jump over navigation bar
Embassy SealBộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Đại sứ quán Hoa Kỳ - Hanoi, Vietnam flag graphic
 
Thông tin cập nhật
 
  Các dịch vụ của IRC Dịch vụ Reference Update Tư liệu dịch Kinh tế & Thương mại An ninh khu vực Các vấn đề toàn cầu Báo chí, truyền thông và công nghệ thông tin Bài 10 Bài 15 Chính trị, xã hội và văn hóa Mỹ

Tư liệu dịch: Báo chí, truyền thông và công nghệ thông tin

NỀN BÁO CHÍ HOA KỲ
Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, năm 1994

SỰ BẢO VỆ CỦA HIẾN PHÁP
Robert S. Peck

Những năm tháng của tuổi thiếu niên thường là thời kỳ khó khăn đối với nhiều thanh niên Hoa Kỳ. Họ có những ý kiến đầy nhiệt huyết về cả những vấn đề lớn và nhỏ song lại vẫn bị coi là quá trẻ để các ý kiến của mình có thể được xem xét một cách nghiêm túc.

Năm 1965, Mary Beth Tinker là một học sinh 13 tuổi tại Des Moines, bang Iowa. Cô được nghe Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy gợi ý rằng người Mỹ nên đeo băng tay đen để phản đối cuộc chiến tranh Việt Nam và để ủng hộ một đề nghị ngừng bắn vào lễ Nô-en. Mary Beth và một nhóm bạn thuộc các trường khác nhau trong thành phố đã quyết định đeo băng tay tới trường trong tuần lễ sau đó.

Mary Beth biết rằng mình có thể bị đình chỉ học tập một thời gian. Hai ngày trước đó, ban giám hiệu của trường đã quyết định sẽ đình chỉ học tập đối với những em đeo băng tay tới trường nhằm hạn chế “những ảnh hưởng tiêu cực”. Giáo viên môn đại số của Mary Beth cũng đã khuyến cáo các học sinh của mình là ông sẽ đuổi bất kỳ học sinh nào đến lớp mà đeo băng tay.

Ngày 16/12/1965, Mary Beth và một nhóm bạn thuộc các trường khác đã đeo băng tay đến lớp. Khi em vào học giờ đại số buổi chiều, em đã bị đưa lên văn phòng hiệu trưởng và ngay lập tức bị đình chỉ học.

Để chống lại chính sách này, Mary Beth và một số học sinh khác đã tiến hành một vụ kiện cho rằng việc đình chỉ học tập là vi phạm Điều bổ sung sửa đổi thứ nhất của Hiến pháp Hoa Kỳ - điều luật bảo đảm “quyền tự do ngôn luận”. Các em đã thua kiện ở cấp xét xử sơ thẩm. Thẩm phán của tòa đã phán rằng chính sách về vấn đề đeo băng tay của trường là hợp lý nhằm tránh tình trạng chia rẽ trong lớp học giữa Mary Beth và bạn bè của mình với những học sinh không đồng ý với quan điểm của các em.

Ba năm sau thời điểm những học sinh này bị đình chỉ học tập, vấn đề này được đưa lên Tòa án Tối cao Hoa Kỳ. Ở cấp xét xử này, các em học sinh đã thắng kiện.

Trong phán quyết vụ Tinker kiện Trường học quận Des Moines, Tòa án Tối cao đã ghi nhận rằng: “không có học sinh hay giáo viên nào được vi phạm những quyền hiến định tại trường học”. Đồng thời, Tòa cũng tuyên bố rằng, những quyền này phải được áp dụng một cách thận trọng, “có tính đến những yếu tố đặc biệt của môi trường trường học”.

Nhằm nêu cao những quyền của các em học sinh như được quy định trong Điều bổ sung sửa đổi thứ nhất, Tòa cho rằng, các giáo viên của trường đã “tìm cách trừng phạt (các em học sinh) để bày tỏ ý kiến dưới hình thức yên lặng và thụ động, không gây ra bất kỳ một sự mất trật tự hay sự náo động nào. Bất cứ một sự rời xa trật tự nào cũng có thể gây nên rắc rối. Bất cứ một sự xa khác nào so với ý kiến của số đông có thể gây nên sự sợ hãi. Bất cứ một từ nào của một ai đó nói ra trong lớp học, trong phòng ăn trưa hoặc trong khuôn viên trường học, đi trệch với quan điểm chính thống có thể gây ra tranh luận hoặc gây nên sự xáo trộn. Nhưng Hiến pháp của chúng ta nói rằng, chúng ta phải chấp nhận những rủi ro này, và lịch sử của chúng ta cũng cho thấy rằng, hình thức tự do mang tính rủi ro này – hay sự cởi mở này – chính là cơ sở của sức mạnh quốc gia, sự độc lập và sự mạnh mẽ của người dân Mỹ, những người sinh ra và lớn lên trong xã hội tương đối cởi mở và ưa tranh luận này”.

Tòa cũng phán rằng: “Trong hệ thống của chúng ta, các em học sinh không thể bị coi như những người tiếp nhận thụ động những gì mà Nhà nước chọn để truyền đạt. Các em không thể bị giới hạn trong việc bày tỏ những tình cảm chính thức được chấp nhận… Các em được quyền tự do bày tỏ ý kiến của mình”.

Thật là khó tin, cuộc luận chiến nhỏ, do năm em học sinh bị đình chỉ học tập vì đã đeo băng tay tới trường này, lại có tầm quan trọng tới mức mà tòa án cấp cao nhất của đất nước đã cho rằng, cần thiết phải xem xét vấn đề và đã giải quyết nó thông qua việc viện dẫn Hiến pháp của Hoa Kỳ, đạo luật cao nhất của quốc gia. Trong vụ kiện các giáo viên của trường, những em học sinh nhỏ tuổi này đã được bảo đảm những quyền tự do bày tỏ tương tự như những quyền mà tờ Thời báo New York và tờ Washington Post - hai tờ báo hàng đầu của Hoa Kỳ có được khi Chính phủ liên bang tìm cách ngăn chặn việc xuất bản một nghiên cứu, mà Chính phủ muốn giữ bí mật, về sự dính líu của Hoa Kỳ vào Việt Nam mà sau này được biết tới dưới cái tên “những tài liệu của Lầu năm góc”.

Vào năm 1971, hai tờ báo này đã nhận được những bản sao của nghiên cứu này từ một người trước đây từng làm việc cho Chính phủ. Ngày 13/6 năm đó, tờ Thời báo New York bắt đầu cho đăng những bài báo dựa trên nghiên cứu này. Khi Chính phủ biết được việc này, Bộ Tư pháp đã yêu cầu tòa án ra lệnh ngừng việc xuất bản này và đã được tòa đồng ý.

Chính phủ đã không cáo buộc các tờ báo này tiết lộ bí mật quân sự. Thay vào đó, họ cho rằng, Chính phủ phải là cơ quan duy nhất phán xét về những yêu cầu an ninh quốc gia và phải được tòa án trao cho những lệnh thích hợp để thực thi quan điểm đó.

Hai tờ báo đã cho rằng, sự tự do báo chí được Hiến pháp bảo vệ có nghĩa là họ sẽ không thể bị kiểm duyệt. Họ cũng lập luận rằng, Chính phủ chỉ muốn tìm cách ngăn chặn những nhà hoạt động chống chiến tranh không được thu lợi từ những thông tin có trong các tài liệu vốn gây rắc rối cho Chính phủ nhiều hơn là mang tính nhậy cảm về mặt quân sự này.

Ngày 30/6, Tòa án Tối cao đã xử hai tờ báo thắng kiện trong vụ Thời báo New York kiện Chính phủ Hoa Kỳ, và những tài liệu này sau đó được xuất bản. Tòa phán rằng, không có đủ cơ sở để Tổng thống có thể nói rằng an ninh quốc gia có thể bị ảnh hưởng do việc xuất bản thông tin đó. Tòa cho rằng, Hiến pháp đã có một “sự dự liệu quan trọng” nhằm chống lại sự can thiệp quyền tự do báo chí. Trong khi có thể thuyết phục Tòa rằng việc báo chí xuất bản các tài liệu mật có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng, thì Chính phủ đã thất bại trong việc chứng minh điều đó trong trường hợp cụ thể này.

Sự bảo vệ của Điều bổ sung sửa đổi thứ nhất đối với quyền tự do bày tỏ, khẳng định giá trị trong hai vụ Tinker và Thời báo New York, đã cho phép người dân Mỹ tham gia vào các hình thức thảo luận tự do. Các từ ngữ trong Điều bổ sung sửa đổi thứ nhất rất đơn giản đến mức khó tin: “Quốc hội sẽ không ban hành một đạo luật nào nhằm… ngăn cấm tự do ngôn luận, báo chí hay quyền của dân chúng được hội họp một cách hòa bình và kiến nghị Chính phủ sửa chữa những điều gây bất bình”. Điều bổ sung sửa đổi thứ 14, được đưa vào trong Hiến pháp năm 1868, được hiểu là để áp dụng sự bảo vệ quyền tự do bày tỏ đó cho tất cả các cơ quan nhà nước từ Quốc hội tới các hội đồng chính quyền địa phương.

Quyền được nói ý kiến của mình này có lẽ là quyền được ưu tiên nhất so với tất cả những quyền khác. Người dân Mỹ không ngần ngại phê phán các quan chức nhà nước kể cả nhân vật quan trọng như Tổng thống và những người bình thường như công nhân thu gom rác. Họ xem xét và bình luận về tất cả những vấn đề có thể nhận thức được mà không sợ bị Chính phủ trả đũa.

Cựu Thẩm phán của Tòa án Tối cao William Brennan đã mô tả các quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí như được quy định trong Điều bổ sung sửa đổi thứ nhất là “một sự cam kết sâu sắc của nhà nước đối với nguyên tắc: việc thảo luận về các vấn đề công là không bị hạn chế, thẳng thắn, công khai và có thể bao gồm những cuộc tấn công mạnh mẽ, mang tính sâu cay và đôi khi đặc biệt khó chịu vào Chính phủ và các quan chức chính quyền”. Hiến pháp cho phép việc phê phán các quan chức cao cấp của Chính phủ bởi vì, như lời của cố Thẩm phán Hugo Black, “không có quốc gia nào có thể sống trong tự do khi mà người dân có thể phải chịu đựng về mặt vật chất hoặc tài chính vì phê phán chính phủ, hành động của chính phủ hoặc các quan chức của chính phủ”.

Sự cam kết của Hoa Kỳ đối với quyền tự do bày tỏ quan điểm xuất phát từ thời kỳ thuộc địa, trước khi Hoa Kỳ giành được độc lập và có Hiến pháp. Vào năm 1735, một nhà xuất bản ở New York là John Peter Zenger đã bị đưa ra tòa vì đã “xuất bản những lời phỉ báng sai trái, gây tai tiếng và náo loạn, trong đó… đại diện của nhà Vua tại đây đã phải chịu nhiều tai tiếng một cách bất công”. Những gì mà Zenger đã làm là xuất bản những tài liệu công kích viên Thống đốc của Hoàng gia (tại thuộc địa), cáo buộc ông này phạm tội hối lộ và bất tài.

Zenger đã bị kết tội theo đạo luật về chống phỉ báng vào thời điểm đó, nhưng luật sư của ông, Andrew Hamilton đã thành công trong việc thuyết phục bồi thẩm đoàn thừa nhận sự thực trong những lời cáo buộc của Zenger và đã giúp những người dám nói hoặc viết lên sự thật giáng một đòn mạnh mẽ. Hamilton nói với bồi thẩm đoàn: “Những người làm tổn thương hoặc đàn áp những người dân sống dưới sự quản lý của chính quyền đã thúc đẩy họ lên tiếng chỉ trích, và sau đó làm cho những chỉ trích đó trở thành cơ sở cho những sự đàn áp và truy tố mới”.

Hamilton đã yêu cầu bồi thẩm đoàn đặt sang một bên những lời buộc tội chống lại Zenger nhằm phán xét một vấn đề lớn hơn: “Thưa quý Tòa và các ngài trong bồi thẩm đoàn, vấn đề đặt ra trước Tòa và các ngài không phải là một sự quan tâm nhỏ nhặt hay mang tính cá nhân, nó không phải là vụ kiện của một nhà in nghèo, không phải vụ kiện của riêng New York, là điều mà các ngài đang phán xét: Không!.. Nó là vụ kiện quan trọng nhất. Vụ kiện của sự tự do”.

Việc Hamilton bào chữa thành công trong vụ Zenger trở thành nền tảng cho sự cống hiến không ngừng của Hoa Kỳ vì một nền báo chí tự do cho đến ngày nay. Như Thẩm phán của Tòa án Tối cao Oliver Wendell Holmes Jr., đã viết năm 1918: “Những điều tốt đẹp cao quý nhất được mong đợi sẽ dễ dàng đạt được hơn nhờ sự tự do trao đổi về tư tưởng - rằng, sự thử thách tốt nhất của sự thật chính là sức mạnh của ý nghĩ để được chấp nhận trong cuộc cạnh tranh của thị trường… Điều đó, dù sao đi nữa, chính là luận thuyết của Hiến pháp chúng ta”.

Thông qua việc bày tỏ ý kiến của mình, các cá nhân được tự do dùng lập luận và logic của mình để tìm kiếm người ủng hộ mình. Đôi khi sự thể hiện là vô lý hoặc phi logic, song theo Hiến pháp, Chính phủ không phải là người có trách nhiệm xác định điều đó. Việc bày tỏ phải được phép và do đó người dân có thể đưa ra phán xét đối với sự thật.

Tất cả những chính khách Hoa Kỳ, trong đó có cả những nhân vật được coi như người sáng lập ra Hoa Kỳ, và các tổng thống sau này của Hoa Kỳ như George Washington và Thomas Jefferson cũng đã từng có lần khó chịu với báo chí. Trong hệ thống được quy định theo Hiến pháp của Hoa Kỳ, báo chí có một vị trí đặc biệt, có quyền kêu gọi các quan chức chính phủ chịu trách nhiệm về những hành động của mình và được xuất bản những sai lầm của những người này để cử tri có thể phán xét họ tốt hơn. Mặc dù nhận được sự đối xử không tốt từ phía báo giới thời gian cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, Jefferson không hề có chút nghi ngờ nào đối với tầm quan trọng của báo chí. Ông viết năm 1802: “Nếu tôi được quyền quyết định là chúng ta sẽ có chính phủ mà không có báo chí hoặc báo chí mà không có chính phủ, tôi sẽ không do dự mà lựa chọn cái thứ hai”.

Một nền báo chí tự do, như được bảo đảm trong Điều bổ sung sửa đổi thứ nhất, có chức năng như người giám sát trong một xã hội dân chủ: mang đến cho người dân những thông tin họ cần để phán xét một cách độc lập nhằm bầu ra những quan chức chính quyền có các chính sách được người dân ủng hộ. James Madison, người được coi là “Người cha của Hiến pháp Hoa Kỳ” và là Tổng thống thứ tư của Hoa Kỳ, đã viết: “Một chính phủ được lòng dân mà không có được thông tin từ phía người dân hoặc không có các phương tiện để có được những thông tin này thì chỉ là phần mở đầu của một vở hài kịch hay bi kịch, hay có thể là cả hai”. Do đó, một nền báo chí tự do là một phần thiết yếu của một xã hội dân chủ; nó cho phép người dân đưa ra những quyết định dựa trên thông tin đầy đủ.

Sự dự liệu quan trọng chống lại kiểm duyệt, mà Tòa án Tối cao đã dựa vào đó trong vụ Tài liệu mật của Lầu năm góc, không chỉ dành sự bảo vệ cho các tờ báo. Khi Tuyên ngôn Nhân quyền (bao gồm 10 Điều bổ sung sửa đổi đầu tiên của Hiến pháp) được phê chuẩn, không ai có thể thấy trước được sự đa dạng của các hình thức truyền thông thế kỷ 20. Phát thanh, truyền hình, và truyền thông nhờ công nghệ máy tính đã nằm ngoài những sự tưởng tượng dù là sinh động nhất vào năm 1791, khi Điều bổ sung sửa đổi thứ nhất được đưa vào Hiến pháp. Quan niệm về một nền báo chí tự do vẫn được áp dụng đối với tất cả những hình thức truyền thông này. Các đài phát sóng vẫn có được những quyền mà Điều bổ sung sửa đổi thứ nhất quy định, song do sự hạn chế về các dải băng tần và vì người dân không có được sự tiếp cận như nhau đối với các phương tiện phát sóng mà quyền tự do bày tỏ của những đài này không tương tự như những hình thức truyền thông bằng ngôn từ hoặc in ấn. Các đài phát sóng được coi là đại diện của công chúng và phải phục vụ công chúng, chẳng hạn việc phát sóng chương trình trong một thời lượng nhất định về các tịn tức và vấn đề công cộng.

Quyền tự do ngôn luận cũng công nhận rằng công dân có thể gây ảnh hưởng tích cực nhất đối với đường lối của chính phủ khi cùng nhau làm việc đó. Hiểu được điều này, các nhà soạn thảo Điều bổ sung sửa đổi thứ nhất đã bảo đảm cho người dân quyền được hội họp một cách hòa bình và được trình những bất bình của mình lên chính phủ để được giải quyết. Quyền được kiến nghị lên chính phủ giải quyết những điều bất bình như quy định trong Điều bổ sung sửa đổi thứ nhất có nguồn gốc từ truyền thống luật pháp nước Anh và từ cuộc đối đầu giữa các nam tước vùng Runnymede (đông nam nước Anh, bên bờ sông Thames, phía tây Luân Đôn – ND), những người đã buộc vua John ký Đại hiến chương các quyền tự do về mặt chính trị và dân sự của nước Anh (Magna Carta) vào năm 1215.

Những quyền hội họp và kiến nghị này đã đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử Hoa Kỳ. Người dân Mỹ đã sử dụng những quyền này nhằm loại bỏ chế độ nô lệ và nhằm mở rộng quyền bầu cử cho cả phụ nữ. Trong một nền dân chủ, công chức chính quyền sẽ tự đặt mình trước nguy cơ nếu như họ làm ngơ trước ý chí của người dân được bày tỏ thông qua hội họp và kiến nghị. Những công chức được bầu không đáp ứng được ý chí của nhân dân sẽ bị thay thế bởi những người khác.

Quyền tự do lập hội cũng có cơ sở Hiến pháp trong phạm vi quyền tự do bày tỏ quan điểm. Mặc dù điều này không được thể hiện một cách rõ ràng, song nó được coi là một phần cần thiết của những mục tiêu được Điều bổ sung sửa đổi thứ nhất bảo vệ. Nếu người dân không thể liên kết với nhau, nếu họ không thể thành lập các liên minh hay tổ chức, họ không thể có được sự đoàn kết để thay đổi những chính sách của chính phủ. Quyền tự do lập hội được tòa án công nhận cho phép người dân được gặp gỡ nhau và ngăn chính phủ không được cấm việc họ tham gia vào một tổ chức cũng như việc can thiệp vào các vấn đề nội bộ của tổ chức đó.

Quyền tự do ngôn luận luôn là một khái niệm dễ chấp nhận về mặt lý thuyết. Hầu như có rất ít người chủ trương có một hệ thống kiểm duyệt thường xuyên. Tuy nhiên, khi các lợi ích xung đột với nhau như điều này vẫn thường xảy ra, khi một thông điệp có tính thù địch, lăng nhục hoặc gây khó chịu, khi sự tự do bày tỏ quan điểm của một người bắt đầu ảnh hưởng đến quyền của những người khác, nó lại trở thành một quyền khó phân xử nhất.

Chính những trường hợp phức tạp này có xu hướng là phải được phân xử tại tòa, nơi mà người ta mong đợi sẽ có những quyết định khôn khéo về phạm vi cho phép đối với những quyền này. Sự bảo vệ của Hiến pháp và truyền thống tự do tại nước Mỹ đã cho phép công chúng bày tỏ quan điểm một cách táo bạo và thách thức. Những quyền này đủ mạnh tới mức có thể bảo vệ cả tờ Thời báo New York hay một em gái 13 tuổi có tên Mary Beth Tinker tại Iowa. 

Robert S. Peck là Giám đốc Nhân sự của Ủy ban phổ biến pháp luật thuộc Hội luật sư Hoa Kỳ và là tác giả, biên tập viên, và giảng viên về Luật Hiến pháp.

lên đầu trang ^

Công cụ:

Printer_icon.gif In trang này



 

    Trang Web này được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ quản lý.
    Chúng tôi không chịu trách nhiệm về nội dung và tính bảo mật thông tin của các trang Web khác được liên kết đến.


Đại sứ quán Hoa Kỳ