jump over navigation bar
Embassy SealBộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Đại sứ quán Hợp chúng quốc Hoa Kỳ - Hanoi, Vietnam flag graphic
Thông tin cập nhật
 
  Các dịch vụ của AC Dịch vụ Reference Update Tư liệu dịch Kinh tế & Thương mại An ninh khu vực Các vấn đề toàn cầu Báo chí, truyền thông và công nghệ thông tin Chính trị, xã hội và văn hóa Mỹ

Tư liệu dịch: Báo chí, truyền thông và công nghệ thông tin

VÌ MỘT NGÀNH TRUYỀN THÔNG ÐẠI CHÚNG TỰ DO VÀ CÓ TRÁCH NHIỆM
Tạp chí điện tử của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 2/2003

BÁO CHÍ VÀ VIỆC PHỤNG SỰ LÒNG TIN CỦA CÔNG CHÚNG
William F.Woo, Giáo sư thỉnh giảng Lorry I. Lokey về Báo chí chuyên nghiệp
Đại học Tổng hợp Stanford

Không ngừng thu thập tin tức và thể hiện một cách độc lập các tin tức là cách thức mà báo chí phụng sự lòng tin của công chúng. Các chương trình, các khoa và các trường báo chí cần phải trở thành những nơi mà những quan niệm này không ngừng được nuôi dưỡng, bảo vệ và ủng hộ.

Năm 1892, Joseph Pulitzer, con người nhìn xa trông rộng, ông chủ của tờ báo New York World tặng trường Đại học Tổng hợp Columbia một khoản tiền để xây dựng Trường báo chí đầu tiên trên thế giới. Vào thời đó, đào tạo về ngành báo chí ở Hoa Kỳ và các nơi khác chỉ do những chủ bút và phóng viên có kinh nghiệm phổ biến các qui tắc và công cụ của nghề nghiệp này. Ý tưởng của Pulitzer có vẻ quá mức tưởng tượng.

Người ta ngạc nhiên là tại sao lại có trường đại học nào đó muốn đào tạo các nhà báo? Họ chỉ là những kẻ tay dính đầy mực và nhiều lắm thì cũng chỉ làm được những công việc thủ công, học được từ trong công việc. Ý tưởng cho rằng các nhà báo thuộc vào một cộng đồng các nhà nhân văn và các nhà khoa học quả là chuyện buồn cười. Hội đồng những người đại diện trường Columbia khước từ khoản tiền biếu này.

Pulitzer mà ngày nay tên tuổi của ông gắn liền với giải thưởng Pulitzer, giải thưởng cao nhất về báo chí, vẫn kiên trì với ý tưởng của mình. Năm 1904, ông cho đăng một bài báo mang tiêu đề “Trường đại học báo chí” trên Tạp chí The North American Review. Trong bài này, ông nêu ra trường hợp của bản thân để minh hoạ về giáo dục báo chí.

Rồi trường Columbia nhận khoản tiền của Pulitzer, nhưng vào thời điểm trường đại học này thu xếp mở trường báo chí vào năm 1912 và lấy tên ông đặt cho trường đó, thì ông đã qua đời và trường Đại học Tổng hợp Missouri đã bắt đầu khai giảng trường báo chí đầu tiên. Ngày nay, giáo dục báo chí là chuyện hiển nhiên. Chỉ riêng ở Hoa Kỳ đã có hơn 450 các chương trình, các khoa, các trường báo chí và thông tin đại chúng. Trung bình mỗi năm, những cơ sở này đã đào tạo ra gần 40.000 cử nhân và thạc sĩ.

Trong bài viết này, tôi sẽ đề cập ba vấn đề. Thứ nhất là vấn đề phát triển và tình hình giáo dục báo chí. Thứ hai là xem xét những thay đổi sâu sắc trong ngành báo chí vốn đặt ra những vấn đề gay cấn đối với tương lai của nó. Thứ ba là đưa ra một cách nhìn nhận mới đối với quan điểm của Joseph Pulitzer và lập luận rằng nó có tầm quan trọng to lớn đối với các nhà báo và giáo dục báo chí ngày nay.

Khi Missouri bắt đầu khai giảng trường báo chí vào năm 1908, bang này thấy là phải sáng lập một chuyên khoa. Ngay từ đầu, trường đại học này đã nhấn mạnh vào kinh nghiệm thực hành. Đó vẫn là trọng tâm của trường này, mặc dù giống như phần lớn các trường báo chí hiện đại ngày nay, nó cũng dạy các môn lịch sử, lý thuyết, nghiên cứu và hàng loạt các môn học khác. Tuy nhiên sự nhấn mạnh đặc biệt vào kinh nghiệm thực hành đã trở thành mẫu mực cho các trường đại học khác.

Vào thời gian đó, các trường hiểu rằng chỉ dạy viết bản tin và đưa tin là không đủ. Họ cần những nhà giáo dục có trình độ cao, những người có thể hướng dẫn nghiên cứu và xây dựng các lý thuyết về báo chí. Họ cần những giáo viên có kỹ năng về sư phạm. Càng ngày báo chí càng được coi là một phần của hệ thống truyền thông.

Các người hành nghề và các học giả thường nhận thấy họ đang đứng ở hai phía của một sự chia rẽ ngày càng lớn và gay gắt. Một số nhà báo hành nghề có vẻ khinh thường các đồng nghiệp học giả của họ có học vị tiến sĩ và các phương pháp khoa học xã hội phù hợp với các tháp ngà hơn là “thế giới hiện thực" của báo chí. Còn một số học giả lại nhìn nhận các nhà báo hành nghề chỉ là những người đi buôn và “thế giới hiện thực” của báo chí là những chiếc dây chão thô ráp của ngành công nghiệp mà các học viện cần cắt bỏ ra khỏi vòng trói buộc của chúng.

Cơ sở của cuộc cạnh tranh này là một vấn đề cũ kỹ: giáo dục báo chí nên như thế nào? Có phải chủ yếu là thực hành không? Hay là lý thuyết? Hay là kết hợp cả hai? Sứ mạng của nó là đào tạo các tiến sĩ hay như Pulitzer hình dung là đào tạo các thế hệ tương lai những phóng viên và biên tập viên?

Trải qua nhiều năm, trường báo chí mà Pulizer đóng góp tiền cho Đại học Columbia để xây dựng đã trở thành một trong những cơ sở xuất sắc nhất về đào tạo các phóng viên và biên tập viên ở Hoa Kỳ. Những người tốt nghiệp từ trường đó đều đang làm việc ở những tổ chức truyền thông có uy tín nhất. Nền tảng của chương trình học của nó là một khóa học về đưa tin bắt buộc và nghiêm túc.

Nhưng giữa năm 2002, trong khi trường đang tìm một hiệu trưởng mới, Lee Bollinger, Chủ tịch ĐHTH Columbia bất ngờ quyết định dừng cuộc tìm kiếm và yêu cầu cần phải có cân nhắc kỹ hơn. Ông nói: “Dạy kỹ năng báo chí là một mục đích quan trọng, nhưng trong thế giới mới này và trong hệ thống của một trường đại học lớn, thì rõ ràng là không đầy đủ”.

Tuyên bố này gây choáng váng. Ở nơi này, tại ĐHTH Columbia, một thành lũy của giáo dục báo chí hướng tới khả năng chuyên nghiệp, mà Hiệu trưởng trường đại học lại tuyên bố rằng việc dạy nghề nghiệp báo chí là chưa đủ.

Sau hơn 100 năm kể từ khi Joseph Pulitzer lần đầu chủ xướng việc xây dựng các trường báo chí, người ta vẫn chưa thống nhất về việc nên giáo dục báo chí như thế nào. Vấn đề các trường đại học có nên giảng dạy báo chí hay không đã có câu trả lời khẳng định. Tuy nhiên, những vấn đề vì sao nên giảng dạy về báo chí và nên giáo dục những vấn đề gì thì còn chưa được giải quyết.

Trong phần lớn thời gian của thế kỷ 20, báo chí được hưởng nhiều ưu đãi. Khác với các ấn phẩm khác, nó không có những đối thủ cạnh tranh đáng kể. Báo chí là nguồn tin tức và quảng cáo chủ yếu và hàng ngày của đất nước. “Tôi chỉ biết những điều mà tôi được đọc qua báo chí”, người ta nói vậy.

Tuy nhiên, trong những thập niên sau Chiến tranh Thế giới Thứ hai, ba sự phát triển đã có tác động to lớn tới báo chí. Và tất yếu là chúng tác động tới giáo dục báo chí. Thứ nhất là sự cạnh tranh gay gắt nhằm thu hút sự chú ý của nhân dân và các món tiền của người quảng cáo. Vô tuyến truyền hình và mãi sau đó là Internet và ngành xuất bản đặc biệt đã xâm nhập vào các độc giả truyền thống và các nguồn thu nhập của báo chí. Những kẻ cạnh tranh này không chỉ đưa ra những cách mới trong việc thu lượm thông tin, mà họ còn đem lại cho công chúng những quan điểm khác nhau. Chỉ còn lại một số ít người có thể nói là: “Tôi chỉ biết những điều mà tôi được đọc qua báo chí”. Sự tin cậy của công chúng đối với báo chí suy giảm.

Tác động thứ hai đối với báo chí là vấn đề dân số. Sau chiến tranh, mở đầu là nhiều quân nhân phục viên trở về và phụ nữ vào các trường đại học, nước Mỹ trở thành nước có trình độ giáo dục cao, và đòi hỏi một loại hình báo chí khác – loại báo chí có nhiều tin tức hơn và nhiều mối quan tâm rộng lớn hơn. Các khu ngoại ô phát triển ảnh hưởng đến sự phát triển của khu phố trung tâm. Những siêu thị mua bán thay thế cho những cửa hàng bách hóa tổng hợp tại trung tâm thành phố mà ở đó ngành công nghiệp báo chí hốt được nhiều tiền từ quảng cáo. Các tờ báo buổi chiều vốn được phân phát bằng những xe tải cố gắng chạy nhanh trong những giờ cao điểm, thì lúc này bắt đầu phải đình bản. Một điều diễn ra ngấm ngầm là nhịp điệu của cuộc sống hiện đại khiến người ta có ít thì giờ đọc báo. Qua phương tiện vô tuyến truyền hình đang nổi lên, họ nghe tin tức, thậm chí phần nhiều là để giải trí.

Cuối cùng, bắt đầu vào thập niên 60, một số tổ chức truyền thông phát hiện ra phố Wall là một nguồn vốn. Trước Chiến tranh Thế giới Thứ hai, đại đa số các tờ báo Mỹ là sở hữu tư nhân và độc lập, thì bây giờ quyền sở hữu tổ hợp trở thành chuẩn mực.

Do đó, trong một số trường hợp, mức độ thành công của tổ chức truyền thông là do thị trường chứng khoán qui định, dựa vào mức thu nhập hàng quí chứ không phải chất lượng của nghề báo chí. Áp lực của thị trường dẫn tới tình trạng đầu tư ít hơn vào hoạt động tin tức. Do sự ưu tiên đặt ra trong các tổ chức truyền thông, báo chí đã trở thành thứ yếu so với những ưu tiên khác. Mấy năm trước khi Ban điều hành của tờ Gannett, tập đoàn báo lớn nhất ở Mỹ xuất hiện trước các nhà phân tích thị trường ở Boston, họ không hề nhắc tới từ nghề báo chí trong bài diễn văn chính thức của họ.

Các tổ hợp lớn thôn tính các tổ chức nhỏ hơn. Vào cuối thế kỷ 20, Ben Bagdikian trong lần xuất bản cuối cùng cuốn sách của ông mang tiêu đề Độc quyền Thông tin Đại chúng, đã báo cáo rằng phần lớn những gì mà những người Mỹ đọc trong các tờ báo của họ và nhìn thấy trên vô tuyến truyền hình đều là sản phẩm của chỉ một nhóm những công ty khổng lồ.

Tất cả những điều này có ý nghĩa gì đối với các tổ chức truyền thông và các trường đại học? Điểm khởi đầu chính là cần nhớ lại câu nói của Joseph Pulitzer trong Tạp chí The North America: “Nước Cộng hòa của chúng ta và nền báo chí sẽ cùng phát triển hoặc thụt lùi… Một nền báo chí không đạo lý, thương mại và mị dân sẽ tạo ra một dân tộc cũng thấp kém như bản thân nó”. 

Điều Pulitzer nói có nghĩa là báo chí không thể chỉ là một cách kiếm tiền và cung cấp giải trí. Nó phụng sự lòng tin của công chúng. Ông đã viết rằng một chính phủ nhân dân có hiệu quả dựa vào “một nền báo chí không vụ lợi, theo tinh thần công chúng với sự hiểu biết có được từ đào tạo để biết lẽ phải và cổ vũ việc thực hiện lẽ phải”.

Trước khi có vô tuyến truyền hình và Internet, không phải tất cả báo chí đều theo tinh thần hướng về công chúng và có thể dễ dàng phát hiện ra tính vô đạo lý và thương mại trong đó. Nhưng trong nhiều thập niên mà báo chí do tư nhân sở hữu, một ý thức đạo đức đã phát triển: Báo chí tồn tại để phụng sự nhân dân. Người ta thường xem nhẹ điều này. Tuy nhiên, các nhà báo đã tiến tới chỗ nghĩ về bản thân mình như một giới làm báo, độc lập đối với các trung tâm quyền lực của nhà nước hay tư nhân. Nhiệm vụ của họ là công khai thông tin; tiêu chuẩn là khách quan, kỷ luật; cương lĩnh của họ là thực hiện quyền của nhân dân được biết rõ sự thật.

Tất cả những vấn đề này đều rộng mở cho sự phân tích có tính chất phê bình, nhưng trong một thời gian dài, các nhà báo đều đồng ý với những điều đó. Các trường báo chí đều giảng dạy về chúng. Hơn bất cứ một điều gì khác, những lý tưởng này bám chắc vào một công nghiệp ổn định vốn hiểu rõ về bản thân mình.

Nhưng ngày nay nếu hỏi một phòng tin tức hoặc một lớp học rằng: báo chí là gì? Các nhà báo đang làm công việc gì và đang được đào tạo để làm gì? Các câu trả lời đều không giống nhau. Một số sẽ nói rằng đó là công việc kinh doanh thông tin, một số người khác nói là công việc kinh doanh giải trí, công việc bán tin hoặc kinh doanh vì lợi nhuận.

Như gần đây trong Bản Tin Niemen, một tạp chí ra hàng quý của trường Đại học Harvard, tôi đã viết rằng: để có một câu trả lời đúng hơn, đòi hỏi chúng ta phải trở lại những nguyên tắc đầu tiên và đặt ra một câu hỏi rằng mục đích của báo chí và giáo dục báo chí là gì?

Bài báo đó là cơ sở để tôi sẽ rút ra những kết luận ở đây, tôi cho rằng mục đích của báo chí là không nhiều hơn mục đích của công việc phẫu thuật, nghĩa là mổ cơ thể người rồi khâu lại. Mục đích của phẫu thuật là chữa bệnh.

Cũng như vậy, mục đích của báo chí lớn hơn việc đưa tin và viết các câu chuyện, mặc dù cũng giống như phẫu thuật, kỹ năng và năng lực là điều cốt lõi. Mục đích của nó là giải quyết một cái gì đó cơ bản hơn, mà tôi cho đó là phụng sự lòng tin của công chúng.

Việc không ngừng lấy tin và thể hiện một cách độc lập các tin tức là phương cách mà báo chí phụng sự lòng tin của công chúng. Đó là một quan niệm siêu việt đối với các chế độ chính trị. Cuối cùng, những chế độ này chỉ là những phương tiện để đạt tới một mục đích. Đối với những người Mỹ, dân chủ là phương tiện chính trị để đạt tới tự do.

Cũng như vậy, báo chí tự thân không phải là mục đích mà chỉ là phương tiện nghề nghiệp mà các phóng viên và biên tập viên dùng nó để phụng sự lòng tin của công chúng. Họ làm công việc này bằng cách cung cấp tin tức và thông tin mà nhân dân yêu tự do cần biết để đưa ra những quyết định về chính trị, kinh tế, xã hội và cá nhân.

Khi Hiệu trưởng Bollinger của ĐHTH Colunbia tuyên bố rằng: “Dạy nghề báo chí là một mục đích quan trọng… nhưng rõ ràng là không đầy đủ”, thì ông đã đưa ra một điểm rất bổ ích. Các nhà báo trẻ tuổi không hiểu biết về bối cảnh xã hội, lịch sử và lý thuyết trong nghề nghiệp của họ, thì tất yếu sống trong sự nông cạn. Còn các nhà báo chỉ hiểu về lý thuyết, lịch sử, đạo đức học và luật báo chí thì cũng vô dụng với mức độ tương đương. Cả hai đều không thể phụng sự lòng tin của công chúng.

Câu hỏi nghề nghiệp hay trình độ học vấn có phải là mục đích quan trọng và đầy đủ đối với “một trường đại học lớn” hay không làm tôi sững sờ, vì cảm thấy nó lạc lõng giống như câu hỏi phải chăng thanh niên nên gia nhập lục quân hay hải quân trong thời gian mà quân đội đã rơi vào tay nửa tá tướng lĩnh hiếu chiến.

Tôi dùng từ “một nửa tá” một cách thận trọng. Đó là con số các công ty mà Ben Bagdikian nói là đã “thống trị toàn bộ lĩnh vực thông tin đại chúng ở Hoa Kỳ” và cung cấp “ tin tức, bình luận và giải trí trên phạm vi rộng khắp đất nước”.

Điều này có ngụ ý gì đối với giáo dục báo chí? Một số trường có thể đào tạo ra những nhà báo xuất sắc. Một số trường khác có thể đào tạo ra những người có kiến thức phong phú về lịch sử, xã hội và lý thuyết. Nhưng điều đó có ý nghĩa gì nếu những ông chủ của các hãng thông tin đại chúng Hoa Kỳ dửng dưng với những phẩm chất đó.

Nhiệm vụ to lớn của những nhà giáo dục báo chí là ngoài việc đào tạo thực hành và trình độ nghiên cứu, là phải trang bị cho các sinh viên một ý thức vững chắc về lòng tin của công chúng: lòng tin đó đã phát triển như thế nào, nó có ý nghĩa gì đối với Hoa Kỳ, nó đã tự biểu hiện ra như thế nào hay là nó đã bị phản bội như thế nào trong công việc của các nhà báo và các tổ chức truyền thông. Các chương trình, các khoa và các trường báo chí cần phải trở thành những nơi mà những quan niệm này được nuôi dưỡng, bảo vệ và không ngừng được ủng hộ.

Như tôi đã viết trong tờ The Niemen Reports “Một nền báo chí mà đã trở thành con tin của các nhà đầu tư, cũng như khi nó là con tin trong tay chính phủ thì không còn là một nền báo chí tự do. Chắc chắn các trường đại học lớn và thậm chí cả các trường đại học nhỏ hơn cũng hiểu được điều này”. Hẳn là Joseph Pulitzer cũng hiểu như vậy.

William F. Woo là Giáo sư thỉnh giảng Lorry I. Lokey môn Báo chí Chuyên nghiệp tại Đại học Tổng hợp Stanford, nơi ông đã giảng dạy từ năm 1996. Trước đó ông đã làm phóng viên và biên tập viên trong 39 năm, 10 năm cuối của sự nghiệp làm báo, ông là Tổng biên tập của tờ Post-Dispatch tại St. Louis.

Quan điểm trong bài báo này không nhất thiết phản ánh những quan điểm hoặc chính sách của Chính phủ Hoa Kỳ.

lên đầu trang ^

Công cụ:

Printer_icon.gif In trang này



 

    Trang Web này được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ quản lý.
    Chúng tôi không chịu trách nhiệm về nội dung và tính bảo mật thông tin của các trang Web khác được liên kết đến.


Đại sứ quán Hoa Kỳ