Tư liệu dịch: Kinh tế và thương mại
CÁI GIÁ PHẢI TRẢ CỦA CHỦ NGHĨA BẢO HỘ MẬU DỊCH
Tạp chí Điện tử của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 1/2007
TRẤN AN MỐI QUAN NGẠI CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG VỀ TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI
David H. Feldman
Mặc dù nền kinh tế toàn cầu đang ngày càng được mở rộng, người lao động và các chính phủ đại diện cho họ vẫn đang bày tỏ mối lo ngại ngày càng lớn về tự do hóa thương mại. Phần lớn những thay đổi về chỗ làm dẫn tới việc mất công ăn việc làm đều là do những tiến bộ về công nghệ, nhưng lượng hàng hóa nhập khẩu ngày càng tăng đang là đối tượng bị chỉ trích nhiều nhất. Chủ nghĩa bảo hộ là một cách đối phó sai lầm. Các giải pháp tốt hơn đã được đề xuất cho chính phủ nhằm hóa giải nỗi lo lắng đó cho người lao động.
David H. Feldman là Giáo sư Kinh tế trường Đại học William và Mary tại Williamsburg, bang Virginia.
Pascal Lamy, Tổng Giám đốc của Tổ chức Thương mại Thế giới đã kêu gọi cộng đồng quốc tế hãy khởi động lại vòng đàm phán Đôha hiện đang rơi vào bế tắc, vì ông lo ngại rằng thất bại của vòng đàm phán này có thể sẽ đe dọa các nguyên tắc cơ bản của thể chế thương mại đa biên. Khó khăn thực chất không chỉ dừng lại ở những vấn đề cụ thể trên bàn đàm phán ở Đôha. Tại các nước phát triển và đang phát triển, ngày càng có nhiều tranh cãi xung quanh ý kiến cho rằng hội nhập kinh tế toàn cầu đem lại lợi ích xã hội. Kết quả là nhiều quốc gia ngày càng coi việc sử dụng các tập quán mang tính phân biệt đối xử và bóp méo thương mại là những công cụ chính sách có thể được áp dụng trong một số trường hợp cần thiết.
Các hành vi chống bán phá giá, các mức thuế và hạn ngạch tạm thời nhằm đối phó với làn sóng nhập khẩu đang dâng cao, với các hình thức trợ cấp sản xuất và các điều luật bóp méo thương mại là hoàn toàn dễ hiểu khi mức tăng trưởng kinh tế đang trì trệ. Nếu một nền kinh tế đang tăng trưởng không thể tạo ra các cơ hội thuận lợi để các ngành công nghiệp khác có thể hấp thụ lao động một cách nhanh chóng, thì các nhượng bộ thương mại và các cú sốc kinh tế (hoặc cả hai) sẽ gây thiệt hại cho các ngành công nghiệp cạnh tranh với hàng nhập khẩu, đặc biệt là đối với những người lao động có kỹ năng và kinh nghiệm ràng buộc với công việc hiện tại của họ. Các chính sách như vậy có thể được sử dụng để giữ nguyên tình trạng như hiện nay.
Sự thu hẹp nhanh chóng trong bất kỳ một khu vực quan trọng nào của nền kinh tế cũng kéo theo những thiệt hại về chính trị. Nhưng trong kỷ nguyên tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ toàn cầu, thì việc đổ vỡ niềm tin trên các thị trường mở có tính toàn cầu và việc các nguyên tắc thương mại đa biên đang bị xói mòn là điều đáng ngạc nhiên. Câu trả lời cho vấn đề hóc búa này nằm trong sự thay đổi chóng mặt của khoa học công nghệ.
Tiến bộ khoa học công nghệ và nỗi lo mất việc làm
Từ hơn 60 năm nay, chúng ta đã có những tiến bộ khoa học công nghệ tiết kiệm sức lao động trong sản xuất. Tại hầu hết các nước phát triển, từ năm 1950, tốc độ tăng năng suất đã đạt mức trung bình từ 3% đến 5% mỗi năm. Đồng thời, số việc làm trong ngành chế tạo tăng lên rất ít, thậm chí hiện đang có xu hướng giảm đi. Điều này làm giảm tỷ lệ việc làm trong các ngành công nghiệp và làm tăng tỷ lệ việc làm trong lĩnh vực dịch vụ.
Bên cạnh đó, chi phí vận tải toàn cầu giảm mạnh góp phần làm tăng tỷ lệ của những sản phảm được chế tạo, vì những sản phẩm đầu ra này được trao đổi buôn bán trên khắp thế giới. Mới đây, việc thuê ngoài trong lĩnh vực dịch vụ đã khiến các công ty tại nhiều quốc gia phải tái cơ cấu phương thức kinh doanh của mình.
Những thay đổi về cơ cấu cũng diễn ra nhanh chóng không kém tại các nước đang phát triển, do các thành phố ngày càng được mở rộng và nền nông nghiệp truyền thống cùng với các ngành nghề thủ công quy mô nhỏ hiện đang phải thực hiện chuyên môn hóa cao hơn để đáp ứng được những đòi hỏi của thị trường quốc tế.
Tất cả những thay đổi lớn lao này đồng nghĩa với việc sẽ có nhiều khu vực trong nền kinh tế cảm thấy bị đe dọa bởi sự cạnh tranh quốc tế đang hiện hữu hoặc vẫn còn tiềm ẩn, và mối lo ngại này trở thành mối lo chung của tất cả các quốc gia dù chúng ở mức độ phát triển kinh tế nào đi chăng nữa.
Vấn đề thứ hai có liên quan là mối lo ngại rằng hoạt động thương mại tăng lên giữa các vùng có trình độ phát triển khác nhau là nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng thu nhập bất bình đẳng ở Hoa Kỳ và tỷ lệ thất nghiệp cao ở châu Âu. Như Giáo sư Paul Krugman - Đại học Princeton và các giáo sư khác đã nhận định, nguyên nhân có thể là do nhu cầu nội địa về lao động kỹ năng thấp đã giảm mạnh, lý do là vì các thay đổi công nghệ kéo theo nhu cầu sử dụng các lao động bậc cao. Hội nhập kinh tế quốc tế có thể chỉ gây ra một vài ảnh hưởng không đáng kể tới thời gian diễn ra các thay đổi trên thị trường lao động nhưng có thể nhận thấy rõ những ảnh hưởng này trong bất kỳ trường hợp nào.
Tuy nhiên, mối lo chung về nguy cơ mất việc làm một phần bắt nguồn từ tự do hóa thương mại, vì sự thay đổi chỗ làm thường gây ra chi phí cho các ngành công nghiệp đang phải đối mặt với cạnh tranh mạnh mẽ từ hàng hóa nhập khẩu. Và các chính phủ không nên giải quyết vấn đề bất ổn việc làm bằng cách từ bỏ các nguyên tắc cam kết mở cửa thị trường hay bằng cách tăng cường các hình thức bảo hộ hành chính và các chính sách khác nhằm tạo đặc quyền cho các công ty trong nước hoặc cho một số lĩnh vực trong nền kinh tế.
Các vấn đề nảy sinh cùng với giải pháp theo chủ nghĩa bảo hộ
Cạnh tranh lớn nhất trong bất kỳ quốc gia nào không phải là cạnh tranh giữa các công ty trong nước với các đối thủ nước ngoài mà là cạnh tranh giữa các công ty trong nước với nhau nhằm tranh giành nguồn vốn và lao động khan hiếm trên “sân nhà”. Các rào cản thương mại và các khoản trợ cấp có thể làm tăng sản lượng đầu ra, tăng việc làm cho người lao động và mang lại mức lợi nhuận cao hơn cho một số ngành công nghiệp trong nước, nhưng họ đạt được điều đó bằng cách gây bất lợi cho các công ty nội địa khác không được trợ cấp hay được bảo hộ. Và nếu nguồn lợi nhuận trong các ngành công nghiệp được chính phủ ưu đãi là giá trong nước cao hơn chứ không phải là nhờ năng suất cao hơn, thì khoản lợi nhuận này chẳng qua chính là thu nhập bị mất đi của một số người khác trong quốc gia này. Do đó, khoản lợi nhuận này không làm tăng thu nhập quốc dân.
Các chính sách này gây thiệt hại cho người tiêu dùng trong nước cũng như cho các công ty sử dụng nguyên liệu nhập khẩu, và đem lại lợi ích cho các nhà sản xuất có những mối quan hệ chính trị rộng chuyên sản xuất những sản phẩm cạnh tranh với hàng nhập khẩu. Vì các chính sách bảo hộ thường không rõ ràng và tiến trình thực hiện thường cũng không công khai nên những công ty này luôn có điều kiện thuận lợi để tiến hành các cuộc vận động hành lang phục vụ lợi ích riêng của họ. Xét về phúc lợi xã hội, việc tìm mọi cách để làm tăng lợi nhuận của các ngành công nghiệp năng suất thấp thường kéo theo tái phân phối thu nhập, làm giảm thu nhập của những người nghèo nhất trong xã hội và đẩy các nguồn lực khan hiếm ra khỏi các khu vực kinh tế có khả năng tạo ra mức độ tăng trưởng kinh tế cao.
Một ưu điểm của mở cửa thương mại là mức giá thế giới thường cung cấp thông tin chính xác về mức độ khan hiếm hơn là các mức giá đã bị bóp méo dưới áp lực của một nhóm lợi ích. Giá thế giới khích lệ người tiêu dùng trong nước và các công ty sử dụng các nguồn lực nhằm tối đa hóa giá trị thu nhập quốc dân. Các công ty và người tiêu dùng trong các nền kinh tế mở thường có nhiều lựa chọn hơn để tiêu dùng các hàng hóa chất lượng cao với mức giá rẻ. Những nền kinh tế này thường có tốc độ phổ biến công nghệ nhanh hơn nếu công nghệ đi kèm với các đầu vào nhập khẩu hoặc với đầu tư nước ngoài.
Một ưu điểm khác của mở cửa thương mại là nó làm giảm quyền lực thị trường mà các ngành công nghiệp nội địa tập trung có trong tay và có quyền tự tung tự tác trên thị trường nội địa. Mở cửa thương mại là một chính sách cạnh tranh rất có hiệu quả. Điều này đặc biệt đúng với các nền kinh tế nhỏ đang phát triển, trong đó, nhiều ngành công nghiệp nội địa chỉ có một hoặc hai công ty lớn.
Đối phó bằng cách nào là tốt nhất?
Tại các quốc gia có khu vực kinh tế công phát triển tốt, vấn đề ổn định việc làm cho người lao động có thể được giải quyết bằng cách tiến hành một số chương trình mục tiêu. Các công cụ cổ điển là hỗ trợ điều chỉnh thương mại mở rộng (TAA), trong đó các khoản tiền được dùng để tái đào tạo những lao động bị sa thải do tự do hóa thương mại, khiến cho các thỏa thuận thương mại trở nên dễ chấp nhận hơn đối với những người có tư tưởng hoài nghi. Rất tiếc là hệ thống TAA lại rất phức tạp về mặt hành chính và không phải lúc nào cũng đến được với những người lao động cần trợ giúp nhất hoặc với những người phải chịu những tác động tiêu cực nhất của thương mại tự do. Các chương trình tỏ ra phù hợp hơn cả là những chương trình giải quyết trực tiếp được những nguyên nhân gây ra nỗi lo âu cho người lao động, đồng thời phục vụ được nhiều đối tượng hơn.
Trong bản nghiên cứu chính sách về kinh tế quốc tế của Học viện Peterson, Lori Kletzer - viện sĩ của Học viện Peterson và Robert Litan - Viện sĩ của Học viện Brookings đã nhắc đến một mạng lưới an toàn cho tất cả các lao động mất việc làm. Hai nội dung chính trong đề xuất này là bảo hiểm tiền lương và trợ cấp cho bảo hiểm y tế đối với lao động có kỹ năng đang trong thời gian tìm kiếm việc làm mới sau khi mất việc. Những luận cứ của hai viện sĩ này đã tác động trực tiếp tới dư luận Mỹ, ý tưởng về việc chu cấp một khoản bảo hiểm xã hội đã được dân chúng hoan nghênh nhiệt liệt vì nó giải quyết được những gì mà người Mỹ e ngại nhất khi họ mất việc làm. Khoản trợ cấp thất nghiệp hiện nay không đủ để xoa dịu nỗi sợ mất lương trong thời gian tìm kiếm việc làm, và việc chỉ trợ cấp trong thời gian tìm việc làm mới sẽ khiến cho thời gian thất nghiệp thu ngắn hơn và buộc người lao động phải phát triển các kỹ năng mới trong công việc.
Một cách tiếp cận khác đề cập đến việc áp dụng rộng rãi các ưu đãi thuế đối với những người đang trong quá trình tái đào tạo. Các công ty có thể phải dành một khoản chi phí hàng năm để chi trả cho các hình thức đào tạo nhân công có chất lượng, và các cá nhân có thể được khấu trừ thuế hoặc được hưởng các khoản tín dụng để trang trải các khoản chi cho các chương trình tự đào tạo có chất lượng.
Tại nhiều nước đang phát triển, tính hiệu quả trong lĩnh vực kinh tế công tỏ ra thấp hơn nhiều, và rõ ràng là có những ưu tiên của nhà nước hơn là thực hiện các chính sách công nghiệp hay quản lý thương mại. Một ưu tiên dạng này là xây dựng một cấu trúc thuế với những mã thuế rõ ràng được cưỡng chế thực hiện bởi các bộ máy tư pháp độc lập và công bằng, làm sao để thu thuế một cách công bằng và hiệu quả. Thêm vào đó, việc mở rộng phạm vi thuế cũng cho phép chính phủ thu được nhiều ngân sách từ thuế hơn trong khi giảm các mức thuế cao xuống - kể cả mức thuế cao đối với thu nhập và hàng hóa nhập khẩu vốn thường gây ra hiện tượng trốn thuế và tham nhũng của công.
Một cơ sở thu ngân sách ổn định và vững mạnh có thể cho phép chính phủ tại các nền kinh tế đang phát triển hoàn tất những công việc mà họ phải làm. Thanh niên cần một khung giáo dục tiên tiến, đặc biệt là tại cấp trung học cơ sở. Lợi thế so sánh là một mục tiêu động và với những thay đổi nhanh chóng như những năm vừa qua, người lao động sẽ cần đến những kỹ năng có thể chuyển đổi - những kỹ năng cho phép họ làm việc được trong nhiều ngành công nghiệp trong suốt thời gian lao động của cuộc đời họ. Dịch vụ chăm sóc y tế căn bản cần phải được mở rộng cho tất cả mọi người, nhằm đảm bảo năng suất lao động của họ và giảm nguy cơ mất việc vì những căn bệnh kinh niên. Và cuối cùng, mọi công dân cần phải được hưởng một mạng lưới an sinh xã hội tối thiểu để nỗi lo mất việc không trở thành nỗi ám ảnh về những thay đổi mà thị trường thế giới mang lại.
Có thể là ông Pascal Lamy đã nói đúng. Có một vài nguy cơ khi vòng đàm phán Đôha thất bại sẽ làm nổ ra một loạt chính sách hướng nội hoặc thậm chí là các chiến lược “ăn xin người hàng xóm”, ví dụ như phá giá đồng tiền cạnh tranh và tăng các rào cản bảo hộ. Mặt khác, tương lai thực tế của hội nhập kinh tế toàn cầu có thể phụ thuộc ít hơn vào các vòng đàm phán và nhiều hơn vào việc các quốc gia sẽ đối phó như thế nào với nỗi lo ngại về vấn đề việc làm trong nước họ.
Quan điểm của tác giả trong bài báo này không phản ánh quan điểm hay chính sách của Chính phủ Hoa Kỳ.