Skip Global Navigation to Main Content
Skip Breadcrumb Navigation
Kinh tế và thương mại

CÁI GIÁ PHẢI TRẢ CỦA CHỦ NGHĨA BẢO HỘ MẬU DỊCH

Tạp chí Điện tử của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 1/2007

Chủ nghĩa bảo hộ và chính trị

Bruce Stokes

    Chủ nghĩa bảo hộ đã có một lịch sử tồn tại khá dài. Trước những áp lực chính trị, các chính phủ ở cả quốc gia phát triển và đang phát triển đã phải bảo hộ ngành dệt may, sản xuất ô tô, nông nghiệp và các nhà sản xuất khác trước làn sóng nhập khẩu. Ở nhiều nơi, người nông dân mặc dù chỉ chiếm số ít nhưng lại được nhận trợ cấp bảo hộ, bởi lẽ họ nắm trong tay sức mạnh của những lá phiếu bầu cử. Do bảo hộ mang tính chính trị nên các giải pháp cũng phải mang tính chính trị.

    Bruce Stokes là cây bút phụ trách chuyên mục kinh tế quốc tế cho tờ National Journal.


Chủ nghĩa bảo hộ - những biện pháp của chính phủ nhằm bảo vệ các nhà sản xuất trong nước trước sự cạnh tranh với nước ngoài - có nguồn gốc sâu xa trong chính trị của các quốc gia trên thế giới. Chủ nghĩa bảo hộ vừa là sản phẩm của những nhóm lợi ích đặc biệt vừa phản ánh mối lo ngại chung của xã hội trước những thay đổi. Tuy vậy, chủ nghĩa bảo hộ cũng đi liền với cái giá phải trả rất lớn về kinh tế.

Việc chống lại tự do hóa thương mại cũng như căn nguyên chính trị của nó hầu như không phải là chuyện mới. Trong nửa đầu thế kỷ 19, Anh Quốc đã áp đặt thuế quan nhập khẩu để “bảo hộ” cho người nông dân và điền chủ Anh Quốc trước sự cạnh tranh của hàng ngũ cốc nhập khẩu rất rẻ từ nước ngoài. Song mức thuế quan nhập khẩu đó đã làm tăng giá thực phẩm ở các thành phố ở Anh Quốc, buộc tư bản công nghiệp miễn cưỡng phải trả lương cao hơn để công nhân có đủ tiền mua lương thực. Năm 1846, sau một cuộc đấu tranh lâu dài tại Quốc hội, các Đạo luật Bảo hộ sản xuất ngô (Corn Laws) đã bị bãi bỏ, nhờ đó đã cởi trói và mở đường cho sự vươn lên về chính trị của tầng lớp trung lưu mới ở Anh Quốc.

Các cuộc đấu tranh tương tự như vậy về thuế quan cũng trở thành vấn đề nổi cộm trong nền chính trị Hoa Kỳ trong một thời gian dài ở thế kỷ XIX. Vào đêm trước của cuộc Nội chiến ở Hoa Kỳ (1861-1865), các tiểu bang công nghiệp ở miền Bắc đã chủ trương dựng lên hàng rào thuế quan thật cao để bảo vệ ngành công nghiệp chế tạo của họ trước sự cạnh tranh từ châu Âu. Các tiểu bang miền Nam thì chủ trương áp dụng thuế quan thấp vì họ nhập khẩu rất nhiều hàng hóa tiêu dùng, từ vải lanh tới máy móc nông nghiệp. Chúng ta có thể thấy tầm quan trọng của vấn đề này như thế nào qua sự kiện sau: khi Jefferson Davis, chủ tịch của phe chủ trương ly khai khỏi Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, đọc diễn văn nhậm chức vào năm 1861, ông đã dành phần lớn thời gian trong bài phát biểu của mình để nói về việc cần áp dụng mức thuế quan nhập khẩu thấp, chứ không nói về chế độ nô lệ.

Chỉ sau đó 3/4 thế kỷ, chủ nghĩa bảo hộ mang tính chính trị đã trở thành phản ứng trên khắp nơi trên thế giới trước cuộc Đại Suy thoái. Trong chiến dịch tranh cử tổng thống Hoa Kỳ năm 1928, ứng cử viên của Đảng Cộng hòa Herbert Hoover đã cam kết tăng thuế quan đối với hàng nông sản nhập khẩu vào Hoa Kỳ để hỗ trợ cho người nông dân Hoa Kỳ sau khi giá cả hàng hóa giảm đi liên tục trong nhiều năm. Ngay khi dự luật mà Hoover đã hứa với cử tri bắt đầu được trình lên Quốc hội, các nhóm lợi ích của ngành công nghiệp đã bổ sung thêm các biện pháp bảo hộ bằng thuế quan.

Kết quả là Đạo luật Thuế quan Smoot-Hawley ban hành tháng 6/1930 đã nâng thuế quan của Hoa Kỳ cao tới mức kỷ lục trong lịch sử. Thuế quan mang tính trả đũa của nước ngoài cũng đã khiến thương mại toàn cầu suy giảm. Đến năm 1934, kim ngạch thương mại thế giới chỉ còn bằng 1/3 so với năm 1929.

Dệt may

Trong thế giới hiện đại ngày nay, nhờ các cuộc đàm phán thương mại toàn cầu nhằm cắt giảm thuế quan suốt nửa thế kỷ qua, bảo hộ ít mang tính cực đoan hơn nhiều. Tuy vậy, tính chất chính trị của nó thì không hề thuyên giảm. Các nhóm lợi ích của ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ vẫn chống lại tự do hóa thị trường vì họ phải bảo vệ vị trí áp đảo ở thị trường trong nước của mình, đồng thời lo sợ trước nguy cơ giảm giá và những đổi mới công nghệ từ phía đối thủ cạnh tranh nước ngoài.

Đến tận thời gian gần đây, việc bảo hộ ngành dệt may ở khắp nơi trên thế giới vẫn là một ví dụ kinh điển về việc các nhóm lợi ích tự bảo vệ mình trước hàng nhập khẩu. Các biện pháp bảo hộ thương mại với hàng dệt may lần đầu tiên được áp dụng vào thập niên 1950 khi các quốc gia đang phát triển bắt đầu cạnh tranh với các nhà sản xuất ở châu Âu và Hoa Kỳ. Hiệp định đa sợi đa phương được ký năm 1974 đã đề ra các mức thuế quan và hạn ngạch nhập khẩu cụ thể với từng mặt hàng trong lĩnh vực dệt may. Hình thức bảo hộ như vậy đã khiến người tiêu dùng Hoa Kỳ mỗi năm phải mất hơn 20 tỷ đô-la vì phải mua áo sơ mi, quần và đồ lót với giá cao hơn. Theo ước tính của Ngân hàng Thế giới, cứ giữ được một công ăn việc làm ở Hoa Kỳ hay ở châu Âu thì các biện pháp hạn chế nhập khẩu như vậy đã làm mất đi công ăn việc làm của 35 công nhân ở các nước nghèo hơn.

Tuy nhiên, do ảnh hưởng chính trị của các nhà sản xuất và công đoàn đại diện cho công nhân ngành dệt may ở Hoa Kỳ và châu Âu nên những biện pháp bảo hộ như vậy vẫn tồn tại cho đến năm 1993 khi các nước giàu cuối cùng nhất trí dỡ bỏ. Song người ta cũng phải mất 10 năm mới loại bỏ được các biện pháp bảo hộ này. Do vậy, phải đến tận năm 2005 - hơn nửa thế kỷ từ khi bắt đầu bảo hộ - thương mại trong lĩnh vực dệt may cuối cùng đã được tự do hóa. Tuy vậy, cho đến nay, việc buôn bán dệt may vẫn phải đối mặt với các loại thuế quan rất cao.

Bảo hộ các nhà sản xuất xe hơi

Bảo hộ cũng có thể ảnh hưởng tới những sản phẩm có giá trị cao hơn như xe hơi - một ngành công nghiệp vốn đã từng nhiều lần được các nhóm lợi ích chính trị hùng mạnh ở Nhật Bản, Hàn Quốc và Hoa Kỳ bảo hộ.

Vào thập niên 1970 và 1980, ngành sản xuất xe hơi ở Hoa Kỳ phải đối mặt với thách thức lớn đầu tiên từ cạnh tranh với nước ngoài khi các hãng sản xuất xe hơi của Nhật Bản ráo riết thâm nhập thị trường Hoa Kỳ. Khi thị phần của Nhật Bản trên thị trường Hoa Kỳ tăng lên, ba đại gia của làng sản xuất xe hơi Hoa Kỳ - Ford, Chrysler và General Motors - đã vận động chính quyền liên bang áp đặt hạn ngạch với số xe hơi Nhật Bản có thể xuất sang Hoa Kỳ. Năm 1981, Chính quyền Reagan đã nhất trí áp đặt các biện pháp bảo hộ như vậy bất chấp Tổng thống Reagan đi theo triết lý thị trường tự do, với lý do ngành sản xuất xe hơi và phụ tùng xe hơi tạo nhiều công ăn việc làm ở Hoa Kỳ. Hơn nữa, công ăn việc làm chủ yếu tập trung ở một số tiểu bang có vị trí cốt yếu về chính trị - Michigan, Ohio và Illinois - vốn có ảnh hưởng rất lớn trong các kỳ bầu cử Quốc hội và bầu cử tổng thống.

Biện pháp hạn chế nhập khẩu hàng năm như vậy đã lợi bất cập hại vì nó khuyến khích các hãng sản xuất xe hơi Nhật Bản thay đổi chủng loại xe xuất khẩu sang Hoa Kỳ. Họ xuất sang Hoa Kỳ nhiều mẫu xe hạng sang hơn vì thu được lợi nhuận cao nhất, đồng thời giảm lượng xuất khẩu xe cỡ nhỏ và rẻ tiền hơn. Người ta ước tính ở thời kỳ đỉnh cao đầu thập niên 1980, biện pháp hạn ngạch mỗi năm đã giúp cho các hãng sản xuất xe hơi Nhật Bản kiếm thêm được 5 tỷ đô-la bởi lẽ người Nhật đã bán lượng xe nằm trong hạn ngạch với giá cao hơn. Mặc dù có biện pháp bảo hộ như vậy, ngành sản xuất xe hơi Hoa Kỳ tiếp tục mất thị phần trước các hãng xe Nhật Bản, chỉ đơn giản vì Toyota, Nissan và Honda đã lách được rào cản thương mại và bắt đầu sản xuất xe hơi ngay tại Hoa Kỳ.

Hoa Kỳ không phải là nước duy nhất áp dụng chính sách bảo hộ do có sức ép về chính trị. Ví dụ năm 2005, ở Hàn Quốc, các hãng sản xuất xe hơi nước ngoài từ Nhật Bản, châu Âu và Hoa Kỳ chỉ bán được 30.000 xe hơi, chỉ chiếm 3,3% thị trường Hàn Quốc. Cũng trong năm đó, các hãng xe hơi Hàn Quốc bán hơn 1,5 triệu xe ở nước ngoài. Tổng mức thuế và thuế quan nhập khẩu 8% tính theo dung tích động cơ đã khiến cho mỗi chiếc xe nhập khẩu trị giá 30.000 đô-la bị tăng thêm 9.000 đô-la nữa. Hơn nữa, thời gian gần đây, chính phủ Hàn Quốc lại kiểm toán lợi nhuận thuế của bất kỳ ai mua xe hơi nhập khẩu - rõ ràng đây là cách cản trở việc mua xe có thương hiệu của nước ngoài.

Cán cân lực lượng mất cân đối giữa các cử tri

Khả năng gây ảnh hưởng tới chính sách thương mại của các nhóm lợi ích và liệu họ có thể tiếp tục duy trì được những ảnh hưởng như vậy hay không có thể được lý giải rõ nhất qua hệ thống thể chế ban hành cách chính sách thương mại như vậy, tương quan lực lượng kinh tế-chính trị luôn thay đổi cũng như dư luận về các vấn đề thương mại trên khắp thế giới. Các nhóm lợi ích đặc biệt thường thao túng hệ thống chính trị vì họ phản ánh thực tế kinh tế và chính trị không còn đúng trên thực tiễn.

Ở Hoa Kỳ, các hạ nghị sỹ đại diện cho cử tri. Mỗi hạ nghị sỹ đại diện cho khoảng 650.000 cử tri. Các thượng nghị sỹ lại đại diện cho tiểu bang. Mỗi tiểu bang có hai thượng nghị sỹ, cho dù quy mô dân số có lớn đến đâu. Cơ chế đó phản ánh sự dàn xếp có từ thế kỷ XVIII khi Hiến pháp Hoa Kỳ được soạn thảo nhằm dung hòa lợi ích của các tiểu bang nhỏ và lớn. Ở thế kỷ XXI, cơ chế này lại đem lại cho các nhóm lợi ích trong ngành nông nghiệp có ảnh hưởng rất lớn trong Thượng viện Hoa Kỳ, do đó càng gia tăng ủng hộ trợ cấp nông nghiệp ở Hoa Kỳ. Điều đó có thể bóp méo thương mại.

Song Hoa Kỳ không phải là quốc gia duy nhất có hệ thống thể chế thiên vị chủ nghĩa bảo hộ như vậy. Mặc dù nông dân chỉ chiếm chưa đầy 4% toàn bộ cử tri ở Pháp, song tỷ lệ nông dân đi bỏ phiếu cao sẽ giúp họ chiếm tới 8% số phiếu trong các cuộc tổng tuyển cử. Hệ thống bầu cử ở Pháp cũng cho phép nông dân có cơ hội rất dễ dàng để trở thành các quan chức dân bầu. Hơn 1/3 số thị trưởng ở Pháp là nông dân vẫn còn gắn bó với đồng ruộng hoặc đã nghỉ hưu. Do các thượng nghị sỹ ở Pháp gián tiếp được bầu qua các hội đồng thành phố nên không có gì ngạc nhiên khi nông dân chiếm vị trí đa số trong Thượng viện của Pháp. Sự mất cân đối giữa tỷ lệ nông dân trong Thượng viện và trong dân số nói chung đã tăng gần gấp đôi trong suốt 40 năm qua.

Tính chất của hệ thống bầu cử tổng thống ở Pháp cũng khiến cho bất kỳ ứng cử viên tổng thống nào khó có thể phớt lờ lợi ích của nông dân. Hệ thống bầu cử phổ thông trực tiếp, cho phép hai ứng viên đạt được số phiếu cao nhất sẽ bước sang vòng hai, giúp cho người nông dân có ảnh hưởng rất lớn tới việc lựa chọn một ứng cử viên bảo thủ vì tuyệt đại đa số nông dân ở Pháp theo các đảng cánh hữu. Ví dụ năm 1988, cứ bốn phiếu bầu dành cho Jacques Chirac - ứng viên bảo thủ đã chiến thắng trong vòng một - thì gần như có một phiếu của nông dân. Không có gì đáng ngạc nhiên khi Chirac thường bị gọi là “tay sai” của hệ thống nông nghiệp có tổ chức.

Những nét riêng biệt như vậy trong hệ thống chính trị của Pháp cho phép các ngành công nghiệp hùng mạnh ở các vùng, như dệt may và điện tử, có thể gây sức ép tương tự như vậy. Điều đó góp phần làm cho Patronat - hiệp hội thương mại hàng đầu đại diện cho ngành công nghiệp của Pháp - yếu đi và làm “câm lặng” rất hiệu quả những tiếng nói phản đối giới vận động hành lang nông nghiệp và các thế lực đi theo chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch.

Tương tự, tại Quốc hội Hàn Quốc, cử tri ở nông thôn cũng được “đại diện quá mức” với tỷ lệ 3:1. Chính ảnh hưởng to lớn như vậy của cử tri là nông dân đã dẫn tới hàng rào thuế quan rất cao đối với lương thực nhập khẩu, buộc người tiêu dùng Hàn Quốc phải trả giá đắt đỏ nhất thế giới cho những mặt hàng như thịt bò và rau quả.

Tuy nhiên, thực tiễn ở Nhật lại cho thấy những thay đổi trong hệ thống thể chế có thể làm biến đổi chính trị và thúc đẩy xu hướng bảo hộ. Đến tận thập niên 1980, việc phân chia các khu vực cử tri cho Quốc hội Nhật Bản đã phản ánh phân bổ dân số trong những năm sau Chiến tranh Thế giới Thứ hai khi chỉ 1/3 dân số Nhật Bản sống ở các thành phố và 2/3 dân số sống ở nông thôn. Nhưng đến thập niên 1980, 3/4 dân số Nhật Bản sống ở thành phố. Kết quả là số phiếu ở thành thị phải cao gấp năm lần ở nông thôn mới bầu được một nghị sỹ Quốc hội. Sản phẩm của sự ảnh hưởng lớn của nông thôn lớn như vậy là mức thuế quan 700% đối với gạo và ngành nông nghiệp được bảo hộ chặt chẽ nhất thế giới.

Song năm 1994, việc cải tổ bầu cử ở Nhật Bản đã giảm thiểu rất mạnh sự chênh lệch giữa nông thôn và thành thị trong cơ quan lập pháp. Sự thay đổi trong tương quan lực lượng cử tri đã mở đường cho Đảng Dân chủ Tự do - đảng đã chi phối chính trị Nhật Bản sau Chiến tranh Thế giới Thứ hai - tự đổi mới, từ đảng phái có cơ sở hùng mạnh ở nông thôn chuyển sang đại diện cho thành thị và ngoại thành, và đưa ra các ưu tiên chính sách mới. Các khoản trợ cấp của chính phủ Nhật đã được chuyển từ người nông dân sang cư dân thành thị. Mặc dù còn lâu mới là một nền kinh tế mở, song nước này giờ đây đã nhập khẩu hàng hóa nhiều hơn hẳn so với trước đây.

Sự lưỡng lự của công chúng

Khía cạnh chính trị của thương mại cũng chịu sự chi phối bởi thái độ lưỡng lự của công chúng với thương mại quốc tế.

Về nguyên tắc, người dân trên thế giới cho rằng toàn cầu hóa đem lại những điều tốt đẹp cho gia đình và đất nước của họ. Ở 25 trong tổng số 44 quốc gia đã được Dự án Thái độ Toàn cầu (Pew Global Attitudes Project) điều tra năm 2000, đa số trong ít nhất 60% người được điều tra nghĩ rằng toàn cầu hóa là một xu hướng tích cực. Người dân châu Phi sống ở lục địa nghèo nhất thế giới lại là những người lạc quan nhất. Cứ 10 người được điều tra ở Uganda thì có bảy người cho rằng thúc đẩy thương mại quốc tế sẽ đem lại những điều tốt lành cho đất nước họ. Khoảng 2/3 người Nigeria cũng nhất trí như vậy. Trong khi đó, hơn một nửa số người Việt Nam được phỏng vấn - kinh tế Việt Nam có tốc độ tăng trưởng nhanh thứ hai châu Á - đánh giá hội nhập quốc tế là một điều tốt lành.

Một điều tra gần đây hơn do Quỹ Marshall của Đức tiến hành đã phát hiện thấy thái độ lưỡng lự về thương mại ở châu Âu và Hoa Kỳ. Năm 2006, cứ 10 người Mỹ thì có bảy người ủng hộ thương mại quốc tế, tăng lên so với tỉ lệ 2/3 vào năm 2005. Ở châu Âu, thậm chí còn có nhiều người hơn - cứ bốn người thì có ba người - ủng hộ thương mại, tăng từ mức 2/3. Nhưng hơn một nửa dân Pháp và khoảng 1/3 người Mỹ lại không ủng hộ thúc đẩy tự do thương mại. Khoảng một nửa dân Đức và 3/5 số người Mỹ và Pháp cho rằng thúc đẩy tự do thương mại làm mất đi nhiều hơn là tạo ra công ăn việc làm.

Xét một cách tổng thể, dường như người Mỹ và người Pháp về lý thuyết thì ủng hộ tự do thương mại nhưng trên thực tế lại ủng hộ chủ nghĩa bảo hộ. Họ cũng nhất trí cho rằng tự do hóa thương mại là một khái niệm mang tính triết lý và cũng ủng hộ thuế quan đối với thép nhập khẩu nếu mức thuế quan như vậy sẽ bảo vệ được công ăn việc làm trong nước.

Bi kịch của chủ nghĩa bảo hộ chính là cái giá phải trả về kinh tế đối với nền kinh tế của các quốc gia, nhất là các nước nghèo. Các nghiên cứu gần đây của Ngân hàng Thế giới kết luận rằng việc dỡ bỏ các rào cản mang tính bảo hộ ở các nước đang phát triển đã thúc đẩy mức tăng trưởng từ 1,2% đến 2,6%. Hơn nữa, tự do hóa thương mại cũng gắn liền với việc thúc đẩy đầu tư và xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ.

Bất chấp những lợi ích kinh tế như vậy, song căn nguyên chính trị của chủ nghĩa bảo hộ và lịch sử tồn tại lâu dài của nó lại cho thấy các rào cản thương mại sẽ vẫn là một trở ngại đối với sự thịnh vượng kinh tế trong tương lai, và chủ nghĩa bảo hộ cần phải được giải quyết từ góc độ chính trị nếu chúng ta thực sự muốn dỡ bỏ các rào cản như vậy.

Các quan điểm trình bày trong bài viết này không nhất thiết phản ánh quan điểm hay chính sách của Chính phủ Hoa Kỳ.