jump over navigation bar
Embassy SealBộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Đại sứ quán Hoa Kỳ - Hanoi, Vietnam flag graphic
 
Thông tin cập nhật
 
  Các dịch vụ của IRC Dịch vụ Reference Update Tư liệu dịch Kinh tế & Thương mại An ninh khu vực Các vấn đề toàn cầu Báo chí, truyền thông và công nghệ thông tin Bài 10 Bài 15 Chính trị, xã hội và văn hóa Mỹ

Tư liệu dịch: Báo chí, truyền thông và công nghệ thông tin

NỀN BÁO CHÍ HOA KỲ
Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, năm 1994

TRUNG TÂM BÁO CHÍ NƯỚC NGOÀI
Daniel B. Moskowitz

Tháng 10/1991, Regina Chigwedere người Zimbabwe và bảy nhà báo nữ châu Phi khác đã đến Mỹ ba tuần để học về xuất bản, từ triết lý đạo đức và vai trò của báo chí trong một đất nước đang phát triển, đến những chi tiết cần thiết về cách sử dụng máy tính để hoàn thiện thiết kế trang báo và cách viết lời dẫn truyện sắc sảo hơn.

Chigwedere đã từng là phóng viên tờ báo Herald ở Harare trong 6 năm, viết gần như cả trang phụ nữ. Tuy nhiên, cô thấy rằng nhiều vấn đề thực sự quan trọng với phụ nữ Zimbabwe thì lại không được chú trọng và họ cần một tờ báo phù hợp với mối quan tâm của họ. Chín tháng sau chuyến thăm Mỹ, Chigwedere đã xuất bản số đầu tiên của Living On, một nguyệt san 30 trang dành riêng đáp ứng nhu cầu đó, tập hợp những bài báo về sức khoẻ, cuộc sống gia đình, phân biệt giới tính, sự cải thiện kinh tế, và tất nhiên, cả việc làm thế nào để trở nên hấp dẫn đối với đàn ông.

Dự án đã có sự khởi đầu thành công rực rỡ. Tạp chí đã bán được 200 bản ngay trong ngày đầu tiên trên quầy báo và đã thu hút những quảng cáo quan trọng. Chigwedere nói với một người khách ở Harare không lâu sau khi ra tạp chí rằng chuyến thăm Mỹ “đã đặt nền móng cho hầu hết những việc mà tôi đang làm trong tạp chí của tôi ngày nay. Nếu tôi không đi Mỹ, tạp chí của tôi có thể vẫn chưa ra đời”.

Chuyến thăm Mỹ đó được Trung tâm Nhà báo nước ngoài (CFJ) tổ chức, một tổ chức tư nhân duy nhất giúp đỡ các nhà báo, biên tập viên và các nhà xuất bản ở những nước đang phát triển học tập những kỹ thuật của nghề làm báo Mỹ và đánh giá được cái gì là thích hợp và không thích hợp ở đất nước của họ. CFJ nằm ở góc trái của một tòa nhà hiện đại có kiểu dáng đẹp ẩn mình trong bóng cây ở Reston, Virginia, cách Washington một quãng ngắn. Bryna Brenman, Giám đốc đào tạo của CFJ giải thích hội thảo, hội nghị chuyên đề, các khóa học và kinh nghiệm đào tạo do trung tâm đưa ra mang lại cho các nhà báo thực tập sự thư giãn dễ chịu, thoát khỏi những công việc gấp rút và các hóa đơn cần thanh toán, “một cơ hội để ngồi xuống và nghĩ về những việc bạn làm và lý do bạn làm việc đó”.

Trung tâm được ba nhà báo Mỹ thành lập cách đây gần một thập kỷ. Họ cho rằng ngành công nghiệp truyền thông phát triển cao của Mỹ phải có bổn phận chia sẻ bí quyết của mình với các đồng nghiệp ở những nước nơi việc thu thập tin tức và phổ biến thông tin thường mới bắt đầu có tính độc lập và chuyên nghiệp. Họ nhận thấy rằng công việc của nhiều nhà báo châu Á, Mỹ La tinh và châu Phi là sự kế tiếp truyền thống của báo chí Mỹ non trẻ đã từng cổ động và truyền bá phong trào tự do dẫn dắt các thuộc địa của Anh giành lại tự do vào thế kỷ XVIII. Cựu biên tập viên tờ Boston Globe Thomas Winship nói: “Tôi chưa gặp ở bất cứ nơi đâu một nhà báo nghiêm túc nào mà không khao khát có tự do để làm báo. Đó là một phần trong tính cách của chúng tôi”.

Winship là một trong ba sáng lập viên của trung tâm và hiện tại là Chủ tịch Hội đồng quản trị. Hai người còn lại là James D. Ewing, cựu nhân viên phụ trách xuất bản tuần báo và nhật báo thị trấn và là Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị, và George A. Krimsky, cựu phóng viên thường trú nước ngoài và biên tập viên phụ trách tin tức quốc tế của hãng Associated Press, hiện là Giám đốc của CFJ. Để giúp thực hiện nhiệm vụ của trung tâm, họ hợp tác với một ban tư vấn gồm những nhà báo giỏi nhất trên khắp thế giới, trong đó có George Mbugguss, cựu biên tập viên phụ trách nhóm biên tập báo Nation Newspapers ở Kenya; Cheong Yip Seng, tổng biên tập tờ Straits Times của Singapore; Harold Hoyte, Tổng Biên tập tờ The Nation ở Barbados; và Katharine Graham, Chủ tịch Công ty Washington Post của Mỹ.

Để biến giấc mơ về một mô hình đào tạo và trao đổi kỹ năng thành hiện thực, Winship, Ewing và Krimsky đã thuyết phục nhiều nhà xuất bản và phát thanh Mỹ cấp vốn. Chương trình đầu tiên của trung tâm vào tháng 8 năm 1945 đã quy tụ được 16 nhà báo từ 25 nước.

Từ đó, CFJ đã tiến hành 260 chương trình, đào tạo hơn 4000 học viên từ 170 nước. Đối với những học viên nói tiếng Pháp và tiếng Tây Ban Nha, khóa học được giảng bằng tiếng mẹ đẻ của họ. Thông thường, các chương trình được giảng dạy bằng tiếng Anh.

Các hoạt động của trung tâm- trụ sở, lương nhân viên, nghiên cứu, và xuất bản- được trả theo hợp đồng, tiền cấp cho chương trình và các khoản tài trợ liên tục từ các nhà xuất bản, các cá nhân và từ các nguồn tài trợ tư nhân khác. Riêng các chương trình thì được tài trợ bởi các cơ quan chính quyền- Cục Thông tin Hoa Kỳ, Liên Hợp Quốc- hoặc bởi các tổ chức tư nhân, thường là những tổ chức có mối quan tâm đặc biệt về một chủ đề hoặc một khu vực cụ thể trên thế giới. Ví dụ: Quỹ Tự nhiên Thế giới đã hỗ trợ cho việc đào tạo 13 phóng viên từ năm quốc gia Nam Mỹ về báo cáo môi trường và Quỹ châu Á đã tài trợ cho một khóa học dành cho các nhà báo Đài Loan.

Trong những năm đầu tiên, trung tâm đã mở hầu như bất kỳ khóa học nào có liên quan đến chức năng của mình mà có thể nhận được tài trợ. Giờ đây khi đã vững vàng, Krimsky nói, trung tâm có thể tập trung vào những lĩnh vực đang có nhu cầu và chắc chắn có thể thu được tiền. Ví dụ: theo đánh giá của nhân viên trung tâm, chương trình dành cho các nhà xuất bản châu Phi mà Chigwedere tham dự là nhằm phục vụ cho một bộ phận nghề nghiệp ngày càng quan trọng ở châu Phi.

Phần tiếp theo của chương trình được tiến hành năm 1992. Đó là việc cử một nhóm hai chuyên gia, một người về quản lý xuất bản, một người về kỹ thuật chế bản điện tử và thiết kế đồ họa đến gặp từng học viên của chương trình để cung cấp sự hỗ trợ kỹ thuật tại chỗ trong công tác quản lý truyền thông, thiết kế xuất bản, quản lý kinh doanh, viết bài và thúc đẩy.

Lấy chương trình các nhà xuất bản nữ châu Phi như một hình mẫu, năm 1993, trung tâm đã tiến hành một chương trình dành cho các nhà báo nữ Trung quốc.

Chương trình đào tạo cân bằng giữa việc dạy các kỹ năng cụ thể với việc học suy nghĩ theo cách mới về nghề làm báo. Jannet Karim, biên tập viên tờ Woman Now ở Malawi và là học viên chương trình các nhà xuất bản nữ châu Phi của CFJ nói: “Tôi đã có kinh nghiệm thực tế tuyệt vời nhưng quan trọng không kém là tôi đã có thể đón nhận những đề xuất về cải tiến từng làm tôi khó chịu trước đây. Tôi đã từng dễ bị tổn thương trước những lời chỉ trích”.

Bí quyết là phải tìm ra trong nghề làm báo Mỹ những vấn đề có thể áp dụng cho các nước đang phát triển, có tính đến sự khác biệt về tiềm lực và thường là các giá trị chính trị. Một tài liệu của CFJ đã viết “Trong khi các phóng viên Mỹ sử dụng các máy tính thế hệ thứ ba để viết bài và lấy thống tin cơ bản, nhiều đồng nghiệp của họ đã là may mắn nếu được dùng chung nhau máy chữ”.

Để bắt đầu, trung tâm thường phác thảo bức tranh về nghề làm báo Mỹ, nhấn mạnh rằng trong khi ngành công nghiệp này - 1500 tờ nhật báo, 7400 tờ tuần báo, 11000 tạp chí, 20.000 bản tin, 12.800 đài phát thanh - tự coi mình là sự ủy nhiệm của công chúng, song đó chính là một ngành kinh doanh và trên tất cả và là một ngành kinh doanh có lợi nhuận cao. Các nhân viên của trung tâm nhấn mạnh, không giống như báo chí ở phần lớn các nước khác trên thế giới vốn tự coi mình được lập ra để đại diện cho một quan điểm cụ thể nào đó, truyền thông tin tức Mỹ vốn định hướng theo độc giả, hết lòng cung cấp những thông tin mà các biên tập viên tin rằng độc giả, thính giả và các khán giả muốn và cần.

Các khóa học ở CFJ hầu như luôn bao gồm một phần về đạo đức nghề làm báo được giảng dạy với kiến thức hiểu biết sâu sắc qua trải nghiệm về những khác biệt văn hóa. Ví dụ: ở Mỹ, sẽ là rất không bình thường nếu một phóng viên nhận tiền để viết – hoặc lấp liếm- về một chuyện nhưng ở một số nước, việc trả tiền ngoài lề như vậy là phần thiết yếu để mưu sinh của nhà báo. Cách tiếp cận của trung tâm không phải là thúc đẩy việc chấp nhận các tiêu chuẩn Mỹ. Bryna Brennan nói rằng “chúng tôi giải thích chúng tôi làm việc như thế nào và tại sao” để khuyến khích thảo luận về những quy tắc thích hợp có thể được áp dụng ở nước của học viên. “Bạn không chỉ đưa cho họ câu trả lời mà còn nêu câu hỏi”.

Có lẽ đáng kể nhất là việc các nhà báo Mỹ- với tư cách là người kế tục của các bậc tiền bối đã cổ vũ cho cuộc Cách mạng Mỹ hơn 200 năm trước – được làm việc theo một hiến pháp quốc gia có những bảo đảm về quyền tự do báo chí. Ngược lại, hiến pháp của nhiều nước khác thường hạn chế báo chí đề cập đến những vấn đề ưu tiên quốc gia. Tháng 5/1993, phóng viên người Nigieria -Sunny Ofill đã bình luận trong một bài báo của tờ Alabama nơi anh làm khách mời trong ba tuần theo phần tiếp nối của chương trình học tại trụ sở trung tâm “Sau hai tuần ở Washington và xem cách báo chí Mỹ làm việc, tôi càng hăng hái đấu tranh cho tự do báo chí ở nước mình”.

George Krimsky nhớ lại rằng khi thiết lập một trung tâm đào tạo các nhà báo nước ngoài, “một trong những vấn đề đầu tiên chúng tôi phải đối mặt là vấn đề cũ rích về việc liệu có nên cử cán bộ đào tạo đến với học viên hay là đưa họ đến với chúng tôi. Chúng tôi đã quyết định làm cả hai”. Trung tâm sử dụng các phòng học tại trụ sở ở ngoại ô Washington cho những bài giảng và hội thảo và bố trí cho các học viên làm việc bên các nhà báo Mỹ tại các nhà xuất bản và đài phát thanh trên khắp nước Mỹ. Các chương trình có thể là những giới thiệu ngắn về nghề làm báo Mỹ cho các khách thăm do USIS hoặc những cơ quan chủ trì khác đưa đến, hoặc có thể là công việc chuyên sâu cao kéo dài nhiều tuần về những vấn đề cụ thể, chẳng hạn như viết báo về sức khoẻ và khoa học hay làm báo tiếng.

Tuy nhiên, CFJ cũng cử các chuyên gia Mỹ tới các nước khác để mở các khóa học không chuyên sâu nhưng có thể phục vụ nhiều người hơn. Ngoài ra, trung tâm đã giúp thiết kế trung tâm đào tạo nghề làm báo ở Ethiopia và dùng tiền từ nhiều tổ chức Mỹ cung cấp những sự hỗ trợ về quản lý và đào tạo cho Học viện Báo chí cao cấp, một chi nhánh của trường Đại học Witwatersrand ở Johanesburg.

Tuy nhiên, những chương trình lý tưởng là những chương trình kết hợp cả kinh nghiệm của Mỹ và của nước chủ nhà. Ví dụ: tháng 11/1992, 10 nhà quản lý truyền thông từ các nước châu Phi nói tiếng Pháp do USIS tuyển chọn đã đến CFJ tham dự một loạt các buổi học và nghiên cứu kinh nghiệm làm việc thực tế liên quan đến việc phỏng vấn các quan chức Chính phủ Mỹ và viết bài về các sự kiện ở thủ đô. Sau đó, tháng ba năm sau, hai nhà báo có kinh nghiệm, một ở Paris, một ở California và đều thông thạo tiếng Pháp đã đi châu Phi để tổ chức một loạt hội thảo cho một nhóm đông các nhà báo, bao gồm những người đã từng ở Mỹ và có thể chia sẻ những điều đã học với các đồng nghiệp của họ.

Cách tiếp cận ngược lại được sử dụng trong một loạt chương trình do USIS tài trợ dành cho các nhà báo ở Nigieria - đất nước có nhiều yêu cầu về đào tạo nhất và có mối liên hệ chắc chắn nhất với những người đã tham dự các chương trình của CFJ theo như lời Krimsky. Hàng năm ba hội thảo được tổ chức ở đây, mỗi hội thảo thu hút được khoảng 20% phóng viên. Sau đó, trong số những người tham dự, 10 người nhiệt tình theo học nhất sẽ được gửi tới Mỹ để tham dự các cuộc hội thảo, bài giảng và các công việc liên quan của báo địa phương.

Krimsky cho biết CFJ khác với hầu hết các cơ sở giảng dạy và đào tạo ở chỗ nó “tổ chức các chương trình phù hợp với mọi người thay vì bắt mọi người phải thích ứng với các chương trình đặt ra”. Hầu hết các học viên của CFJ do USIS hoặc một trong số các cơ quan tài trợ tuyển chọn nhưng trong một số trường hợp, trung tâm tự mình tìm kiếm những học viên phù hợp với một tiêu chuẩn cụ thể. Đôi khi một nhà báo đang viết bài cho trung tâm cũng có thể lọt vào một chương trình định sẵn hoặc được giới thiệu tới một cơ quan thông tấn bên ngoài để tiến hành tuyển chọn.

Tuy nhiên, điều quan trọng là công tác đào tạo không phải là mục đích cuối cùng của trung tâm với các phóng viên, biên tập viên và nhà xuất bản nước ngoài. Trung tâm cũng thực hiện các hoạt động tư vấn, cử các chuyên gia Mỹ bám sát các cuộc hội thảo và thực tập, gặp gỡ trực tiếp các học viên, đánh giá mức độ áp dụng những kỹ năng đã được nâng cao của họ và đưa ra những lời tư vấn về cách thức đạt được những mục tiêu của nghề làm báo.

Trong một dịp tư vấn như vậy, Kistin Helmore, người đã từng viết bài cho tờ Christian Science Monitor và biên tập cho tạp chí African Farmer đã gặp Regina Chigwedere ở Harare tháng 9/1992 và bàn về tạp chí Living On của cô. Tờ tạp chí phổ biến đến mức nó có triển vọng đạt được con số phát hành 10.000 trong năm xuất bản thứ ba nhưng nó được đầu tư vốn ít đến nỗi việc đó dẫn đến tình trạng tài chính eo hẹp. Helmore đã gợi ý bổ sung nội dung xuất bản thường kỳ - những bài báo có tính hướng dẫn về việc xin vay vốn ngân hàng, viết sơ yếu lý lịch, xây dựng ngân sách – mà có thể nhấn mạnh với các nhà quảng cáo tiềm năng rằng tạp chí là một môi trường hiệu quả cho việc quảng cáo của họ. Bà và Chigwedere đã xác định những công ty địa phương nào có thể là các nhà quảng cáo và sau đó Helmore đã tổ chức một buổi học sắm vai trong đó Chigwedere đóng giả là một chủ công ty kinh doanh và các nhân viên đại diện bán hàng của tạp chí phải đưa ra lời rao hàng - một bài tập giúp tất cả các nhân viên đại diện hiểu rõ hơn về cách thức trình bày vấn đề. Chính sách trợ giúp này là điển hình cho những công việc của trung tâm. Nó tập trung vào một vấn đề cụ thể - có thể là trình bày, chất lượng xuất bản, hoặc tài chính – và rồi dựa vào trình độ của các nhà chuyên môn, đưa ra giải pháp. Tuy nhiên, công tác đào tạo luôn nhấn mạnh vào sự cần thiết của việc đưa các giải pháp vào áp dụng trong điều kiện địa phương. Brennan nói, “nó phát huy hiệu quả trên khả năng thực tế của họ”.

Daniel B. Moskowitz là nhà báo tự do ở Washington.

lên đầu trang ^

Công cụ:

Printer_icon.gif In trang này



 

    Trang Web này được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ quản lý.
    Chúng tôi không chịu trách nhiệm về nội dung và tính bảo mật thông tin của các trang Web khác được liên kết đến.


Đại sứ quán Hoa Kỳ