Tư liệu dịch: Báo chí, truyền thông và công nghệ thông tin
NỀN BÁO CHÍ HOA KỲ
Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, năm 1994
QUYỀN ĐƯỢC BIẾT
Richard A. Bumstead
Hiến pháp Mỹ bảo vệ quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Như William Brennan, nguyên thẩm phán Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã từng viết, những quyền tự do đó thể hiện “cam kết quốc gia hoàn toàn đối với nguyên tắc rằng mọi cuộc thảo luận về các vấn đề chung phải được tiến hành một cách không hạn chế, ngay thẳng và cởi mở, và trong những cuộc thảo luận đó có thể có cả những lời công kích dữ dội, cay độc và đôi khi gay gắt đến khó chịu đối với Chính phủ và các công chức”.
Tuy nhiên, vẫn còn thiếu điều gì đó. Cuộc thảo luận khí thế và hiểu biết lẫn nhau về các vấn đề chung có thể diễn ra như thế nào, đặc biệt là cuộc thảo luận gây khó chịu cho các quan chức, nếu công chúng không biết những gì đang diễn ra, nếu Chính phủ che đậy những hoạt động của mình trong vòng bí mật và cố tình lảng tránh? Lịch sử đã cho thấy, tại một thời điểm nào đó, Chính phủ ở tất cả các cấp - liên bang, bang và địa phương - đều phạm lỗi này.
Chính vai trò tự phong của báo chí Mỹ trong việc thông tin cho công chúng về các hoạt động của Chính phủ đã làm nảy sinh tranh luận. Các phóng viên liên tục tìm kiếm những tin tức có thể xuất hiện trên trang nhất - những câu chuyện về các quan chức chính phủ tham nhũng, hoặc các cơ quan không thực thi pháp luật, hoặc các chính sách sai lầm của Chính phủ. Báo chí vẫn nói rằng họ nhận được rất ít sự hợp tác từ Chính phủ. Các quan chức chỉ thích tiết lộ thông tin có lợi cho hoạt động của họ và để né tránh những câu hỏi gây phiền toái. Về bản chất, mối quan hệ giữa Chính phủ và báo chí là đối kháng và hầu hết các phóng viên đều thích như vậy.
Nhiều năm qua, các phóng viên đã có nhiều cách để khám phá ra sự thật. Họ rà soát các hồ sơ công khai, chẳng hạn như Hồ sơ của Quốc hội hoặc biên bản những cuộc họp do các ủy ban công quyền tổ chức. Các phóng viên khai thác nguồn tư liệu của Chính phủ từ các quan chức mà họ tin tưởng và tin tưởng họ cũng như từ những người sẽ nói thật về những gì thực sự đang diễn ra bên ngoài hồ sơ. Họ khai thác “sự rò rỉ”, những thông tin đôi khi được cung cấp bí mật bởi các nhân viên bất mãn với Chính phủ muốn lôi kéo sự chú ý tới những hoạt động bất hợp pháp. Họ xây dựng các câu chuyện bằng cách phỏng vấn một số nhóm mà không một ai trong số những người này biết mục đích thực sự của các câu hỏi.
Năm 1966, Quốc hội Mỹ đã thông qua Đạo luật Tự do Thông tin (FOIA), trao cho các phóng viên một cách thức mới để lấy thông tin về các hoạt động của Chính phủ. Theo luật, họ có thể yêu cầu xem các hồ sơ của Chính phủ- không chỉ những hồ sơ vẫn được công khai, mà trong một số trường hợp ngoại lệ, cả những hồ sơ phát sinh từ hoạt động của Chính phủ.
Những loại hồ sơ nào có thể tiếp cận được? Ở cấp liên bang, đó là các hồ sơ như bản nghiên cứu về tỷ lệ mắc bệnh ung thư trong số 30.000 nhân viên làm việc tại cơ sở sản xuất vũ khí nguyên tử cho Ủy ban Năng lượng Nguyên tử, bản giám định liên bang cho thấy việc kiểm tra thiết bị không chính xác tại Trung tâm Bay Vũ trụ Marshall được đưa ra hai tuần trước khi xảy ra thảm họa tàu Challenge năm 1986 của Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Quốc gia và biên bản kiểm toán của các nhà thầu quốc phòng cho thấy những đồng đô-la tiền thuế của liên bang đang được sử dụng vào việc du lịch và giải trí.
Trước khi Đạo luật Tự do Thông được ban hành, những hồ sơ này không bao giờ được công bố. Luật pháp bảo vệ quyền của Chính phủ cho phép hoặc không cho người nào được kiểm tra hoặc sao chép các hồ sơ Chính phủ. Năm 1789, khi Chính phủ liên bang vừa được thành lập, các bộ trưởng được giao trách nhiệm giữ gìn và bảo vệ hồ sơ, rồi thêm cả trách nhiệm quy định việc sử dụng những hồ sơ này. Ngay từ đầu, các quan chức đã căn cứ vào thực tiễn thông luật là chỉ công khai hồ sơ cho những người liên quan, thường được gọi là học thuyết cần-được-biết. Chính quyền bang và địa phương cũng tuân thủ thông luật này.
Qua nhiều năm, quyền từ chối không cho tiếp cận hồ sơ của các quan chức chính quyền bang và địa phương đã bị luật pháp và các quyết định của tòa án thu hẹp, tạo ra những quy định pháp luật chắp vá mà chỉ một vài phóng viên mới hiểu rõ. Phóng viên luôn nhận thấy họ không có quyền rõ ràng trong việc tiếp cận những thông tin nhất định. Ở cấp liên bang, năm 1946, Quốc hội đã cố gắng nới lỏng các quy định về việc tiếp cận hồ sơ liên bang. Đạo luật Thủ tục Hành chính ra đời năm đó quy định phải công khai hồ sơ chính thức. Tuy nhiên, đạo luật cũng quy định thêm rằng một cơ quan có thể hạn chế việc tiếp cận đối với các tài liệu của họ “nếu có lý do chính đáng’ hoặc “vì lợi ích chung”. Học thuyết cần- được- biết vẫn tồn tại.
Nguyên tắc cần-được-biết được thực hiện như thế nào trên thực tế? Trong trường hợp một người nào đó, vì lý do vị trí, công việc hay mục đích sử dụng thông tin, yêu cầu được biết nội dung của một tài liệu hoặc báo cáo cụ thể, lúc đó quan chức Chính phủ sẽ quyết định có cho phép họ tiếp cận hay không. Và không có chuyện xem xét lại quyết định từ chối cho tiếp cận hồ sơ của các quan chức.
Thực tiễn này đặt một phóng viên - hoặc một công dân - vào sự định đoạt của một vài nhân viên quan liêu. Kinh nghiệm của tôi là một ví dụ. Vào đầu những năm 1970, khi đó tôi là một nhà báo tự do ở bang Massachusetts, Đông Bắc nước Mỹ. Lúc đó, tôi định viết bài về chi phí hoạt động của các trường đại học công có cơ sở trên khắp bang. Tôi linh cảm rằng một số trường đã nhận được phần phân bổ ngân sách nhiều hơn các trường khác. Nếu đó là sự thật thì câu chuyện sẽ rất thú vị. Tôi muốn so sánh chi phí của từng trường để xác định xem trường nào được ưu đãi.
Tôi đã đến nơi lưu giữ tập trung các số liệu này, đó là Bộ Giáo dục của bang ở Boston. Tôi lịch sự nói với từng người mà tôi được giới thiệu đến: “Tôi muốn xem ngân quỹ năm ngoái của trường”. Lúc nào người ta cũng hỏi tôi hai câu: “Ông đại diện cho ai?” và “Tại sao ông cần những thông tin này?”.
Tôi thành thật trả lời rằng tôi đại diện cho chính tôi và rằng việc tôi cần những thông tin này để làm gì tuỳ thuộc vào điều tôi sẽ khám phá ra. Chẳng ai hài lòng với câu trả lời của tôi. Cuối cùng, trợ lý thứ trưởng bộ giáo dục bang gợi ý tôi viết đơn yêu cầu gửi lên ngài bộ trưởng và ông ta sẽ xem xét vào lúc thích hợp. Rõ ràng là một kiểu từ chối cũ rích.
Tôi đã biết trước kiểu từ chối này và học cách giữ bình tĩnh. Việc tôi đại diện cho ai và tôi sẽ làm gì với những thông tin đó chẳng liên quan gì đến yêu cầu của tôi. Luật mới của Massachusetts đã trao cho tôi - trên thực tế là cho tất cả mọi người - quyền được xem xét và sao chép bất kỳ tài liệu nào của chính quyền bang khi tác nghiệp (trừ một số ngoại lệ có thể hiểu được, chẳng hạn như hồ sơ thi hành luật).
Tôi đã viết thư cho ngài bộ trưởng, trích dẫn luật và yêu cầu được xem những tài liệu đó trong vòng 2 tuần. Đến ngày hẹn, một nhân viên dẫn tôi vào phòng họp của bộ và đưa cho tôi những tài liệu tôi cần mà không hỏi câu nào. Tôi cho rằng đó là cuộc chạm trán đầu tiên giữa một cơ quan cấp bang luôn che đậy với luật công khai hồ sơ của Massachusetts. Ở Massachusetts giờ đây không còn ai bị yêu cầu phải chứng minh tại sao muốn biết nội dung của các hồ sơ. Họ có quyền được biết.
Ngày nay, tất cả các bang đều có đạo luật về quyền-được-biết. Những luật này bao gồm 3 yếu tố chính: thừa nhận quyền của dân chúng được tiếp cận hồ sơ của Chính phủ, buộc những quan chức Chính phủ nào muốn giấu thông tin phải có trách nhiệm giải thích.; thực thi quyền này ở tòa; và miễn công khai một số thông tin nhất định, chẳng hạn như bản thống kê thuế.
Lời nói đầu của luật về quyền-được-biết ở bang California đã thể hiện được tinh thần dân chủ làm nền tảng cho luật này: “Khi ban hành chương này, Cơ quan lập pháp nhận thấy và tuyên bố rằng các ủy ban, ban, hội đồng và các cơ quan công quyền khác của bang tồn tại là để hỗ trợ công việc của dân chúng. Luật nhằm bảo đảm mọi hoạt động cũng như các cuộc thảo luận của những cơ quan này phải được tiến hành công khai.
“Người dân của bang không giao chủ quyền của họ cho các cơ quan phục vụ họ. ủy quyền không có nghĩa là người dân trao cho các công chức quyền quyết định điều gì người dân nên biết và điều gì không nên biết. Người dân yêu cầu được thông tin để họ có thể tiếp tục duy trì quyền kiểm soát đối với những công cụ mà họ đã tạo ra”.
Luật về quyền-được-biết do các cơ quan lập pháp bang ban hành luôn đi kèm với một luật khác nhằm tạo điều kiện cho việc giám sát các hoạt động của Chính phủ dễ dàng hơn, đó là luật hội họp công khai. Theo luật này bất kỳ cơ quan Chính phủ nào có ban điều hành đều phải thông báo công khai thời gian và địa điểm họp,, phiên họp phải được tiến hành công khai, cho người dân tham gia và không được giải quyết công việc chung (với một số ngoại lệ) bên ngoài phiên họp này. Ví dụ: Bộ đại học bang Massachusetts là một nhóm do thống đốc bổ nhiệm để điều hành công tác giáo dục đại học của bang, bị buộc phải công khai mọi hoạt động theo luật hội họp công khai của Massachusetts.
Luật hồ sơ công khai và hội họp công khai đã tạo ra sự khác biệt đáng kinh ngạc trong cách làm việc của các phóng viên và quan chức Chính phủ. Như một biên tập viên của tờ Arkansas Gazette nói: “Thái độ của các phóng viên và các quan chức Chính phủ đã thay đổi. Ban giám hiệu các trường học vốn chưa bao giờ công khai hoạt động của họ thì giờ đây không chỉ thông báo về lịch họp của mình mà còn chuẩn bị cả bàn,ghế cho giới báo chí. Các thành phố nhỏ cũng như thành phố lớn, có khi chưa được yêu cầu đã công khai các cuộc họp cho giới báo chí tham gia. Nhiều phóng viên đã sao chép các văn bản luật và mang theo người. Tính chiến đấu của họ mạnh hơn trước đây nhiều. Khi Cục kiểm soát Đồ uống Có cồn rời trụ sở chính và trốn trong văn phòng riêng của một thành viên để tiến hành công việc, báo chí đã tiến đến văn phòng này và yêu cầu họ phải được tham gia. Chỉ vừa mới tuần trước, ủy ban bất động sản bang và ban bất động sản tư nhân đã tìm cách tổ chức họp kín dưới vỏ bọc ủy ban bất động sản bang đến làm khách của ban bất động sản tư nhân, tuy nhiên các phóng viên đã gây áp lực và họ phải tiếp nhận cho các phóng viên tham dự”.
Chính phủ liên bang không thể tách rời trào lưu công khai hồ sơ và các cuộc hội họp của chính quyền trên toàn quốc. Bị báo chí và các nhóm như Liên đoàn các quyền Tự do Dân sự Mỹ thúc ép, Quốc hội đã tiến hành một số phiên điều trần về vấn đề này trong hơn 11 năm. Không một quan chức hành chính nào ủng hộ đề xuất về luật quyền-được-biết, vì cho đó là mối đe doạ đối với đặc quyền hành pháp.
Tuy nhiên, tháng 7/1966, Quốc hội đã thông qua Đạo luật Tự do Thông tin. Luật này đã áp dụng nguyên tắc quyền-được-biết đối với các hồ sơ liên bang. Người ta nói Tổng thống Lyndon Johnson đã miễn cưỡng ký luật này. Tám năm sau, đạo luật này được sửa đổi cho hiệu quả hơn. Cùng năm đó, một luật khác, Luật về Quyền riêng tư đã được ban hành năm 1974. Luật này trao cho các cá nhân quyền tiếp cập các thông tin lưu giữ trong hồ sơ liên bang. Năm 1976, Quốc hội đã thông qua Đạo luật Sunshine và Tổng thống Gerald Ford đã ký ban hành Đạo luật này, tương đương với luật hội họp công khai của các bang.
FOIA quy định rằng “bất kỳ ai” cũng có quyền tiếp cận hồ sơ của các cơ quan thuộc nhánh hành pháp của Chính phủ liên bang, và quyền này có thể được thi hành tại tòa án. Đạo luật này không áp dụng đối với những hồ sơ được Quốc hội Hoa Kỳ, các tòa án liên bang, nhân viên hành chính của tổng thống tại Nhà trắng lưu giữ. Có một đạo luật khác với những quy định nghiêm ngặt hơn, điều chỉnh việc tiếp cận loại hồ sơ này.
Theo FOIA, để có được thông tin từ Chính phủ liên bang, bất kỳ người nào - phóng viên, công dân, hay người nước ngoài đều phải nộp đơn yêu cầu, nêu thông tin cần biết và gửi đơn đó cho nhân viên FOIA của cơ quan lưu giữ hồ sơ đó. Người ta có thể yêu cầu xem xét hoặc nhận bản sao hồ sơ. Cơ quan lưu giữ hồ sơ có thể thu một khoản phí hợp lý cho việc sao chép và tìm kiếm. Cơ quan này có 10 ngày để cung cấp hồ sơ được yêu cầu hoặc để tuyên bố từ chối cung cấp hồ sơ theo các trường hợp miễn trừ quy định trong FOIA.
Một số loại thông tin nhất định được giữ kín; Những loại thông tin này là an ninh quốc gia, bí quyết kinh doanh và những thông tin thương mại bí mật, bản ghi nhớ của cơ quan nội vụ, các hồ sơ xâm phạm quyền riêng tư của mội người, kết quả điều tra thi hành luật và những thông tin được miễn trừ trong các luật trước (ví dụ: thông tin trong các bản thống kê thuế). Nếu yêu cầu thông tin bị từ chối, trước hết người ta có thể khiếu nại lên cơ quan lưu giữ thông tin để xem xét lại và cuối cùng là đưa ra tòa án liên bang. Chính phủ chịu trách nhiệm chứng minh rằng thông tin được yêu cầu thực sự là loại thông tin được miễn trừ.
Tuy nhiên, trong lịch sử của FOIA, nhiều quan chức Chính phủ đã giải thích đạo luật hết sức hạn hẹp khiến những người yêu cầu thông tin phải tìm đến tòa án để làm sáng tỏ.Tại tòa đã diễn ra nhiều vụ kiện xung quanh lý do dẫn đến khoản phí hợp lý để trảcho việc tìm kiếm và sao chép hồ sơ. Năm 1990, một phóng viên của tờ Rocky Mountain News ở Denver, Colorado đã bị Bộ Năng lượng Hoa Kỳ nói rằng tờ báo của bà ta phải trả 1 triệu đô-la chi phí tìm kiếm và sao chép hồ sơ về việc đi lại của ngài cựu Bộ trưởng Năng lượng. Các cơ quan thường lấy lý do là khối lượng các yêu cầu của FOIA quá nhiều nên không thể đáp ứng trong thời hạn 10 ngày và tòa án rất miễn cưỡng khi yêu cầu các cơ quan này phải tuân thủ luật.
Ngoài những vấn đề thủ tục, rất nhiều vụ kiện liên quan đến nội dung thực chất các vấn đề. Trên thực tế, điều gì cấu thành một hồ sơ công khai? Đạo luật về Quyền riêng tư 1974 ảnh hưởng đến Đạo luật Tự do Thông tin như thế nào? Điều gì chiếm ưu thế hơn - hệ thống phân loại an ninh của tổng thống theo đó các văn bản nhất định được đánh dấu “mật” hoặc “tuyệt mật”, hay là FOIA? Những câu hỏi này đã dẫn đến việc tập hợp luật án lệ về FOIA. Hàng năm, Bộ Tư pháp Hoa Kỳ xuất bản một danh mục các vụ kiện phục vụ cho đội ngũ các luật sư FOIA. Danh mục gần đây nhất gồm 371 trang trích dẫn, cộng thêm 260 trang hướng dẫn chú giải về lịch sử pháp lý của FOIA.
Kết quả cuối cùng là nhiều nhà báo đã tránh vận dụng các thủ tục FOIA. Một phóng viên điều tra tại Fresno (California) Bee nói rằng: “Nhìn chung, tôi tránh vận dụng FOIA bằng mọi giá. Tôi không thể mất cả đời chờ đợi thông tin đến qua FOIA”.
Bất kỳ phóng viên nào cho rằng yêu cầu FOIA của họ không được giải quyết thích đáng đều có thể tìm kiếm sự trợ giúp từ Trung tâm Dịch vụ Tự do thông tin ở Washington. Đây là một dự án của Ủy ban vì Tự do Báo chí của các Phóng viên nhằm giám sát việc Chính phủ thuân thủ FOIA và hướng dẫn các phóng viên những thủ tục FOIA. Các hiệp hội báo chí ở mỗi bang cũng giám sát việc tuân thủ luật hồ sơ công khai và hội họp công khai của chính quyền bang và địa phương.
“Nhiều người không sử sụng FOIA thường xuyên như họ đáng lẽ nên làm vì cho rằng đạo luật này quá phức tạp và tốn thời gian”, Giám đốc trung tâm Rebecca Daugherty nói. “Và đó là điều xấu hổ. Có nhiều chuyện kinh khủng xảy ra từ việc sử dụng FOIA và chúng tôi biết còn nhiều chuyện khác cũng đang chờ để được viết ra”.
Một chuyện như vậy đã được đăng trên tờ Hiến pháp, một tờ báo hàng đầu ở Atlanta, Georgia năm 1989. Người ta cho rằng ngân hàng địa phương đã không cho những người da đen vay tiền để mua nhà trong khu da đen- một hình thức phân biệt chủng tộc bị luật liên bang cấm. Nhưng làm thế nào để chứng minh điều đó? Hỏi các nhân viên ngân hàng sẽ chỉ thu được một câu trả lời lịch sự nhưng vô thưởng vô phạt, đại loại như “Tôi đảm bảo chính sách cho vay của ngân hàng chúng tôi phù hợp với luật”. Thực vậy, hồ sơ của họ không mang đến cho chúng ta câu trả lời ngay cả khi các nhân viên ngân hàng tình nguyện tìm hiểu vấn đề.
Tuy nhiên vẫn còn một nguồn thông tin chưa được khai thác. Theo luật liên bang, các ngân hàng phải báo cáo về những khoản vay mua nhà với Hội đồng Kiểm tra Các cơ quan Tài chính Liên bang. Đến đây, chúng ta có thể tiếp cận được hồ sơ liên bang về các khoản vay ngân hàng để mua nhà ở Atlanta theo các quy định FOIA.
Tờ Hiến pháp đã gửi đơn yêu cầu FOIA để có các số liệu và đã nhận được bảy bản sao lưu máy tính, liệt kê 109.000 khoản vay mua bất động sản ở Atlanta trong 6 năm trước đó. Tờ báo sau đó đã sử dụng máy tính ghép các số liệu này với thống kê điều tra dân số vùng có ghi thành phần chủng tộc của dân cư. Kết quả khiến Atlanta, một bang vốn tự hào về các mối quan hệ chủng tộc, phải giật mình: Người da trắng được nhận khoản vay mua nhà từ các ngân hàng Atlanta nhiều gấp năm lần những người da đen có cùng thu nhập.
“Những con số mà các bạn có là vớ vẩn”, Giám đốc một ngân hàng đứng đầu Atlanta nói. “Những con số đó là không thể tin được. Các Giám đốc ngân hàng Atlanta phân biệt đối xử với thành phố trung tâm nhưng không phải là cố ý”.
Sau nhiều tháng thảo luận công khai về “tự do, thẳng thắn và cởi mở”, các ngân hàng Atlanta đã xem lại tình hình cho vay và cam kết cho vay hàng triệu đô-la thế chấp mua nhà trong khu người da đen. Và Tờ Hiến Pháp đã giành được Giải thưởng Pulitzer, một trong những giải thưởng báo chí cao nhất của Mỹ vì đã vận dụng một cách sáng tạo luật quyền-được-biết.
Richard A. Bumstead là nhà báo thường trú tại Washington của Chương trình Thông tin Quốc tế,Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ.