jump over navigation bar
Embassy SealBộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Đại sứ quán Hợp chúng quốc Hoa Kỳ - Hanoi, Vietnam flag graphic
Thông tin cập nhật
 
  Trung tâm Hoa Kỳ Các dịch vụ của AC Dịch vụ Reference Update Tư liệu dịch Kinh tế & Thương mại An ninh khu vực Các vấn đề toàn cầu Báo chí, truyền thông và công nghệ thông tin Chính trị, xã hội và văn hóa Mỹ Các chương trình trao đổi giáo dục Quan hệ Mỹ-Việt Góc Nghiên cứu Việt Nam-Hoa Kỳ Học tập ở Hoa Kỳ Cơ hội xin viện trợ/học bổng Các hoạt động dành cho công chúng

Tư liệu dịch: Các vấn đề toàn cầu

NHỮNG CÂU HỎI THƯỜNG GẶP VỀ CÚM GIA CẦM
Cập nhật 25/11/2005

Cúm gia cầm, là một bệnh lây của động vật qua virut thường nhiễm ở gia cầm, và hiếm gặp hơn ở lợn. Virut cúm gia cầm rất đặc hiệu theo loài. Trong những trường hợp hiếm gặp, những virut này qua được hàng rào miễn dịch loài để nhiễm vào người. Nhiễm virut cúm gia cầm trên gia cầm gây nên hai dạng bệnh chính với độc tính cực cao hoặc cực thấp. Dạng “gây bệnh thấp” thường chỉ gây những triệu chứng nhẹ là xù lông, đẻ trứng ít hơn và khó phát hiện. Dạng gây bệnh cao, còn được gọi là cúm gia cầm gây bệnh cao (HPAI) có độc tính cao hơn rất nhiều, lây rất nhanh trong đàn gia cầm, tác động đến nhiều cơ quan nội tạng với tỷ lệ chết tới 100%, thường chỉ trong 48 giờ.

Virut HPAI là gì?

Có rất nhiều phân nhóm của virut cúm nhóm A. Những phân nhóm này khác nhau vì có một số protein trên bề mặt của virut cúm A. (các protein hemmaglutinin HA và neuraminidinase NA). Có 16 phân nhóm HA khác nhau và có chín phân nhóm NA khác nhau của virut cúm nhóm A. Mỗi kết hợp là một phân nhóm khác nhau. Tất cả các phân nhóm khác nhau của cúm A đều thấy ở gia cầm.

Tới nay chỉ có các phân nhóm H5 và H7 là được biết gây nên dạng gây bệnh cao. Tuy nhiên, không phải tất cả virut của phân nhóm H5 và H7 là dạng gây bệnh cao, gây nên bệnh nghiêm trọng trên gia cầm. Dường như các virut H5 và H7 được đưa vào đàn gia cầm dưới dạng gây bệnh thấp của chúng. Khi vào được hệ tuần hoàn, những virut này biến đổi trong vòng vài tháng để trở thành dạng gây bệnh cao. Đó là lý do tại sao cần quan tâm đến sự có mặt của virut H5 hoặc H7 ở gia cầm thậm chí khi các dấu hiệu ban đầu của nhiễm khuẩn rất nhẹ.

HPAI có thể lan truyền như thế nào?

Thủy cầm hoang dại là ổ dịch tự nhiên của tất cả các loại virut cúm nhóm A. Chúng có thể mang các virut gây bệnh cúm, gồm các phân nhóm H5 và H7 dưới dạng gây bệnh thấp không gây hại trong nhiều thế kỷ. Những bằng chứng hiện nay gợi ý rằng các loài chim di cư có thể truyền các virut H5 và H7 dạng gây bệnh thấp vào các đàn gia cầm và những virut này biến đổi gien thành dạng gây bệnh cao. Các virut HPAI đã được phân lập từ các loài chim di cư trong những trường hợp hiếm sau khi những con chim di cư bị phát hiện đã chết trong tầm bay của một ổ dịch gia cầm. Những hiện tượng gần đây cho thấy một số chim di cư hiện đã phát tán virut H5N1 dưới dạng truyền bệnh cao và sẽ tiếp tục phát tán virut này.

Những đợt dịch đang xảy ra trên gia cầm có ý nghĩa gì?

Đợt dịch HPAI hiện tại bắt đầu ở Đông Nam Á vào giữa năm 2003 là lớn nhất và nghiêm trọng nhất cho tới nay.

Từ trước tới nay trong lịch sử chưa bao giờ có nhiều quốc gia bị ảnh hưởng liên tiếp với kết quả là nhiều gia cầm bị chết như vậy. Virut H5N1 là tác nhân gây nên đợt dịch và đã cho thấy là nó rất dai dẳng mặc dù đã có rất nhiều cố gắng để tiêu diệt virut này. H5N1 được xem là đang lưu hành tại nhiều nơi ở Indonesia, Việt nam, Campuchia, Trung Quốc, Thái Lan và có thể là Lào. Kiểm soát bệnh dịch này được cho là phải mất vài năm.

Những quốc gia nào đã có dịch ở gia cầm?

Từ trung tuần tháng 12 năm 2003 tới đầu tháng 2 2004, những đợt dịch gia cầm HPAI đầu tiên do H5N1 gây nên đã được ghi nhận tại Hàn Quốc, Việt Nam, Nhật, Thái Lan, Campuchia, Lào, Indonesia và Trung Quốc. Tháng 8 năm 2004, Malaysia đã được thêm vào danh sách, tiếp theo sau là Nga vào tháng 7 năm 2004. Những con chim di cư hoang dại bị chết do H5N1 đã được ghi nhận vào tháng 8 cùng năm ở Kazakhstan và Mông Cổ. Tháng 10 năm 2005, H5N1 đã được khẳng định xuất hiện trên gia cầm ở Thổ Nhĩ Kỳ và Rumani với các đợt dịch ở chim hoang dại và gia cầm qua điều tra ở Croatia, Hy Lạp và Macedonia. Có thêm nhiều nước khác tiếp tục có báo cáo về phát hiện và có ổ dịch H5N1. Nhật, Hàn Quốc và Malaysia đã thông báo kiểm soát các ổ dịch gia cầm của họ và hiện đang được xem là không có bệnh lưu hành nhưng HPAI tiếp tục có ở các vùng khác với các mức độ khác nhau.

Sức khỏe con người có thể bị ảnh hưởng như thế nào?

Việc phát tán dai dẳng của H5N1 trên quần thể gia cầm gây nên hai nguy cơ chính cho sức khỏe con người: (1) nhiễm khuẩn trực tiếp khi virut truyền từ gia cầm sang người với hậu quả bệnh nghiêm trọng và (2) mối quan tâm lớn hơn là virut sẽ biến đổi từ dạng lây nhiễm cao trong người và bắt đầu phát tán dễ dàng từ người này sang người khác, tạo nên một đợt dịch toàn cầu (đại dịch toàn cầu).

Trong số ít các virut cúm gia cầm đã vượt qua được hàng rào chủng loài để nhiễm trên người, H5N1 đã gây nên bệnh nghiêm trọng nhất và gây chết nhiều người nhất. Không giống như cúm theo mùa trên người chỉ gây nên những triệu chứng hô hấp nhỏ ở hầu hết mọi người, cúm do virut H5N1 gây nên thường tiếp theo là những triệu chứng lâm sàng rất nghiêm trọng và có tỷ lệ tử vong cao (gần 50%). Tử vong thường do viêm phổi virut và suy đa cơ quan và xuất hiện rất phổ biến trên những trẻ em và thanh niên trước đó hoàn toàn khỏe mạnh.

Những ca bệnh trên người đã xảy ra ở đâu và như thế nào?

Hồng Công đã trải qua trận dịch virut H5N1 đầu tiên vào năm 1997 với 18 trường hợp và sáu ca tử vong. Đầu năm 2003, virut gây nên hai ca nhiễm khuẩn và một người chết trong một gia đình ở Hồng Công đã tới miền Nam Trung Quốc ngay trước đó. Tới thời gian đó chưa có ca bệnh nào trên người xảy ra trên thế giới. Từ năm 2003, dịch đã gây nên 121 ca trên người đã được xác định qua xét nghiệm với 62 ca tử vong được ghi nhận ở bốn quốc gia là Campuchia, Indonesia, Thái Lan và Việt Nam.

Con người bị nhiễm khuẩn như thế nào?

Con đường nhiễm khuẩn chính ở người là tiếp xúc trực tiếp với gia cầm bị nhiễm khuẩn hoặc bề mặt và đồ vật bị nhiễm phân hoặc máu gia cầm. Tới nay, hầu hết các ca bệnh trên người đã xảy ra ở các vùng nông thôn và ngoại thành nơi các hộ gia đình nuôi các đàn gia cầm nhỏ thả rông, thường vào các nhà và đi trên các sân trẻ em thường chơi. Số lượng lớn virut đã được bài tiết theo phân của gia cầm bị nhiễm khuẩn. Ở những nước mà gia cầm được nuôi để có thu nhập và thực phẩm, các gia đình giết mổ và tiêu thụ thịt gia cầm đã bị ốm. Phơi nhiễm xảy ra trong quá trình giết mổ, nhổ lông, xả thịt và sửa soạn để nấu. Nhiễm khuẩn ở con người xảy ra với việc tiêu thụ gia cầm chưa được nấu chín kỹ hoặc các sản phẩm gia cầm sống như tiết canh vịt. Không có bằng chứng là gia cầm hoặc trứng của chúng được nấu đúng quy cách là nguồn nhiễm khuẩn.

Virut có dễ truyền từ gia cầm sang người không?

Không. Chỉ có 121 ca bệnh đã xuất hiện trong trận dịch hiện tại mặc dù có rất nhiều gia cầm bị nhiễm khuẩn và rất nhiều các cơ hội kết hợp để con người bị phơi nhiễm, đặc biệt ở các đàn gia cầm nuôi tại gia. Người ta chưa hiểu rõ tại sao chỉ có một số người mà không phải những người khác bị nhiễm khuẩn mặc dù cùng bị phơi nhiễm.

Đại dịch toàn cầu là gì?

Một đại dịch toàn cầu có thể xảy ra khi có đủ ba điều kiện sau: Một phân nhóm virut cúm mới xuất hiện; virut này gây nên bệnh nặng ở người bị nhiễm; virut lan truyền dễ và duy trì trong người. H5N1 có hai điều kiện đầu. Nguy cơ nó đạt được khả năng truyền bệnh có tác động và duy trì giữa người với người tồn tại khi nào còn có cơ hội nhiễm khuẩn trên người xảy ra. Những cơ hội này sẽ tồn tại khi nào virut tiếp tục lưu hành trong gia cầm, có thể là trong nhiều năm tới.

H5N1 có thể thành virut gây đại dịch toàn cầu như thế nào?

Virut H5N1 có thể chứng minh khả năng của nó gây nhiễm bệnh cho người khi “sắp xếp lại” xảy ra, tạo nên một virut mới làm tăng khả năng truyền bệnh trên người. Điều này gây nên bởi một trao đổi vật liệu gen giữa virut cúm người và gia cầm khi một người bị nhiễm cả hai cùng một lúc. Lợn có thể đóng vai trò là “con tàu hỗn hợp” cho việc trao đổi này xảy ra và sau đó truyền virut mới này sang người. Những hiện tượng như vậy có thể gây ra qua một cơn bùng phát bệnh. Một tiến trình dần dần hơn “biến đổi thích nghi” có thể cho phép virut phát triển khả năng kết hợp có hiệu lực với tế bào người. Với nhiễm khuẩn tiếp sau cho con người, biến đổi thích nghi sẽ xuất hiện như là một chùm ca bệnh trên người với một số bằng chứng của truyền bệnh từ người sang người. Cơ chế chậm hơn này có thể cho phép thế giới có nhiều thời gian hơn để có hành động bảo vệ.

Truyền bệnh từ người sang người đã xảy ra chưa?

Truyền bệnh từ người sang người chưa thể loại trừ trong một chùm bệnh gia đình xuất hiện ở Việt Nam vào tháng 1 năm 2004 và trong một chùm bệnh gia đình khác vào tháng 3. Vào tháng 1/2005 một cô gái ở Thái Lan có thể đã truyền virut cho mẹ mình. Chưa có ví dụ nào về virut truyền đầu tiên từ người sang người qua tiếp xúc hoặc gây nên bệnh trong cộng đồng chung. Loại truyền bệnh này đòi hỏi có tiếp xúc duy trì rất gần với một người bệnh. Các trường hợp chiếm chủ yếu trong các ca bệnh đã xuất hiện trong các gia đình đã được truy nguyên tới các phơi nhiễm chung với gia cầm nhiều hơn là với những người bị nhiễm khuẩn khác. Tổ chức Y tế Thế giới đã không thay đổi đánh giá chung của họ về nguy cơ đại dịch toàn cầu. Những nhân viên y tế điều trị bệnh nhân H5N1, những người đã có phòng ngừa thận trọng, chưa từng bị nhiễm bệnh cúm gà.

Nguy cơ đại dịch toàn cầu hiện tại nghiêm trọng tới mức độ nào?

Virut H5N1 hiện đã lưu hành trong gia cầm ở rất nhiều quốc gia châu Á. Kết quả là, nhiều ca bệnh trên người đã xảy ra và tạo cho virut nhiều cơ hội hơn để “sắp xếp lại”, tăng nguy cơ khẩn cấp về chiều hướng đại dịch toàn cầu có thể lây dễ dàng trên người. Sự lan truyền bệnh gần đây trong chim hoang dại và gia cầm tới các vùng mới cũng làm tăng các cơ hội nhiễm bệnh trên người trong một vùng địa lý rộng lớn, làm tăng khả năng một đại dịch toàn cầu sẽ xảy ra.

Những quan tâm hiện tại là gì?

Vịt nhà bài tiết một số lượng rất lớn virut H5N1 gây bệnh cao mà không có dấu hiệu bệnh, đóng vai trò ổ bệnh câm đối với virut. Virut H5N1 hiện đang lưu hành có độc lực gây chết người cao hơn trên thực nghiệm với chuột và chồn nhiễm khuẩn khi so sánh với H5N1 từ năm 1997 đến 2004. H5N1 đã trải rộng vật chủ của nó, nhiễm và gây chết cho các loài có vú trước đây có đề kháng, ví dụ, hổ ở vườn thú Băng Cốc đã được cho ăn gia cầm bị bệnh còn sống. Tập tính của virut trong ổ bệnh tự nhiên, thủy cầm hoang, có thể trở nên độc tính hơn so với chim di cư chết vào mùa xuân 2005 ở Trung Quốc.

Những nguyên nhân chính nào cần quan tâm với khả năng đại dịch toàn cầu?

Mô hình lập trên máy tính ở Thái Lan gợi ý khả năng, với can thiệp cộng tác quốc tế mạnh mẽ sớm, sẽ dập tắt chiều hướng đại dịch toàn cầu có thể xảy ra. Điều này tương tự để dập tắt một đám cháy nhỏ với khả năng tạo nên một đám cháy rừng lớn. Một khi truyền bệnh từ người sang người tới một vùng đại đô thị, thì, tiền sử các trận cúm toàn cầu cho thấy việc lan truyền trên toàn thế giới có thể chỉ xảy ra trong một vài tuần. Hầu hết các nhà chức trách y tế nghi ngờ rằng đại dịch có thể ngừng lại, một khi đại dịch đang phát triển, chỉ có thể giảm nhẹ nó là tối đa. Một virut gây đại dịch toàn cầu có thể lan nhanh do người nhiễm bệnh ho hoặc hắt hơi. Không giống SARS, những người chứa virut chỉ hai ngày trước khi triệu chứng xuất hiện. Những người đi lại bằng máy bay không có triệu chứng sẽ rất khó để sàng lọc vì việc lan bệnh có thể xuất hiện mà không sốt. tỷ lệ tấn công trong một đại dịch toàn cầu, theo định nghĩa, đạt tới 25-30% tổng dân số. Thậm chí với một virut gây đại dịch toàn cầu nhẹ, như đã xảy ra năm 1957 “cúm châu Á” tỷ lệ tử vong toàn cầu ở hai vùng lân cận đã tới 7,4 triệu người. Trận đại dịch toàn cầu năm 1918 gây nên trên 40 triệu người chết với tỷ lệ tử vong 2,5%. Tỷ lệ chết hiện được biết trong những người đã được xác định có nhiễm khuẩn H5N1 là rất cao theo các tiêu chuẩn tiền sử, vượt quá 50%. Đúng là con số này không được tính trong một mẫu số lớn hơn những người có triệu chứng nhiễm khuẩn nhẹ hơn nhưng không đến cơ sở y tế điều trị. Người ta cũng hy vọng khi trở nên dễ truyền bệnh hơn, một virut gây đại dịch toàn cầu sẽ giảm rất nhiều độc lực gây chết người của nó. Một đại dịch toàn cầu được xem là sẽ gây nên một lượng lớn người cần nhập viện, vượt quá tạm thời sức tải của các cơ sở y tế. Tỷ lệ cao người lao động nghỉ ốm có thể ngừng trệ các hoạt động dịch vụ thiết yếu khác như ngành hành pháp, vận tải, và bưu chính viễn thông. Những đình trệ kinh tế xã hội này có thể tạm thời nếu tỷ lệ ốm đạt đến đỉnh nhanh, tuy nhiên, ngày nay các hệ thống thương mại và buôn bán liên quan mật thiết với nhau có thể tăng mạnh sự đình trệ này. Người ta dự đoán rằng một làn sóng thứ hai về lan nhiễm toàn cầu sẽ xảy ra trong cùng một năm với trận dịch thứ nhất trong đó những người đã ốm và khỏi qua đợt thứ nhất có thể lại bị ốm trong lần thứ hai. Trong đại dịch toàn cầu năm 1918 đã có ba làn sóng như vậy xảy ra.

Những dấu hiệu cảnh báo một đại dịch toàn cầu có thể xảy ra như thế nào?

Dấu hiệu quan trọng nhất sẽ là sự xuất hiện của một chùm các bệnh nhân có lâm sàng cúm gợi ý đến H5N1, liên quan chặt chẽ đến thời gian và địa điểm, gợi ý lan truyền từ người sang người. Các tổ chức như WHO và Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Bệnh (CDC) đang khống chế tình hình H5N1 và sẽ không đưa ra tuyên bố chính thức về một đại dịch toàn cầu cho tới khi được xác định bởi các phòng thí nghiệm tham khảo của họ.

Đã có vắcxin nào được phát triển để chống lại virut chưa?

Có những thử nghiệm lâm sàng ở Việt Nam về vắcxin H5N1 trên người đã cho thấy có an toàn và hiệu lực. Công việc tiếp theo đòi hỏi là xác định liều chuẩn và khả năng tăng hiệu lực của tá dược, Bộ Y tế và Dịch vụ con người Hoa Kỳ (HHS) đã xếp ưu tiên cho văcxin này và đã sẵn sàng đặt hàng khi văcxin này được đưa ra sử dụng. Tuy nhiên, vẫn còn phải xem xét liệu vắcxin này sẽ có hiệu lực chống lại chủng H5N1 hiện đang lưu hành không, không tính đến chống lại chủng đại dịch toàn cầu đã qua biến đổi gen từ chủng virut hiện đang lưu hành. Khi một virut toàn cầu mới đã xuất hiện, sản xuất trên qui mô lớn loại vắcxin đặc hiệu cho toàn cầu có thể bắt đầu. Dự trữ đủ để đối phó với một tác động lớn trên toàn cầu có thể chưa có sẵn trong vòng ít nhất sáu tháng tới. Mặc dù năng lực sản xuất toàn cầu hiện tại chưa đủ cho nhu cầu vắcxin cần, các công nghệ thay thế và hiệu quả hơn để phát triển vắcxin đang được theo đuổi mạnh mẽ.

Liệu tiêm một mũi vắcxin chống cúm năm nay có đáp ứng được yêu cầu chống lại virut cúm gia cầm toàn cầu trong tương lai?

Không. Vắcxin cúm hàng năm để chống lại chủng cúm đặc hiệu được dự báo từ năm trước đó. Những mũi tiêm sớm cúm theo mùa thậm chí không có hiệu lực chống lại các chủng cúm của năm tiếp theo, chứ chưa nói gì đến chủng cúm toàn cầu sẽ xuất hiện trong tương lai. Tất nhiên MED khuyến khích mọi người hàng năm tiêm vắcxin cúm theo mùa để phòng cúm.

Hiện đã có sẵn thuốc điều trị nhiễm viruts chưa?

Vào thời điểm này, hai loại thuốc thuộc nhóm ức chế neuraminidase, oseltamivir (Tamiflu) và zanamivir (Relenza), làm giảm mức độ và thời gian của cúm mùa nếu được tiêm trong vòng 48 giờ sau khi các triệu chứng bắt đầu. Dữ liệu lâm sàng rất hạn chế để sử dụng các thuốc này cho nhiễm khuẩn H5N1 nhưng dữ liệu xét nghiệm cho thấy nếu tiêm sớm, các virut cúm gia cầm cũng có nhạy cảm. Virut H5N1 chống lại các thuốc chống virut cũ như amantidine và ramantidine, vì vậy các thuốc này không có khả năng chống lại chủng H5N1 xuất hiện trên người. Tuy nhiên, rất có thể, việc sắp xếp lại gen tạo ra một chủng toàn cầu có thể lại có nhạy cảm với những thuốc chống virut cũ này.

Hạn chế ban đầu về dự trữ nguyên liệu của các thuốc ức chế neuraminidase hiện liên quan đến năng lực sản xuất hạn chế và giá quá cao đối với rất nhièu quốc gia. Rất nhiều nước đã xếp hàng dài trước cửa hàng Roche Pharmaceuticals, hiện là nhà sản xuất duy nhất thuốc Tamiflu. Những nỗ lực mạnh mẽ hiện đang tiến hành cho phép các nguồn sản xuất khác để tránh giá cao trên nhiều quốc gia.

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) khuyến cáo các nước bắt đầu dự trữ Tamiflu vào tháng Tư 2005 khi họ tuyên bố cảnh báo giai đoạn ba của dịch liên lục địa. WHO cũng gợi ý rằng những quốc gia này duy trì dự trữ đầy đủ kháng sinh để điều trị những gì xảy ra khi bị nhiễm khuẩn thứ phát với cúm.

“Khoảng cách xã hội” nghĩa là gì trong khung cảnh cúm toàn cầu?

Chúng ta đã biết từ các đại dịch toàn cầu trong quá khứ là việc tụ họp đông sẽ làm lan nhanh nhiễm khuẩn và tăng sức ép với khả năng của cơ sở y tế địa phương. Vì lý do này, các biện pháp để giảm tác động xã hội có thể là cẩn trọng như đóng của trường học, giảm bớt các cuộc tập trung người nơi công cộng, và dùng đến các bố trí công việc khác như thông tin liên lạc từ xa. Vì tỷ lệ nhiễm cao hơn trong cộng đồng, những vấn đề như chăm sóc người ốm và đủ thức ăn và nước uống có thể quan trọng hơn. Dự trữ thức ăn và nước uống là rất khó để biện hộ, một đại dịch toàn cầu chỉ là một trong số rất nhiều lý do.

Một đại dịch toàn cầu có thể đề phòng được không?

Câu trả lời là chưa rõ ràng. Cách tốt nhất để ngăn ngừa một đại dịch toàn cầu là cần phải loại trừ virut từ gia cầm, một tình cảnh khó có thể xảy ra trong tương lai gần. Như đã đề cập ở trên có những mô hình lý thuyết về dự phòng sử dụng các thuốc chống virut gần với bắt đầu một đại dịch toàn cầu để giảm sự xuất hiện của một chủng virut có thể lan truyền hoàn toàn hoặc hạn chế lan truyền quốc tế và có đủ thời gian để phát triển vắcxin. Thành công của chiến lược này sẽ phụ thuộc vào giám sát tốt và hậu cần trong vùng và các hạn chế di chuyển bắt buộc vào và ra khỏi vùng nhiễm bệnh. WHO mong đợi được tăng dự trữ thuốc can thiệp nhanh để thực hiện chiến lược chưa được thử nghiệm này mặc dù có những quan tâm về giám sát chưa đầy đủ trong các quốc gia dễ bị ảnh hưởng.

WHO khuyến cáo gì?

Tháng 8/2005, WHO gửi cho tất cả các quốc gia thông tin đề cương phác thảo các hành động chiến lược được khuyến cáo để đối phó với nguy cơ đe dọa của cúm gia cầm. Những hành động này nhằm củng cố chuẩn bị ở mức quốc gia, giảm các nguy cơ xuất hiện virut cúm toàn cầu, cải thiện hệ thống cảnh báo, làm chậm nguy cơ lan bệnh giữa các nước, và triển khai nhanh vắcxin.

Thế giới đã chuẩn bị đầy đủ chưa?

Chưa. Thế giới chuẩn bị rất kém để bảo vệ chính mình khỏi một đại dịch toàn cầu mặc dù đã có cảnh báo trước hai năm. Rất nhiều quốc gia đã chuẩn bị những kế hoạch nhưng rất nhiều quốc gia khác không có. Ngày 11 tháng 2 năm 2005, HHS đã đưa ra một kế hoạch nội địa chi tiết cuối cùng cho Hoa Kỳ (xem www.pandemiflu.gov).

Những gì đang được làm ở những quốc gia có ca bệnh cúm gia cầm?

Hầu hết các nước đang hợp tác với WHO/OIE/FAO để cố gắng giám sát đúng và báo cáo có chọn lọc với số lượng lớn các gia cầm bị nhiễm bệnh và phơi nhiễm (gà, vịt, gà tây). Những nước có ca bệnh cúm gia cầm trên người đang cố gắng cách ly và kiểm dịch (hầu hết cho nhập viện) các trường hợp nhiễm bệnh và có khả năng bị nhiễm bệnh. Họ đang gửi các mẫu xét nghiệm tới các phòng thí nghiệm tham khảo để xác nhận nhiễm khuẩn H5N1. Họ đang sử dụng điều trị chống virut và trị liệu hồi sức tích cực tại bệnh viện như được chỉ dẫn và theo năng lực sẵn có của mình.

Tôi quyết định như thế nào nếu thành viên gia đình hoặc chính tôi có thể bị cúm gia cầm?

Hỏi những câu hỏi có bản chất dịch tễ học: bạn có sống ở một quốc gia có cúm gia cầm lưu hành không? Ở gia cầm? Ở người? Bạn có tới một vùng nơi đã có báo cáo có cúm gia cầm không? Bạn có tới nơi nào nuôi gia cầm ngoài trời hoặc gia cầm nhập khẩu không? Bạn có phơi nhiễm với người bị bệnh không? Gần đây bạn có vặt lông, chơi với hoặc chuẩn bị (xả thịt) loại gia cầm nào không? Bạn có ăn thịt gà sống, chưa được nấu chín kỹ hoặc những món ăn lạ làm bằng các sản phẩm gia cầm sống như tiết canh vịt bao giờ chưa?

Hỏi những câu hỏi về triệu chứng bệnh của bạn: Ho do viêm đường hô hấp, khó thở, sổ mũi, sốt, đau họng, nghẹt mũi, viêm kết mạc, đau bụng, tiêu chảy nước, nôn, chảy máu cam, chảy máu lợi?

Nếu câu trả lời cho bất kỳ câu hỏi nào trong số những câu này là “có”, đề nghị nhân viên y tế theo dõi sức khỏe bạn và bàn luận về các triệu chứng bệnh thay vì đi làm bình thường.
Có xét nghiệm nào để chẩn đoán cúm gia cầm không?

Một số cơ sở y tế ở một số quốc gia đã có những bộ thử về cúm theo mùa. Những bộ thử này có các độ nhạy khác nhau nhưng có thể giúp xác định liệu bạn có bị cúm “A” hoặc “B” không. Nếu xét nghiệm “A” là dương tính và những triệu chứng và thông tin dịch tễ học khác gợi ý khả năng của cúm gia cầm, những thử nghiệm khác có thể cần để chuyển đến một phòng thí nghiệm khác hiện đại hơn để làm chẩn đoán xác định chủng virut cúm. Đây là một xét nghiệm phức tạp có thể đòi hỏi vài ngày để hoàn thành. Có những thử nghiệm máu cơ bản khác mà người chăm sóc sức khỏe cho bạn có thể muốn thực hiện. Nếu những chuỗi thông tin dịch tễ học, triệu chứng, khám sức khỏe và thử nghiệm lâm sàng gợi ý đến cúm gia cầm bạn cần bắt đầu được điều trị.

Những cảnh báo nào tôi cần theo nếu sống trong một vùng có cúm gia cầm?

Tránh tiếp xúc với chim, gà, vịt, gà tây và ngỗng còn sống và phân, lông và chuồng trại của chúng. Trẻ em, đặc biệt cần được cảnh báo và bắt buộc phải theo chỉ bảo. Không nên giữ chim cảnh. Nếu nấu gia cầm, phải nấu chín kỹ trước khi ăn. Tránh lây nhiễm chéo với các thức ăn khác bằng cách sử dụng đồ dùng nhà bếp khác và các bề mặt tiếp xúc với thịt gia cầm sống. Rửa sạch tay bằng xà phòng và nước sau khi tiếp xúc với thịt gia cầm. Phải chắc chắn, nếu có thể, là gia cầm không sống gần nhà bạn. Không vận chuyển gia cầm sống hoặc chết thậm chí khi chúng nhìn bề ngoài vẫn khỏe mạnh. Tránh các sản phẩm gia cầm từ các vùng có gia cầm nhiễm bệnh. Nếu bạn phải đi đến vùng nhiễm bệnh, rửa sạch tay và giày và giặt sạch quần áo là cần thiết làm ngay. Phải nhớ đeo găng, đeo khẩu trang N-95, kính bảo hộ và áo choàng mặc một lần nếu bạn phải tiếp xúc với chim/ gia cầm. Tự theo dõi các phát triển các triệu chứng đường hô hấp và tiêu hóa sau chuyến đi và cặp nhiệt độ một tuần sau đó.

Nếu tôi sống ở một vùng bị nhiễm khuẩn, đang ăn gia cầm và trứng an toàn và tôi có thể nấu các thức ăn này an toàn?

Ngoài những điều được nêu trên, không ăn trứng sống hoặc trứng trần hoặc sử dụng dưới dạng tươi sống khi chế biến thức ăn. Nấu tất cả các loại thịt gia cầm cho kỹ dùng một nhiệt kế nấu ăn để đảm bảo thịt gia cầm đã được nấu ở 180 độ Fahrenheit. Trứng cần phải nấu chín kỹ không có lòng đào. Trứng, tay, dao, thớt và tất cả các bề mặt tiếp xúc cần được rửa bằng nước xà phòng và vệ sinh bằngmột thìa dung dịch thuốc tẩy chlorine trong một phần tư lít nước. http://www.fsis.usda.gov.

lên đầu trang ^

Công cụ:

Printer_icon.gif In trang này



 

    Trang Web này được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ quản lý.
    Chúng tôi không chịu trách nhiệm về nội dung và tính bảo mật thông tin của các trang Web khác được liên kết đến.


Đại sứ quán Hoa Kỳ