Tư liệu dịch: Báo chí, truyền thông và công nghệ thông tin
NỀN BÁO CHÍ HOA KỲ
Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, năm 1994
BIÊN TẬP TỜ WASHINGTON POST
Marilynne Rudick
Phòng làm việc bao bọc bởi những bức tường bằng kính của Leonard Downie trong phòng tin tức của tờ Washington Post là một nơi thuận lợi để xem xét hoạt động của tờ báo này. Downie nói rằng, trong sự nghiệp hơn 30 năm của mình tại tờ Washington Post, ông đã chứng kiến công việc của các nhà báo ngày càng khó khăn hơn và mang tính chuyên sâu hơn khi mà tin tức ngày càng trở nên phức tạp hơn.
Tuy nhiên, Downie, người bị cuốn hút bởi nghề làm báo kể từ khi ông còn là một đứa trẻ đi giao báo tại Cleveland, bang Ohio, nơi ông sinh ra vào năm 1942, lại nghĩ rằng phần thưởng của nghề này làvô song. Đối với ông, thách thức lớn nhất là việc “làm cho tờ Washington Post ngày càng tốt hơn, năm này qua năm khác, và tiếp tục làm cho nó tốt hơn nữa vào năm sau so với năm trước”.
Những năm tháng của ông tại tờ Washington Post - với vai trò là phóng viên phụ trách khu vực đô thị, làm các phóng sự điều tra, biên tập các tin tức về đô thị và trong nước, là trưởng ban biên tập giám sát việc phát hành tin tức hàng ngày và là phóng viên thường trú tại Luân Đôn, đã giúp ông có một cách nhìn vững chắc về vai trò của nền báo chí Hoa Kỳ. Downie, người trở thành Trưởng ban biên tập của tờ Washington Post vào năm 1991 cũng nói rằng, về cơ bản, báo chí Hoa Kỳ dựa trên cơ sở địa phương hơn là quốc gia. Mỗi tờ báo “có bản sắc riêng nhất định phù hợp nhất với cộng đồng của mình. Nếu bạn đi từ thành phố này đến thành phố khác, bạn sẽ thấy các tờ báo rất khác nhau”.
Downie đã mô tả 800.000 độc giả hàng ngày và 1,1 triệu độc giả vào ngày Chủ nhật của tờ Washington Post là “những người được giáo dục tốt nhất và những người quan tâm nhất tới tin tức của đất nước”. Trong khi tờ Washington Post, là tờ báo hàng đầu tại thủ đô được các nhân viên và công chức chính quyền khắp nơi trên thế giới đọc, ông nhấn mạnh, về cơ bản, nó vẫn là một tờ báo địa phương.
“Đội ngũ nhân viên lớn nhất của tờ Washington Post vẫn là các phóng viên và biên tập viên địa phương và nguồn tài chính cơ bản của tờ báo vẫn là quảng cáo địa phương”.
Trong khi chủ nghĩa địa phương có vai trò quan trọng, Downie nói tới Điều bổ sung sửa đổi thứ nhất của Hiến pháp bảo đảm quyền tự do ngôn luận và sự độc lập của báo chí như là nền tảng của nền báo chí Hoa Kỳ.
Downie nói: “Điều đó có nghĩa là chính phủ không bao giờ có thể kiểm soát hoặc gây ảnh hưởng lên báo chí”. Bắt nguồn từ đó “là truyền thống luật pháp hạn chế sự kiểm soát các lợi ích cá nhân đối với việc liệu họ có chọn mua quảng cáo hay không”. Do đó, “tất cả những câu chuyện của chúng tôi hoàn chỉnh tới mức cao nhất, gần như là chính toàn bộ câu chuyện. Chúng tôi muốn mình công bằng, chính xác và đầy đủ”, ông nói.
Báo chí Hoa Kỳ cố gắng tới mức cao nhất để tách bạch giữa sự kiện thực tế và ý kiến bình luận. “Ý kiến của một phóng viên không nên xuất hiện trong câu chuyện”, Downie giải thích, “những gì mà một phóng viên có thể đóng góp vào câu chuyện chính là kinh nghiệm chuyên môn và khả năng phân tích. Rất nhiều phóng viên của chúng tôi trở thành chuyên gia trong các lĩnh vực mà độc giả cần sự giúp đỡ, cho dù đó là chính phủ hay chính trị, hay kinh tế hoặc năng lượng hạt nhân”.
“Điều đó khác với việc đưa ý kiến cá nhân của phóng viên được đưa vào trong câu chuyện”, Downie nói. “Tờ báo của chúng tôi có một phần riêng – trang bình luận và trang phản biện với trang bình luận bao gồm các ý kiến của các cá nhân có ký tên ở dưới”. Downie không tin rằng sức mạnh của báo chí lại được mở rộng sang lĩnh vực tạo ra, chứ không chỉ là đưa tin - một ý kiến bị một số nhà phê bình truyền thông phản đối.
Ông thừa nhận: “cái mà chúng tôi có thể sáng tạo chính là sự ưu tiên, bởi vì chúng tôi chỉ có các nguồn lực hữu hạn. Và việc chúng tôi lựa chọn nên đưa vào tờ báo của mình những tin gì, xét về khía cạnh nào đó là việc tạo sự ưu tiên”.
Nhưng vượt lên trên cả việc đưa tin, Downie cho rằng: “báo chí thường theo sau thị hiếu của công chúng hơn là dự báo trước”. Ông đã dẫn ra một ví dụ rất điển hình về việc báo chí đi sau công chúng: câu chuyện về những chiếc chiếc lọ mỹ phẩm kiểu phun nén vào giữa những năm 1970.
Ông nói: “Một nghiên cứu khoa học chỉ ra rằng các hóa chất trong các lọ này đã gây hại cho tầng ozone, và chúng tôi cũng đã viết một số bài về việc này. Tuy nhiên đã không có một ai trong ngành truyền thông tham gia tích cực vào sự kiện này và do đó đã không có các bài bình luận hoặc nhiều bài trên các trang nhất về câu chuyện này”.
Ông tiếp tục: “Tuy nhiên, trong cả nước, người dân đã ngừng việc mua các lọ phun này. Chỉ với những thông tin đó thôi… người dân Mỹ… đã quyết định rằng họ không muốn gặp rủi ro và đã ngừng mua sản phẩm này”.
“Đôi khi, trong khi đi theo công chúng, báo chí có vẻ như là có tác động mạnh hơn là thực tế nó có thể”, Downie nói: “Có vẻ như là chúng tôi có ảnh hưởng mạnh mẽ bởi vì chúng tôi đang lướt trên đỉnh sóng của sự quan tâm của công chúng và có vẻ như là các phương tiện truyền thông đang đi tiên phong về những vấn đề mà chúng tôi chỉ đang phản ánh. Hoặc đôi khi, một câu chuyện tự nó có tác động mạnh tới mức mà nó hoàn toàn lôi cuốn công chúng Hoa Kỳ và tạo ra một ảo tưởng về quyền lực của các phương tiện truyền thông”.
Tuy nhiên, Downie cũng cho rằng: “Quyền lực của chúng tôi là ở chỗ tìm ra sự thật”.
Trong số những sự thật mà báo chí tìm kiếm là về chính phủ. Một số người nhìn nhận báo chí như là đối thủ của chính phủ, song Downie lại coi nghề làm báo là việc làm cho chính phủ phải chịu trách nhiệm trước cử tri.
“Điều này có nghĩa là chúng ta không nên đồng loã với chính phủ, song cũng không có nghĩa là chúng ta phải chiến đấu chống lại nó”, ông nói. “Bạn phải làm cho chính phủ có trách nhiệm. Và nếu tất cả những gì chúng ta có là một chính phủ tốt, thì việc của chúng ta là viết những câu chuyện về một chính phủ tốt. Nhưng nếu có vấn đề và cả những thành công nữa, thì nhiệm vụ của chúng ta là đưa tin về cả hai thứ đó”.
Có người cho rằng báo chí đã đi quá xa trong việc đào bới thông tin, song Downie bình luận: “Nếu bạn tìm hiểu kỹ lưỡng tình cảm này, bạn sẽ thấy rằng mọi người bực mình vì một trong hai lý do: báo chí đã phơi bày những tin tức một cách thô thiển về những người hoặc những điều mà họ quan tâm, hoặc những câu chuyện điều tra đã đi quá xa vào sự riêng tư của những người dân bình thường và độc giả cảm thấy cá nhân bị xâm phạm. Nhưng nếu bạn lại hỏi cũng chính những người đã cảm thấy bị xâm phạm bởi những câu chuyện này rằng họ có muốn có thêm các thông tin điều tra không, họ sẽ luôn trả lời rằng có”.
Downie cũng nhận thức được trách nhiệm đi cùng với những phóng sự điều tra. Ông nói: “Bạn phải luôn cân bằng giữa quyền được biết và quyền riêng tư của công chúng”.
Tại tờ Washington Post, mỗi câu chuyện nhậy cảm được đánh giá một cách độc lập trước khi đưa ra quyết định xuất bản. Trong số các vấn đề cần cân nhắc có việc xem xét liệu câu chuyện có mang tính phỉ báng hay làm mất uy tín một ai đó không.
Downie nói: “Bạn phải chắc chắn rằng câu chuyện của bạn là công bằng và chính xác nhất, nếu không, bạn phải tiếp tục làm việc cho đến khi được như vậy. Có thể đôi khi bạn không bao giờ hài lòng với tiêu chuẩn đó và bạn không bao giờ xuất bản nó”.
Một cân nhắc nữa là liệu câu chuyện có thể làm tổn hại lợi ích quốc gia hay không. Tờ Washington Post cũng xem xét liệu một câu chuyện có gây hại đối với một cá nhân không nữa. Do đó, tờ báo sẽ không bao giờ viết về một vụ bắt cóc đang diễn ra.
Downie thừa nhận rằng đôi khi một quyết định xuất bản gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Ông dẫn ra một câu chuyện in trên tờ Washington Post về những cáo buộc về việc làm sai trái tại văn phòng quốc hội. Khi câu chuyện được đăng trên trang nhất, một nhân viên tại Quốc hội – tâm điểm của câu chuyện, đã tự vẫn.
Downie thừa nhận: “Chúng tôi cảm thấy thật tồi tệ, nhưng chúng tôi không hề nghĩ đến việc người này có thể tự vẫn và chúng tôi đã không có cách nào để ngăn chặn vụ tự tử này”.
Downie tin rằng có một số người đã là người của công chúng tới mức mà họ hầu như không có quyền riêng tư, chẳng hạn như các thẩm phán của Tòa án Tối cao “trong số khoảng hơn một chục người nắm các vị trí quyền lực nhất trong nước” .
Một vài năm trước đây, có một vụ việc gây ồn ào dư luận khi một tờ báo đã cho in danh sách những cuốn băng video mà một nhân vật được đề cử vào Tòa án Tối cao thuê. Tờ Washington Post đã không cho in danh sách này.
“Trong trường hợp cụ thể này, tôi không thấy có sự liên quan nào đến những thông tin đó”, Downie nói, song ông cũng bảo vệ quyền của các phóng viên được tìm kiếm loại thông tin này. Nghề làm báo là việc tìm kiếm thông tin và trách nhiệm của người nắm giữ thông tin là quyết định liệu có tiết lộ các thông tin đó không, ông nhấn mạnh.
“Ở đất nước này, nếu bạn đã thề với tư cách là một nhân viên của chính phủ liên bang trong việc bảo vệ các bí mật quốc gia và nếu bạn tiết lộ một bí mật quốc gia thực sự cho giới truyền thông, và họ công khai nó, người bị trừng phạt sẽ là người tiết lộ bí mật chứ không phải giới truyền thông”.
Buộc giới truyền thông phải chịu trách nhiệm, Downie nói, sẽ “đe doạ quyền tự do báo chí”.
Tuy nhiên, báo giới đã tiến hành công việc của mình như thế nào khi có được vị trí đặc quyền này? Downie bình luận: “Có rất nhiều tờ báo tốt ở đất nước này, và rất nhiều tờ báo tầm thường, và thật không may cũng có rất nhiều tờ báo tồi nữa vì những tờ báo này đã không cung cấp nhiều thông tin cho độc giả của mình. Báo giới luôn có thể làm được tốt hơn”.
Để làm được tốt hơn, Downie nói, bao gồm việc làm cho thông tin trở nên dễ tiếp cận và dễ hiểu hơn.
“Độc giả của chúng tôi là những người rất bận rộnvới rất nhiều việc phải làm nên phải cạnh tranh mới dành được thời gian của họ”. Do đó, “thậm chí ngay cả với những câu chuyện quan trọng nhất, bạn vẫn muốn tìm những cách hấp dẫn để kể chúng và do đó thu hút được sự chú ý của độc giả”.
Một trong số những đối thủ cạnh tranh dành sự chú ý của độc giả là truyền hình. Ông nói, báo chí Hoa Kỳ cạnh tranh với truyền hình trong các câu chuyện có tầm cỡ quốc gia - về tổng thống, quốc phòng – và về cảnh sát địa phương hay các vụ cháy.
“Nhưng có rất nhiều thứ khác không được truyền hình đưa tin bởi vì chúng không thể truyền được từ xa. Tương tự như vậy, truyền hình cũng hiếm khi có thể đề cập sâu sắc như báo chí có thể làm. Vì vậy, mọi người xem được một tin gì đó trên truyền hình và thực sự quan tâm, họ sẽ muốn đọc thêm về các tin tức đó trong các tờ báo của ngày hôm sau”.
“Có người nghĩ rằng truyền hình sẽ làm cho báo chí trở nên lỗi thời, song thực sự thì nó đã làm thay đổi bản chất của báo chí. Báo chí có thể cung cấp thêm những thông tin mà truyền hình không thể”.
Downie nhìn nhận tính chuyên sâu ngày càng tăng là một sự thay đổi nữa đang diễn ra tại các tờ báo. Trên thực tế, rất nhiều các tờ nhật báo là các tờ báo chuyên sâu – tin tức trong nước, tin địa phương, thể thao, giải trí, kinh doanh và sức khoẻ, tất cả đều được thể hiện trong một tờ báo.
“Tờ Washington Post là một tờ báo quá lớn để người ta có thể đọc hàng ngày… thay vào đó, chúng tôi biết rằng những người khác nhau đọc những phần khác nhau của tờ báo tuỳ theo quan tâm riêng của họ”.
Sự chuyên sâu ngày càng tăng này đang thay đổi công việc của người phóng viên. Tờ Washington Post có một bác sỹ phụ trách chuyên mục sức khoẻ và một luật sư phụ trách chuyên mục tư pháp. Downie nhận xét, bây giờ không còn là thời điểm mà một phóng viên có đủ thông minh và tinh tường để viết về mọi vấn đề. Càng ngày, người phóng viên càng phải đi vào một lĩnh vực chuyên sâu.
Nhìn tổng thể, nghề làm báo đã trở nên khó khăn hơn và ngành kinh doanh tin tức cũng trở nên phức tạp hơn.
Marilynne Rudick là một cây bút tự do tại Washington Post.