thanh tra viên” có nhiệm vụ điều tra những ý kiến phàn nàn của công chúng, xuất bản các bài tự phê bình và thi hành những chuẩn mực nội bộ. 

Khác với các phương tiện thông tin in ấn, các phương tiện phát sóng truyền thông tại Hoa Kỳ cần phải có giấy phép hoạt động của chính phủ (liên bang), bởi vì không gian phát sóng có hạn được coi là tài sản công. Tuy nhiên, vẫn có những sự bảo vệ chống lại việc phân biệt đối xử mang tính chính trị trong quá trình cấp phép và chỉ có rất ít các trường hợp về định kiến chính trị hay tư tưởng ảnh hưởng đến việc cấp hoặc thu hồi giấy phép. Các quyết định của chính phủ về cấp phép phát sóng chủ yếu hướng tới việc bảo đảm cạnh tranh và sự đa dạng. 

Tin tức: Không có một định nghĩa hay một tập hợp các định nghĩa nào về “tin tức” được chấp nhận một cách phổ biến trong giới truyền thông Hoa Kỳ. Sở dĩ như vậy bởi vì báo chí không phải chỉ được trao một vai trò duy nhất. Trong số những vai trò mà báo chí Hoa Kỳ đảm nhận gồm có vai trò thông tin, giáo dục, đổi mới, giải trí, khuyến khích, hoặc tất cả các vai trò này. 

Tuy nhiên, trong khuôn khổ phạm vi rộng rãi các định nghĩa, có một sự nhất trí chung rằng cái gì đáng là tin tức và cái gì không. Trong đó những đặc trưng tiêu biểu bao gồm: hoạt động của các quan chức và các nhân vật nổi tiếng; bất kỳ hành động nào của chính phủ; các sự kiện mới hoặc lạ kỳ (như tội phạm hay thảm hoạ); những phát giác mang tính kích động hoặc gây sốc (liên quan đến tình dục hoặc các vụ tai tiếng); và những xu hướng xã hội mới. 

Nhấn mạnh đến tính lạ kỳ chính là đặc điểm chính của báo chí Hoa Kỳ hiện đại, như người ta giải thích bằng câu châm ngôn: “Nếu chó cắn người, đó không phải là tin tức; nếu người cắn chó, đó là tin tức”. Công chúng có xu hướng có một quan hệ yêu – ghét đối với định nghĩa này. Một mặt, độc giả được giải trí hoặc bị kích động bởi tin tức; mặt khác họ cũng không bằng lòng khi “đời sống thường nhật” có xu hướng làm ngơ. 

Đã có một thời ở Hoa Kỳ rất ít người sẽ tranh cãi với một biên tập viên khó tính khi người này tuyên bố: “Tin tức là cái mà tôi gọi là tin tức”. Ngày nay, với sự chú ý tới nhu cầu của độc giả mua báo, rất khó có thể tìm được những biên tập viên như vậy. 

Với nỗ lực nhằm trở nên hữu ích và phù hợp hơn với người mua, một trong những cải tiến thành công trong những năm gần đây là báo chí cũng phải có dịch vụ khách hàng – điều tra về những phàn nàn của người mua, phơi bày những sự lừa gạt trong nghề và đưa ra lời khuyên cho khách hàng về thị trường. 

Có lẽ, niềm tự hào lớn nhất của nền báo chí Hoa Kỳ là truyền thống đưa tin điều tra, chủ yếu là nhằm phơi bày việc lạm dụng quyền lực. Giải thưởng Pulitzer, giải thưởng có uy tín nhất trong báo giới Hoa Kỳ, hàng năm được trao cho các tác phẩm điều tra hoặc dịch vụ công có ảnh hưởng lớn. Trong những năm gần đây, cộng đồng doanh nghiệp đã trở thành đối tượng bị báo giới giám sát (bên cạnh đối tượng truyền thống là chính phủ) mặc dù việc tiếp cận thông tin của doanh nghiệp thường là khó hơn rất nhiều. 

Không mang tính ý thức hệ: Trong thế kỷ này, các phương tiện truyền thông chủ đạo của Hoa Kỳ phần lớn vẫn không mang tính ý thức hệ. Rất ít các tờ báo, tạp chí được phát hành rộng rãi trong công chúng hay các hãng phát sóng có sự liên kết với các tổ chức chính trị, các đảng phái hay phong trào nào đó. Dù không phải lúc nào cũng là như vậy, song sự không liên kết đó đã trở thành một đặc điểm nổi bật của nền báo chí Hoa Kỳ hơn một thế kỷ qua. Chính đặc điểm này - vừa là niềm tự hào nghề nghiệp, vừa là kết quả của sự đầy đủ về kinh tế - là một trong những đặc trưng chính phân biệt nền báo chí Hoa Kỳ với rất nhiều nền báo chí khác trên thế giới. 

Mặc dù hầu hết các tờ báo và một số đài phát sóng có bày tỏ một xu hướng nào đó mang tính chính trị trong các bài xã luận của mình, song việc đưa tin nhìn chung là không mang tính đảng phái. Ý kiến bình luận thường căn cứ vào nội dung của một vấn đề và cũng không có gì bất thường khi những ý kiến này vượt ra khỏi một khuôn khổ ý thức hệ nào đó. 

Không phải tất cả mọi người đều tin rằng báo chí Hoa Kỳ không mang tính ý thức hệ. Các nhà phê bình bảo thủ nói rằng các hãng thông tấn - đặc biệt là những hãng có trụ sở tại New York hay Washington - thường phản ánh quan điểm “tự do”. Điều đó có nghĩa là báo chí thường quá nhanh chóng trong việc chỉ trích chính quyền và không ủng hộ những lợi ích của Hoa Kỳ. 

Mặt khác, những nhà phê bình cánh tả lại cáo buộc báo chí thiên vị chính phủ và đưa tin tức không mang tính phê bình về các chính sách và việc làm của chính phủ. Các nhà báo Hoa Kỳ lại có vẻ cảm thấy thoải mái nhất khi bị tấn công từ cả hai phía về vấn đề ý thức hệ. Họ tin rằng điều đó chỉ khẳng định sự vô tư của họ mà thôi. 

Trên thực tế, vẫn có một kiểu ưa thích chính trị trong nội bộ ngành truyền thông. Các nghiên cứu cho thấy: các nhà báo Hoa Kỳ có xu hướng tự do hơn các nhà biên tập và các nhà đạo diễn chương trình, những người có xu hướng tự do hơn các chủ tòa báo hay đài phát sóng. Công chúng dường như không nhận ra điều này, song đây là một phần sự căng thẳng đang xảy ra trong các phòng tin tại Hoa Kỳ. 

Theo truyền thống, Chính phủ Hoa Kỳ đứng ngoài ngành kinh doanh tin tức. Chính phủ chỉ sở hữu hoặc kiểm soát những hãng phát sóng ra nước ngoài như Đài tiếng nói Hoa Kỳ (Voice of America). Theo luật định, đài này không được phép phát sóng bên trong lãnh thổ Hoa Kỳ, vì thế hầu hết người dân Mỹ nằm ngoài vùng phát sóng của các chương trình này. 

Các đài phát thanh và truyền hình tại Hoa Kỳ cũng nhận được một phần trợ cấp, song người ta cũng có những sự bảo vệ nhằm chống lại sự can thiệp tính chính trị. Trên thực tế, các chương trình tin tức và phát sóng công cộng thường có xu hướng chống đối thiết chế hơn các chương trình phát sóng thương mại và do đó được coi là mang tính phê phán chính phủ nhiều hơn. 

Dựa vào cộng đồng: Báo chí Hoa Kỳ luôn mang tính chất địa phương hơn là khu vực hay quốc gia. Mặc dù công nghệ mới đã mở rộng giới hạn này một cách đáng kể, song các phương tiện truyền thông Hoa Kỳ vẫn tập trung với một mức độ lớn vào nhu cầu và sự quan tâm của người xem, người nghe và người đọc ở ngay tại địa phương mình. Có những lý do kinh tế quan trọng giải thích điều này song nó cũng phản ánh chủ nghĩa địa phương ở Hoa Kỳ. 

Lịch sử của Hoa Kỳ được đặc trưng bằng chủ nghĩa biệt lập và báo chí cũng thường phản ánh sự hướng nội này. Thực tế, các nghiên cứu cũng cho thấy hầu hết các hệ thống báo chí của thế giới cũng có xu hướng mang tính địa phương hơn là quốc tế. 

Một trong những phàn nàn thường thấy của du khách khi đến thăm nước Mỹ là có quá ít tin tức quốc tế liên quan đến sự hiện diện của Hoa Kỳ ở khắp nơi trên thế giới. Trên thực tế, có rất nhiều tin tức quốc tế đến với Hoa Kỳ song chỉ một phần nhỏ trong số chúng được đăng tải bởi các phương tiện thông tin đại chúng lấy cộng đồng làm trung tâm. hơn nữa một phần nhỏ tin tức đó được đăng tải ở một cộng đồng có thể không thấy xuất hiện ở một cộng đồng khác vì những lợi ích khác nhau của người dân sống trong cộng đồng. 

Chẳng hạn như tại Chicago, nơi có đông người Mỹ gốc Ba Lan thì báo chí ở đó dành ưu tiên cho việc đưa tin về Đông Âu. Hay ở New York nơi có đông người Do Thái nên tin tức ở đây chủ yếu là về Trung Đông. Tương tự như vậy, các tin tức quốc tế đến Mỹ bằng những cách khác nhau được đưa vào các ấn phẩm chuyên môn với số lượng phát hành hạn chế. 

Đúng là các phóng viên thường trú của Hoa Kỳ có mặt ở gần một nửa số quốc gia trên thế giới. Hầu hết trong số khoảng 700 phóng viên thường trú tại nước ngoài đều tập trung tại những nơi được coi là những thủ đô lớn. Do đó, hầu hết tin tức về nước ngoài thường là về những nơi này và vào thời gian ở những địa điểm đó y. 

Các phóng viên Hoa Kỳ cũng thường là những mục tiêu của sự phê phán rằng họ không có sự chuẩn bị đầy đủ về ngôn ngữ và những hiểu biết cơ bản để đưa tin có chiều sâu ở a nước ngoài. Song những ngày đó đã qua lâu khi có một phóng viên phải trốn khỏi sự giám sát của cảnh sát để đưa tin về một sự kiện ở một khu vực xa xôi. 

So với 10 năm trước, các phóng viên Hoa Kỳ giờ đây có được sự chuẩn bị tốt hơn để thực hiện nhiệm vụ của mình mặc dù những người thuê họ làm việc vẫn có xu hướng vẫn muốn họ có năng lực nghề nghiệp tổng hợp hơn là chuyên sâu vào một khu vực địa lý nào đó. Một trong những lý do cho việc này là yêu cầu di chuyển của công việc. Một phóng viên ở Cairo chẳng hạn, cần phải luôn sẵn sàng để đưa tin về một sự kiện lớn nào đó ở bất cứ đâu thuộc khu vực Bắc Phi hoặc Trung Đông bởi vì đội ngũ phóng viên thường trú Hoa Kỳ bị dàn quá mỏng trên toàn cầu. 

Số lượng và quy mô của đội ngũ báo chí ở nước ngoài phụ thuộc chủ yếu vào vấn đề kinh tế. Chi phí để có một phóng viên thường trú ở nước ngoài phải tốn khoảng 250.000 đô-la một năm. 

Theo lệ thường, báo chí Hoa Kỳ thường làm một công việc khá chu đáo là đưa tin về “những câu chuyện lớn” ở nước ngoài và điều chỉnh cho phù hợp với độc giả Hoa Kỳ. Song báo chí ít chú ý đến những tin tức hàng ngày ở nước ngoài và vì thế không thoả mãn được các khán giả ngoại quốc. 

Hơn 90% các tờ nhật báo của Hoa Kỳ phụ thuộc vào các hãng thông tấn thuộc Hiệp hội Báo chí (Associated Press) để có được tin tức về thế giới bên ngoài khu vực của họ. Đó là bởi vì chỉ có một ít các tờ báo lớn có được cả đội ngũ phóng viên trong nước và nước ngoài. Trong số những tờ báo lớn đó có: New York Times, Wall Street Journal, Washington Post, Chicago Tribune, Los Angeles Times, Baltimo Sun, Boston Globe và Christian Science Monitor. Hầu hết trong số này đều cung cấp các dịch vụ tin tức, do đó mang đến cho các tờ báo khác nhiều lựa chọn hơn so với trước đây. Chính vì sự dồi dào trong lựa chọn nguồn tin này mà United Press International đã mất đi nhiều khách hàng trong những năm gần đây. 

Một số nhà phê bình về việc đưa tin nước ngoài ở Hoa Kỳ đã phát hiện thấy việc ưu tiên đưa tin quá mức về những quốc gia đang nằm trong chương trình nghị sự chính thức của Washington. Nhưng những nhà phê bình này đã trở nên yếu thế khi lập luận rằng những tin tức và bình luận này chủ yếu là để phù hợp với những mục tiêu chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Trên thực tế, có quá nhiều những ví dụ ngược lại với những phê bình của họ từ Trung Phi hay quay trở lại vấn đề Việt Nam. 

Dù sao đi nữa, các phương tiện truyền thông Hoa Kỳ vẫn sẽ là một lực lượng mạnh trong đời sống xã hội. Xã hội hiện đại đã trở nên quá phụ thuộc vào thông tin nhanh và đáng tin cậy mà không thể khác được. Song người ta cũng chưa biết được chắc chắn tương lai của ngành truyền thông. 

Chỉ trong vòng một vài năm, ngành công nghiệp tin tức Hoa Kỳ đã trải qua những thay đổi lớn do những biến đổi trong công nghệ, các lực lượng thị trường và thị hiếu của công chúng. Có quá nhiều chủ thể mới tham gia vào lĩnh vực thông tin của báo chí như trước đây. Nhưng dẫu sao thì nghề làm báo cũng không bao giờ ở trạng thái tĩnh trong một thời gian dài. 

Các tờ nhật báo, trong khi cố gắng bắt kịp các phương tiện điện tử và các phương tiện mới khác, có vẻ như phải chịu đựng nhiều nhất do sự biến đổi gần đây. Song chừng nào mà báo chí Hoa Kỳ về cơ bản vẫn không chịu sự can thiệp của chính phủ thì vẫn luôn luôn có những cơ hội mới cho các hãng này cũng như những lựa chọn mới cho công chúng. 

Cho dù có điều gì xảy ra thì người quyết định tương lai của ngành công nghiệp tin tức Hoa Kỳ vẫn sẽ là công chúng. Điều đó, theo những người chủ trương báo chí tự do, là vẻ đẹp của hệ thống này. 

Bản quyền năm 1992 của Trung tâm báo chí nước ngoài. Để có thêm thông tin, xin liên hệ Trung tâm báo chí nước ngoài, 11690-A Sunrise Valley Drive, Reston, Virginia 2209 USA.

lên đầu trang ^

Công cụ:

Printer_icon.gif In trang này



 

    Trang Web này được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ quản lý.
    Chúng tôi không chịu trách nhiệm về nội dung và tính bảo mật thông tin của các trang Web khác được liên kết đến.


Đại sứ quán Hoa Kỳ