jump over navigation bar
Embassy SealBộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Đại sứ quán Hoa Kỳ - Hanoi, Vietnam flag graphic
 
Thông tin cập nhật
 
  Các dịch vụ của IRC Dịch vụ Reference Update Tư liệu dịch Kinh tế & Thương mại An ninh khu vực Các vấn đề toàn cầu Báo chí, truyền thông và công nghệ thông tin Bài 10 Bài 15 Chính trị, xã hội và văn hóa Mỹ

Tư liệu dịch: Báo chí, truyền thông và công nghệ thông tin

NỀN BÁO CHÍ HOA KỲ
Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, năm 1994

LUẬT VỀ TỘI PHỈ BÁNG Ở HOA KỲ
Steven Prerssman

Năm 1637, một nhà văn người Anh tên là William Prynn đã phạm một lỗi đáng tiếc khi viết một quyển sách chỉ trích nữ hoàng. Prynn bất hạnh đã bị đưa ra xét xử trước một hội đồng thẩm phán, bị kết tội phỉ báng và bị kết án chung thân. Ông ta còn phải chịu một hình phạt bổ sung là cắt tai trước khi bị đẩy vào tù.

Nếu Prynn sống ở nước Mỹ hiện đại hôm nay chứ không phải ở nước Anh vào thế kỷ XVII, chắc chắn ông ta sẽ được tự do viết cuốn sách của mình - dù là về nữ hoàng hay về một tổng thống Mỹ - mà không phải lo sợ bị mất tai hoặc phải vào tù.

Phỉ báng là một thuật ngữ pháp lý mô tả hình thức phỉ báng bằng văn bản mà từ điển định nghĩa là “sự xúc phạm phi lý hoặc sai lệch làm tổn hại tới uy tín của một người nào đó”. Đôi khi thuật ngữ vu khống cũng được sử dụng với nghĩa như phỉ báng. Hai thuật ngữ này đều có nghĩa giống nhau mặc dù vu khống thường chỉ những lời phỉ báng về một ai đó nhưng là nói với một người khác chứ không phải được viết trên một tờ báo, một bài tạp chí hay trong sách. Ngày nay, sự khác biệt mang tính pháp lý giữa phỉ báng và vu khống hầu như không còn nữa, phần lớn là do sự xuất hiện của thời đại điện tử. Ví dụ: mạng lưới truyền hình Mỹ thỉnh thoảng đã bị kiện vì tội phỉ báng mặc dù các phóng viên tin tức và phóng viên thường trú “đưa ra những lời lẽ phỉ báng trước các khán thính giả chứ không phải với các độc giả.

Đối với Hoa Kỳ, luật điều chỉnh tội phỉ báng và vu khống đã bắt đầu hình thành thậm chí trước khi các thuộc địa giành lại nền độc lập từ người Anh. Một trong những vụ án nổi tiếng nhất của Mỹ là vụ liên quan đến chủ báo John Peter Zenger ở New York, người đã phải vào tù năm 1734 vì đăng những bài công kích mang tính chính trị đối với viên thống đốc thuộc địa bang New York. Luật sư của Zenger đã tạo ra một tiền lệ pháp lý khi lập luận thành công rằng sự thật là lời biện hộ chắc chắn trong các vụ kiện về tội phỉ báng. Cho tới thời điểm đó, những lời phát biểu bị cho là phỉ báng đối với một ai đó là đúng hay sai không quan trọng lắm. Tuy nhiên, sau vụ Zenger, người ta chỉ có thể thắng kiện nếu những lời phỉ báng đó được chứng minh là sai.

Vụ Zenger cũng tạo ra một tiền lệ khác nữa mà đến ngày nay vẫn còn nguyên giá trị. Các vụ kiện về tội phỉ báng, một phần trong quy trình tố tụng dân sự (chứ không phải là hình sự), có thể do bồi thẩm đoàn xét xử và bồi thẩm đoàn có quyền quyết định liệu một ấn phẩm có đăng tải những lời phỉ báng về một người nào đó hay không. Nếu đúng thì bồi thẩm đoàn có quyền quyết định mức độ tổn hại mà cá nhân người bị phỉ báng phải chịu đựng và khoản tiền bồi thường thiệt hại mà họ được nhận như sự đền bù. Ở Hoa Kỳ ngày nay, khoảng 90% các phiên tòa về tội phỉ báng do các bồi thẩm đoàn xét xử.

Các nhà lập hiến Hoa Kỳ thế kỷ XVII đã bảo đảm quyền tự do báo chí bằng Điều luật sửa đổi thứ nhất của Tuyên ngôn Nhân quyền. Mặc dù vậy, trong nhiều năm, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ - tòa án cao nhất của Mỹ - đã không dựa vào Điều luật sửa đổi đầu tiên này để bảo vệ giới truyền thông trước các vụ kiện về tội phỉ báng. Thay vào đó, mỗi bang lại có luật điều chỉnh tội phỉ báng lại khác nhau và trên cả nước không có một bộ luật thống nhất và chặt chẽ nào điều chỉnh vấn đề này.

Tất cả đã thay đổi vào năm 1964 khi Tòa án Tối cao đưa ra quyết định cách mạng hóa luật điều chỉnh tội phỉ báng ở Hoa Kỳ. Phán quyết nổi tiếng trong vụ Sullivan kiện Thời báo New York đã tạo ra một quy định ngang bằng với những bảo đảm về quyền tự do báo chí trong Điều bổ sung sửa đổi thứ nhất của Hiến pháp. Trong phán quyết của mình, Tòa án đã quyết định rằng các công chức không thể thắng kiện trừ phi các phóng viên hoặc biên tập viên bị kết tội “thực sự có ác ý” khi đăng tải những thông tin sai sự thật về họ.

Như thế nào là ác ý để chứng minh tội phỉ báng? Vị thẩm phán về hưu William J. Brenman, Jr., người ra phán quyết Sullivan, đã định nghĩa đó là “nhận thức rằng [thông tin được đăng] là sai” hoặc thông tin được đăng tải “một cách bừa bãi bất chấp đúng hay sai”. Nói cách khác, công chức không thể khiếu kiện tội phỉ báng nếu chỉ đơn giản chứng minh thông tin về họ được truyền đi hoặc được đăng tải là sai. Giờ đây, họ phải chứng minh được là nhà báo không những đã cố tình đăng tin sai mà còn không phân biệt thế nào là giả và thế nào là thật.

Tòa án Tối cao sau đó đã mở rộng việc áp dụng cái gọi là quy định Sullivan đối với “các nhân vật của công chúng”, nghĩa là những người không làm việc trong các cơ quan công quyền nhưng vẫn thu hút báo giới vì sự nổi trội của họ trong mắt công chúng. Nhiều năm qua, các tòa án Mỹ đã quyết định nhóm người này gồm có các nhân vật danh tiếng trong lĩnh vực giải trí, các nhà văn nổi tiếng, vận động viên và những người thường xuyên thu hút sự chú ý của giới truyền thông.

Đối với cá nhân dân thường, việc kiểm tra để chứng minh tội phỉ báng không khó. Mặc dù các phán quyết của Tòa án Tối cao, chẳng hạn như quyết định Sullivan, được áp dụng ở mọi nơi trên nước Mỹ, nhưng hầu hết các bang vẫn sử dụng luật riêng của mình trong trường hợp vụ việc liên quan đến dân thường. Thông thường, những luật này yêu cầu các nhân vật của công chúng, những người cho rằng họ bị phỉ báng, phải chứng minh được nhà báo đã cẩu thả khi đăng thông tin sai về họ. Sự cẩu thả, giống như ác ý, là một thuật ngữ pháp lý chỉ sự thiếu thận trọng của phóng viên hoặc biên tập viên. Vì dân thường ít bị giới truyền thông động chạm đến bằng các công chức, nên luật về phỉ báng của Hoa Kỳ thừa nhận họ có quyền được pháp luật bảo vệ nhiều hơn trước những tuyên bố sai sự thật.

Mỗi năm trên nước Mỹ có hàng trăm vụ kiện các tờ báo, tạp chí, các đài phát thanh và vô tuyến truyền hình về tội phỉ báng. Nét đặc trưng của các vụ kiện này là đều do các công chức đương nhiệm hoặc đã về hưu, những người làm công việc giải trí hoặc các nhà điều hành kinh doanh khởi kiện. Những người này cho rằng họ bị tổn hại vì sự công khai chỉ trích của giới truyền thông - thường là buộc tội hoặc cho rằng họ tham gia các hoạt động trái pháp luật, không đúng đắn hoặc có vấn đề.

Ví dụ: tháng 12/1990, một thẩm phán của Tòa án Tối cao Pennsylvania đã thắng kiện và được bồi thường 6 triệu đô-la trong vụ kiện tờ báo Người điều tra Philadenlphia vì năm 1983 báo này đã đăng một loạt bài cho rằng ông ta phạm tội rao bán ảnh hưởng của mình. Tháng 4/1991, trong một trong những cáo trạng lớn nhất về tội phỉ báng được đưa ra đối với giới truyền thông, cựu công tố viên quận ở bang Texas là Victor Feazell đã nhận được 58 triệu đô-la tiền bồi thường sau khi đài truyền hình Dallas cáo buộc ông nhận hối lộ để dàn xếp các vụ lái xe trong khi say rượu. Feazell nói sau khi bồi thẩm đoàn tuyên bố cáo trạng: “Bản cáo trạng này đã gửi một thông điệp tới phần còn lại của giới truyền thông là phải đưa tin chính xác”.

Hai tháng sau, một thẩm phán tòa án quận tại bang đó không chỉ tán thành phán quyết trên mà còn bổ sung một điều khoản cộng thêm 10% phí lợi tức hàng năm vào khoản bồi thường nếu đài truyền hình kháng cáo và thua kiện. Một dàn xếp đã đạt được ngay sau đó.

Tháng 5/1991, bồi thẩm đoàn ở Chicago, Illinois đã quyết định cho nhà kinh doanh Robert Crinkley được nhận khoản bồi thường 2,25 triệu đô-la vì một bài báo trong Tạp chí Phố Wall đã đưa tin sai rằng ông ta có liên quan tới các khoản hối lộ cho các quan chức nước ngoài. Crinkley nói rằng vì bài báo đó mà không ai thuê ông ta sau khi ông không còn làm cho chủ cũ nữa. Bồi thẩm đoàn nhất trí rằng ông ta là nạn nhân của tội phỉ báng mặc dù tờ báo đã đăng bài cải chính cho bài báo trên. Tháng 9/1991, quyết định cho hưởng mức bồi thường đó đã bị thẩm phán Howard Miller của tòa án lưu động bãi bỏ. Miller đã ra lệnh mở một phiên tòa mới về vấn đề thiệt hại sau khi kết luận rằng bằng chứng trong vụ kiện không đủ để làm căn cứ cho một khoản bồi thường lớn như vậy. Luật sư của Crinkley đã bắt đầu lên kế hoạch kháng cáo.

Trong những vụ kiện này và các vụ kiện khác, người khởi kiện tội phỉ báng phải chứng minh được rằng họ đã bị phỉ báng. Nói cách khác, một nhân vật của công chúng phải chứng minh được rằng phóng viên không chỉ đăng tải những thông tin sai lệch mà còn làm việc đó một cách ác ý và thiếu thận trọng, không hề tìm cách xác định sự thật. Các vụ kiện về tội phỉ báng không chỉ giới hạn ở những tranh chấp giữa giới truyền thông và đối tượng được họ đề cập đến. Tháng 7/1989, Công ty American Express thừa nhận đã phát tán thông tin sai về một Giám đốc ngân hàng quốc tế, người kiểm soát Ngân hàng Nhà nước Cộng hòa của New York. Khi luật sư của Giám đốc ngân hàng đe dọa sẽ khởi kiện về tội phỉ báng, American Express đã nhận lỗi và đồng ý dành 8 triệu đô-la cho hoạt động từ thiện như là một cách dàn xếp vụ kiện.

Bên cạnh việc phân biệt giữa nhân vật của công chúng và dân thường, các tòa án Mỹ cũng quyết định rằng nhiều loại thông tin đăng tải nhìn chung được miễn tội phỉ báng. Ví dụ: hầu như không thể kết tội nhà văn phạm tội phỉ báng nếu tác phẩm của họ chỉ đề cập đến ý kiến chứ không phải thực tế. Trong phán quyết về tội phỉ báng năm 1974, Tòa án Tối cao đã khẳng định:“Theo Điều bổ sung sửa đổi thứ nhất của Hiến pháp, không tồn tại những thứ như ý kiến sai”.

Không lâu trước đây, một chủ nhà hàng ở New Orleans đã kiện một nhà phê bình ẩm thực vì ông này đã viết những điều không khen ngợi về cơ sở ăn uống của anh ta. Tòa án Tối cao Louisiana đã nói với chủ nhà hàng là việc làm đó chẳng ích gì nếu anh ta muốn trắng tay.

Gần đây hơn, Jerry Falwell, một chức sắc tôn giáo Mỹ, đã kiện một tạp chí sau khi họ đăng một bài châm biếm chua cay về Falwell, chế giễu lòng mộ đạo của ông ta. Thực sự, bồi thẩm đoàn bang Virgina đã phán quyết cho Falwell được hưởng khoản bồi thường 200.000 đô-la sau khi kết luận rằng tạp chí đã gây ra “nỗi đau khổ về tinh thần” cho vị mục sư nổi tiếng này. Tuy nhiên, Tòa án Tối cao Mỹ sau đó đã bác bỏ phán quyết trên khi giải thích rằng bài châm biếm, dù có làm tổn thương và gây đau khổ cho đối tượng của nó như thế nào, cũng vẫn được Điều bổ sung sửa đổi thứ nhất của Hiến pháp bảo vệ.

Floyd Adam, một luật sư ở New York, người chuyên đại diện cho các tổ chức truyền thông, ước tính trong các vụ kiện do bồi thẩm đoàn giải quyết những người khiếu kiện tội phỉ báng giành phần thắng trong khoảng 75% số vụ. Tuy nhiên, giới truyền thông luôn đảo ngược được cáo trạng của bồi thẩm đoàn nếu họ kháng cáo lên tòa án cấp cao hơn. Abrams nói rằng nguyên nhân là do các bồi thẩm viên thường không hiểu đầy đủ hoặc không áp dụng các chuẩn mực pháp lý thích hợp liên quan đến vụ kiện. Do vậy, nếu thua kiện ở giai đoạn đầu các tổ chức truyền thông thường kháng cáo lên tòa phúc thẩm.

Trong những năm gần đây, nhiều phòng xử án Mỹ đã biến thành những chiến trường pháp lý dữ dội bởi rất nhiều vụ kiện về tội phỉ báng được công bố rộng rãi đã trở thành tiêu điểm chú ý khắp thế giới. Một ví dụ trong số đó là vào năm 1976 khi tờ báo khổ nhỏ National Enquirer đăng một mẩu tin về Carol Burnett, diễn viên truyền hình nổi tiếng. Tờ báo đưa tin sai rằng Burnett đã tham gia cuộc tranh luận bẩn thỉu với cựu Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger tại một nhà hàng ở Washington.

Bồi thẩm đoàn ở Los Angeles cuối cùng đã cho Burnett hưởng 1,6 triệu đô-la bồi thường khi kết luận rằng tờ National Enquirer đã không hề bận tâm tới việc tìm hiểu xem việc đó là có thật hay không. Tòa phúc thẩm sau đó đã giảm mức bồi thường vì bị phỉ báng cho Burnett xuống còn 200.000 đô-la, đồng ý là cô đã bị phỉ báng nhưng quyết định Enquirer không nên bị trừng phạt quá nặng vì hành vi sai sót của họ. Dù vậy, cô diễn viên truyền hình vẫn hài lòng với kết quả đó. Burnett nói sau khi vụ kiện kết thúc: “Nếu họ chỉ đưa cho tôi 1 đô-la ngoài tiền vé, tôi cũng vẫn hài lòng vì đó là nguyên tắc”.

Trong các vụ kiện khác, những nguyên tắc cơ bản hầu như biến mất trong hàng loạt các chiến thuật pháp lý mà đôi khi những chiến thuật đó đã biến những phiên tòa xét xử tội phỉ báng thành những cuộc chiến tốn kém mà chẳng rõ ai là người thắng cuộc.

Tình trạng này xảy ra sau khi Tướng William Westmoreland thuộc Quân đội Mỹ kiện hãng truyền hình CBS và đòi bồi thường 120 triệu đô-la. Westmoreland rất tức giận vì chương trình tin tức CBS năm 1982 đã buộc tội ông phóng đại về tiến triển quân sự của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam. Sau phiên tòa bồi thẩm kéo dài 18 tuần ở thành phố New York, Westmoreland và CBS đã đạt được giải pháp riêng rẽ mà rốt cuộc là cả hai bên đều phải nhượng bộ.

Rodney Smolla, một chuyên gia về vấn đề phỉ báng và là giáo sư luật của Trường Đại học William và Mary đã viết: “Cuối cùng, phiên tòa đi đến hồi kết thúc, cũng u ám và chẳng giải quyết được gì như chính cuộc chiến tranh Việt Nam”.

Sau vụ Westmoreland, một vài chuyên gia pháp lý đã chỉ trích cách thức hệ thống pháp luật Mỹ giải quyết các vấn đề về phỉ báng. Một số chuyên gia trong đó đã đổ lỗi cho các tổ chức truyền thông vì quá dựa dẫm vào những bảo đảm về tự do báo chí trong Điều bổ sung sửa đổi thứ nhất của Hiến pháp. Daniel Popeo, một luật sư ở Washington nói rằng Điều bổ sung sửa đổi thứ nhất của Hiến pháp chỉ nghiêng về bênh vực giới truyền thông mà không bảo vệ “nạn nhân” của việc đưa tin bất công đó.

Các phóng viên đã đáp lại bằng một loạt những lời than phiền của họ về các vụ kiện về tội phỉ báng. Thực vậy, họ nói, các tòa án đã làm cho người ta khó có thể thắng kiện. Tuy nhiên, nguy cơ bị kiện cũng khiến nhiều hãng truyền thông không dám đăng tải những câu chuyện gây tranh cãi. Các hãng truyền thông lớn như CBS hoặc Thời báo New York đều có nguồn tài chính để theo đuổi các vụ kiện về tội phỉ báng tốn kém.Tuy nhiên, các đài truyền hình và những tờ báo nhỏ sẽ khó có thể chịu được gánh nặng chi phí tốn kém như vậy.

Cuộc tranh luận đang tiếp diễn về tội phỉ báng đã dẫn tới ít nhất một đề xuất về việc biên soạn một tập hợp mới các luật điều chỉnh tội phỉ báng để giúp các công chức và những người khác chứng minh vụ việc dễ dàng hơn. Đề xuất này - do một hội đồng luật sư, giáo sư luật và đại diện của giới truyền thông soạn thảo - cũng sẽ loại bỏ những khoản tiền bồi thường lớn mà các cơ quan truyền thông phạm tội phỉ báng có thể phải gánh chịu.

Theo Roslyn Mazer, một luật sư của giới truyền thông ở Washington, hơn một phần tư thế kỷ qua, các tòa án đã thiên vị cho giới truyền thông trong vấn đề phỉ báng, “tuy nhiên những chiến thắng này của họ phải khó khăn và tốn kém lắm mới đạt được, phải mất hàng triệu đô-la để trả cho luật sư và hàng ngàn giờ làm việc của các văn phòng luật sư và phòng xử án”.

Bruce Fein, cựu luật gia tư vấn cho Ủy ban Truyền thông Liên bang, cơ quan điều hành của Chính phủ Mỹ, là một trong số những luật sư giúp soạn thảo tập hợp các luật về phỉ báng. Fein nói, mục tiêu cuối cùng là để bảo đảm các nhà báo sẽ đưa tin chính xác sao cho công chúng được thông tin tốt hơn về những sự kiện quan trọng của cộng đồng. Tuy nhiên, ông cũng cho rằng quan trọng là giới truyền thông vẫn có quyền tự do lớn trong việc quyết định đăng tin gì. Fein nói: “Trong một xã hội dân chủ, mọi người phải chấp nhận cả những điểm xấu của giới truyền thông”.

Steven Pressman là biên tập viên và phóng viên pháp lý ở San Francisco, California.

lên đầu trang ^

Công cụ:

Printer_icon.gif In trang này



 

    Trang Web này được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ quản lý.
    Chúng tôi không chịu trách nhiệm về nội dung và tính bảo mật thông tin của các trang Web khác được liên kết đến.


Đại sứ quán Hoa Kỳ