jump over navigation bar
Embassy SealBộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Đại sứ quán Hoa Kỳ - Hanoi, Vietnam flag graphic
 
Thông tin cập nhật
 
  Các dịch vụ của IRC Dịch vụ Reference Update Tư liệu dịch Kinh tế & Thương mại An ninh khu vực Các vấn đề toàn cầu Báo chí, truyền thông và công nghệ thông tin Chính trị, xã hội và văn hóa Mỹ

Tư liệu dịch: Kinh tế và thương mại

CÁI GIÁ PHẢI TRẢ CỦA CHỦ NGHĨA BẢO HỘ MẬU DỊCH
Tạp chí Điện tử của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 1/2007

TIẾP THU BÀI HỌC ĐÚNG ĐẮN VỀ CHỦ NGHĨA BẢO HỘ
Gary Hufbauer và Costantino Pischedda

Các nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá ở Đông Á đã dùng các chính sách bảo hộ để hồi sinh nền kinh tế của họ. Tuy nhiên, ngày nay, các nước đang phát triển không nên lặp lại lịch sử. Chỉ khi Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan mở cửa thị trường của họ cho hàng hóa nhập khẩu thì nền kinh tế của họ mới thực sự tăng trưởng vững chắc. Việc duy trì các rào cản bảo hộ chỉ làm giảm đi những thành công to lớn này.

Gary Hufbauer là Viện sĩ của Viện Reginald Jones - Học viện Kinh tế quốc tế Peterson tại Washington, D.C. Costantino Pischedda là trợ lý nghiên cứu ở Học viện Peterson.

Sau Chiến tranh Thế giới Thứ hai, Đông Á đã vươn mình từ cảnh nghèo nàn thê thảm để đạt đến sự thịnh vượng thần kỳ. Nhìn lại quá khứ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan thường được mô tả như những chân dung lịch sử minh chứng cho sự thịnh vượng và tăng trưởng kinh tế có được nhờ bảo hộ. Thế nhưng, để đánh giá chính xác hơn thì cần lưu ý rằng cả ba quốc gia này chỉ áp dụng các chính sách bảo hộ trong thập kỷ đầu tiên sau chiến tranh. Nếu bảo hộ là tốt đối với họ thì những người hoài nghi thương mại tự do cũng tự hỏi rằng tại sao các quốc gia nghèo nhất ở châu Phi, châu Á và châu Mỹ La tinh lại không áp dụng cách tiếp cận này trong giai đoạn hiện nay?

Lý thuyết

Về lý thuyết, nên bảo hộ thương mại khi có các thất bại thị trường, mà những thất bại này có thể được điều chỉnh bởi các can thiệp của chính phủ. Sau đây là một vài ví dụ:

Nếu các hoạt động của hãng A khiến cho hãng B được lợi mà không mất chi phí - ví dụ như: tạo ra lực lượng lao động được đào tạo mà hãng B có thể thuê mướn - hãng A có thể sẽ đầu tư rất ít vào đào tạo. Chính phủ trợ cấp nhằm chi trả cho các nỗ lực đào tạo của hãng A và điều này có thể tạo ra lợi ích cho toàn bộ hệ thống sản xuất.

Nếu việc đào tạo qua thực tế làm việc là cốt lõi của thành công thì một hãng chỉ có thể cạnh tranh trên thị trường quốc tế nếu nó thu thập được nhiều kinh nghiệm sản xuất. Tuy nhiên, trong thời gian học hỏi, hãng có thể phải chịu những mất mát về tài chính. Trừ khi các thị trường vốn từ xa cung cấp các khoản tín dụng rộng rãi, để bắt đầu, hãng có thể cần đến sự giúp đỡ của chính phủ.

Hãng A (ví dụ là một công ty xây dựng) chỉ có thể sinh lợi nhuận nếu hãng B (ví dụ là một công ty đường sắt) được thành lập và ngược lại. Chính phủ có thể giúp phối hợp quan hệ kinh doanh của hai hãng này.

Ba ví dụ trên đây mô tả những thất bại thị trường có thể làm thay đổi các can thiệp về chính sách. Tuy nhiên, câu hỏi thực sự là các giải pháp về mặt lý thuyết này liệu có cần thiết và đúng đắn trong thực tế hay không? Sau cùng, sự lạm dụng quá nhiều lý thuyết đã được chỉ ra trong một khía cạnh khác của cuộc tranh luận về chủ nghĩa bảo hộ: lý thuyết về lợi thế so sánh của nhà kinh tế học David Ricardo, sức cạnh tranh đã được minh chứng đối với các nền kinh tế có hiệu suất cao, và mối nguy đã được công nhận rộng rãi về nạn tham nhũng mà chủ nghĩa bảo hộ sẽ gây ra.

Trường hợp Nhật Bản

Trong giai đoạn đầu của công cuộc tái thiết kinh tế, từ khi kết thúc Chiến tranh Thế giới Thứ hai đến cuộc Chiến tranh Triều Tiên (1945-1955), kinh tế Nhật Bản đã tăng trưởng nhanh chóng. Chính phủ bảo hộ các khu vực kinh tế chủ chốt, do đó, một phần các chính sách công nghiệp là nhằm khôi phục các ngành công nghiệp sao cho chúng đạt mức độ phát triển như thời kỳ trước chiến tranh. Chính sách của chính phủ tập trung vào các ngành công nghiệp nặng đã bị phá huỷ nghiêm trọng như ngành thép, hóa chất và các thiết bị vận tải.

Từ trước tới nay, người ta vẫn nghĩ rằng công cuộc tái thiết của Nhật Bản diễn ra thuận lợi là do tài quản lý, trình độ kỹ thuật và tay nghề cao từ thời trước chiến tranh, và mạng lưới công nghiệp vẫn còn nguyên vẹn. Cái mà nước Nhật thiếu là nguồn tiết kiệm nội địa và trao đổi với bên ngoài để tái thiết nguồn vốn cơ sở vật chất, mua đầu vào và công nghệ từ nước ngoài. Can thiệp của chính phủ rõ ràng đã làm tăng nguồn tiết kiệm nội địa và mở đường cho các trao đổi với bên ngoài. Việc hoàn tất các mục tiêu này đã đẩy nhanh, nếu không nói là đã tạo ra, tiến trình hồi phục kinh tế sau chiến tranh.

Trong giai đoạn hai (từ giữa những năm 1950 đến giữa những năm 1980), kinh tế Nhật Bản được tự do hóa dần dần (trừ nông nghiệp), tiếp tục có tốc độ phát triển nhanh, và nước Nhật đã sớm trở thành một cường quốc thế giới đứng đầu về công nghệ. Các hạn chế thương mại đóng vai trò rất nhỏ bé trong những thành công tiếp theo của Nhật Bản. Trên thực tế, trong một ngành công nghiệp dựa trên công nghiệp, các nhà kinh tế có thể chỉ ra mối quan hệ nghịch chiều giữa bảo hộ thực tế với năng lực xuất khẩu ở Nhật Bản.

Tương tự, trong giai đoạn từ năm 1955 đến năm 1990, các nhà kinh tế có thể chỉ ra mối quan hệ ngược chiều giữa tỷ lệ bảo hộ thực tế và những tiến bộ về năng suất. Những nghiên cứu tương tự cũng kết luận rằng giữa tăng năng suất và mức độ nhập khẩu có mối quan hệ tỷ lệ thuận với nhau. Ít nhất là có hai cơ chế chứng minh cho phát hiện này. Nhập khẩu mới và lượng đầu vào trung gian nhập khẩu tăng lên đã làm tăng tính hiệu suất của các hãng nội địa. Ngoài ra, hàng hóa nhập khẩu buộc các hãng nội địa phải tăng cường sức cạnh tranh và trình độ quản lý để nâng cao năng lực của họ. Sự lớn mạnh của nền kinh tế Nhật Bản vẫn tốt như nó vốn có, nhưng còn có thể tốt hơn nếu như chính phủ bảo hộ ít hơn đối với các doanh nghiệp nội địa.

Trường hợp Hàn Quốc

Chiến tranh Triều Tiên (1950-1953) đã tàn phá mùa màng và nhà cửa ở Nam Triều Tiên nhưng những người lao động sống sót đã tiếp tục sử dụng kỹ năng của họ phục vụ cho thời kỳ hậu chiến. Trong thập kỷ sau đó, chính phủ đã duy trì chủ nghĩa bảo hộ, không chỉ bằng cách áp đặt các rào cản thương mại ở mức cao mà còn duy trì một tỷ giá hối đoái quá cao. Bắt đầu vào giữa những năm 1960, các nhà lãnh đạo Nam Triều Tiên đã thực hiện thay đổi chính sách và tiến hành mở cửa với thế giới bên ngoài. Một phối hợp sáng kiến về thương mại, thuế, tín dụng và tỷ giá hối đoái đã khiến cho nền kinh tế Hàn Quốc bắt đầu nghiêng về xuất khẩu.

Trong những năm 1961-1980, sản lượng xuất khẩu thực tế của Hàn Quốc đã tăng gần 24% mỗi năm, trong khi tỷ lệ xuất khẩu đầu ra trong nền kinh tế Hàn Quốc đã tăng từ 5% lên 33%. Trong khi giai đoạn đầu của phát triển công nghiệp chủ yếu diễn ra trong các lĩnh vực tập trung lao động, thì vào đầu những năm 1970, Hàn Quốc đã chuyển sang giai đoạn hai nhằm phát triển các ngành sản xuất tập trung vốn và công nghệ. Hiển nhiên là ngày nay, Hàn Quốc đã trở thành nhà xuất khẩu hàng đầu trên thế giới về hàng điện tử, máy móc, thép và ô tô.

Nhưng những chính sách bảo hộ còn sót lại vẫn đang làm suy giảm năng lực kinh tế của Hàn Quốc. Dữ liệu về 38 ngành công nghiệp Hàn Quốc giai đoạn 1963-1983 đã chỉ ra mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa bảo hộ và tăng năng suất. “Dữ liệu về nền công nghiệp Hàn Quốc đã chỉ ra một sự thật hiển nhiên rằng năng suất sẽ tăng lên nếu chính phủ bớt can thiệp vào các hoạt động thương mại”, nhà kinh tế Jong-Wha Lee thuộc Đại học Hàn Quốc tại Seoul đã nhận xét như vậy. Trên thực tế, những lợi ích cụ thể và rõ ràng trước đây giải thích cho quan điểm bảo hộ của Hàn Quốc tốt hơn là những tính toán về lợi ích kinh tế.

Trường hợp Đài Loan

Công cuộc tái thiết kinh tế của Đài Loan có thể được chia làm hai giai đoạn. Trong giai đoạn đầu, kể từ khi kết thúc Nội chiến Trung Quốc năm 1949 đến cuối những năm 1950, chính phủ Đài Loan đã áp dụng mức thuế cao và các rào cản phi thuế quan khác nhằm hạn chế nhập khẩu và khuyến khích các ngành công nghiệp trong nước lớn mạnh.

Trong giai đoạn hai, giữa những năm 1960 và 1970, các nhà lãnh đạo Đài Loan đã chuyển hướng chính sách mở cửa với bên ngoài, tự do hóa nhập khẩu và điều chỉnh tỷ giá hối đoái. Giới lãnh đạo đã nhận ra rằng chính sách hướng nội làm hạn chế tốc độ tăng trưởng kinh tế của đất nước do thị trường nội địa có quy mô nhỏ hẹp.

Trong thời kỳ thực hiện chính sách mở cửa với bên ngoài, kim ngạch xuất khẩu của Đài Loan tăng với tốc độ rất nhanh. Tỷ lệ xuất khẩu đầu ra trong nền kinh tế Đài Loan đã tăng từ 8,5% trong năm 1952 lên 44,5% trong năm 1976; tỷ lệ hàng xuất khẩu đang ở dưới 8% tổng giá trị xuất khẩu trong năm 1955 lên hơn 91% vào năm 1976.

Trong giai đoạn hai, Đài Loan vẫn duy trì một số rào cản thương mại (đặc biệt quan trọng trong khu vực nông nghiệp), nhưng tàn dư của chủ nghĩa bảo hộ là một sự thỏa hiệp với các nhóm lợi ích đặc biệt, chứ không phải là để góp phần vào tăng trưởng kinh tế. Sự tăng trưởng mà nền kinh tế Đài Loan đạt được không phải là do các biện pháp hạn chế thương mại mang lại. Nhiều nghiên cứu đã kết luận rằng bảo hộ thương mại ở Đài Loan được định hướng bởi các cân nhắc chính trị nhiều hơn là bởi các thất bại thị trường.

Những bài học thu được

Bài học từ kinh nghiệm tái thiết kinh tế sau chiến tranh của Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan là rất rõ ràng: Kỷ nguyên tăng trưởng mạnh mẽ và lâu dài luôn đi đôi với tự do hóa thương mại chứ không phải là với chủ nghĩa bảo hộ. Sau một giai đoạn khởi đầu duy trì chính sách hướng nội, cả ba quốc gia này đều mở cửa kinh tế cho cạnh tranh quốc tế. Làm như vậy, họ đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế hiếm thấy trong lịch sử nhân loại. Các chính sách bảo hộ không thể bị loại trừ hoàn toàn chỉ sau một đêm, và thực tế đã chứng minh rằng những tàn dư của chủ nghĩa bảo hộ sẽ làm suy giảm khả năng tăng trưởng kinh tế vượt bậc của họ.

Những quốc gia vẫn đang trung thành với các rào cản thương mại có thể bao biện rằng sự tăng trưởng của khu vực Đông Á đã bắt đầu từ thời kỳ các nước này duy trì các chính sách bảo hộ. Nếu đó là sự thật thì luận cứ này lại thất bại trong việc phân biệt giữa thời điểm bắt đầu quá trình tăng trưởng và sự tiếp diễn của nó trong những giai đoạn dài. Trong cả ba trường hợp này, quá trình tăng trưởng bắt đầu từ sau chiến tranh phá hoại. Tăng trưởng kinh tế trong các giai đoạn đầu mới chỉ đưa các nền kinh tế Đông Á quay lại mức xuất phát của chúng thời kỳ trước chiến tranh.

Là một người ủng hộ quan điểm tăng trưởng nhờ xuất khẩu, B. Balassa thuộc trường Đại học Johns Hopkins đã ghi nhận vai trò tích cực của hàng hóa thay thế nhập khẩu trong các năm đầu tiên mà Hàn Quốc và Đài Loan đạt được sự tăng trưởng về kinh tế. Tuy nhiên, vai trò tích cực của bảo hộ chỉ giới hạn trong một thời gian ngắn khi mà sản xuất trong nước thay thế cho háng hóa tiêu dùng nhập khẩu từ bên ngoài. Một khi quá trình này đã kết thúc, các nền kinh tế Đông Á cần phải mở cửa với thị trường quốc tế - vừa để có được các đầu vào trung gian và vừa để bán các sản phẩm đầu ra trên một quy mô lớn hơn nhiều. Xét về mức độ tăng trưởng kinh tế bình quân đầu người, những năm thực hiện chính sách mở cửa đã vượt xa những năm thực hiện thay thế nhập khẩu. Ví dụ như trong trường hợp Hàn Quốc, tăng trưởng sản lượng kinh tế bình quân đầu người là 2,2% trong giai đoạn 1955-1965 và 8,2% trong giai đoạn 10 năm sau đó.

Hầu như tất cả các nước đang phát triển đều trải qua một thời gian dài kể từ khi kết thúc giai đoạn thay thế nhập khẩu. Bài học từ kinh nghiệm của các nước Đông Á đối với các nước đang phát triển trong năm 2006 (chứ không phải là trong năm 1946) là tốc độ tăng trưởng kinh tế bền vững đòi hỏi các quốc gia này phải hạ thấp dần các rào cản đối với thương mại quốc tế.

Quan điểm của tác giả trong bài báo này không phản ánh quan điểm hay chính sách của Chính phủ Hoa Kỳ.

lên đầu trang ^

Công cụ:

Printer_icon.gif In trang này



 

    Trang Web này được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ quản lý.
    Chúng tôi không chịu trách nhiệm về nội dung và tính bảo mật thông tin của các trang Web khác được liên kết đến.


Đại sứ quán Hoa Kỳ