Tư liệu dịch: Kinh tế và thương mại
DOANH NGHIỆP SIÊU NHỎ: ĐẶT NỀN MÓNG CHO SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
Tạp chí điện tử của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 2/2004
TÀI CHÍNH SIÊU NHỎ VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN TOÀN CẦU
Alex Counts, Chủ tịch Quỹ Grameen Hoa Kỳ
Theo Alex Counts, Chủ tịch Quỹ Grameen - một tổ chức của Hoa Kỳ cung cấp tài trợ và hỗ trợ kỹ thuật cho các tổ chức tài chính cho dân ngèo trên thế giới vay, thì tài chính siêu nhỏ có một tác động đáng kể đối với công tác giảm nghèo không chỉ ở địa phương mà còn ở cấp quốc gia. Theo ông, một điểm quan trọng đối với thành công của tài chính siêu nhỏ đó là khuôn khổ pháp lý của nhà nước nhằm hỗ trợ sự phát triển của doanh nghiệp nhỏ.
Counts, một cựu học giả của Chương trình Fulbright tại Bangladesh đã cộng tác chặt chẽ với TS. Muhammad Yunus, người sáng lập Ngân hàng Grameen, đã nghiên cứu những cấu phần căn bản của tài chính siêu nhỏ ngày nay. Trong số những phát hiện của mình, ông nhận thấy những công việc kinh doanh do phụ nữ điều hành thường có rủi ro tín dụng thấp nhất và thường chuyển lợi nhuận vào đầu tư cho học hành của con cái, và đào tạo kinh doanh chính quy không phải là điều kiện tiên quyết dẫn đến việc phát triển kinh doanh thành công.
Với 1,3 tỷ người trên thế giới sống trong điều kiện nghèo đến mức tuyệt vọng và một mục tiêu được toàn cầu công nhận là giảm số người nghèo đi một nửa vào năm 2015 (một phần trong Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ), thì những chiến lược có tập trung, có khả năng nhân rộng và bền vững phục vụ cho người nghèo trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.
Sự nghèo đói vừa là nguyên nhân và hậu quả của nhiều vấn đề quốc tế, trong đó có nạn đói trên toàn cầu, suy thoái môi trường, dân số quá đông, mù chữ, xung đột nội bộ, kinh tế trì trệ và xung đột vũ trang. Nếu cộng đồng quốc tế muốn giải quyết những vấn đề có liên quan đến nhau này một cách nghiêm túc và triệt để thì những phương pháp tiếp cận như tài chính siêu nhỏ cần phải được đặt lên vị trí ưu tiên của chương trình nghị sự toàn cầu.
Ngành công nghiệp tài chính siêu nhỏ khởi nguồn từ những thí điểm trong những năm 70 nhằm cung cấp dịch vụ tài chính, mà chủ yếu là cho vay, cùng với các dịch vụ tư vấn kinh doanh phi tài chính cho người nghèo. Một trong những người tiên phong đầu tiên là dự án Ngân hàng Grameen của Bangladesh. Được Giáo sư Muhammad Yunus khởi xướng năm 1976 để đối phó với nạn đói năm 1974, nạn đói đã hoành hành quốc gia mới được độc lập này. Về cơ bản, đây là một phương pháp thử-và-sai để tìm hiểu cách hỗ trợ hoạt động kinh tế cho những người nghèo nhất sống trong một nước kém phát triển nhất trên thế giới. Các khoản vay nhỏ với giá trị chỉ khoảng 25 đô-la được cho vay để chăn nuôi gia súc, buôn bán, phát triển các ngành nghề và dịch vụ có trong làng. Những người hoàn trả được tiền vay được vay nhiều hơn và tranh thủ được các cơ hội kinh doanh khác. Các biện pháp khác cũng được thử, nhưng cách cung cấp dịch vụ tài chính, đặc biệt là các khoản vay cá nhân cho vay theo nhóm là hình thức không thành công.
Đến năm 1983, sau khi đã thu lượm được kinh nghiệm và triển vọng phát triển, Dự án Ngân hàng Grameen được chuyển đổi thành một ngân hàng độc lập chuyên cung cấp dịch vụ tài chính cho những người nghèo không có đất, đặc biệt là phụ nữ. Trong giai đoạn thí điểm (1976-1983), phạm vi hoạt động từ dưới 100 khách hàng đã phát triển lên hơn 45.000. Khi ngân hàng được thành lập, một giai đoạn phát triển ổn định đã có số khách hàng là 850.000 người vào năm 1990, 2,4 triệu người năm 2000, và đến tháng 12 năm 2003 là 3 triệu người. Khoảng 200 nhà cung cấp dịch vụ khác ở Bangladesh, nhiều người theo mô hình của Grameen, cho tới nay đã cung cấp dịch vụ cho hơn 9 triệu gia đình khác nữa.
Điều đáng ngạc nhiên là tỉ lệ phụ nữ nghèo ở Bangladesh là thành viên của một tổ chức tư nhân cung cấp cho họ dịch vụ tài chính dễ dàng với chi phí hợp lý cao gấp 3 lần ở những nơi khác. Trên thế giới, dưới 15% số phụ nữ nghèo có được may mắn như vậy. Tất nhiên, điều này cho thấy tiềm năng phát triển nếu đầu tư bền vững và có hỗ trợ mang tính đòn bẩy được tiến hành lần lượt từng nước một. Ví dụ, với tỉ lệ thâm nhập thị trường của Pakistan thấp hơn 1%, thì những mục tiêu ưu tiên cho những năm tới cần phải được theo sát.
Theo một nghiên cứu độc lập và rất đáng tin cậy, vào khoảng giữa những năm 1990, mỗi năm khoảng 120.000 gia đình Grameen vượt qua mức nghèo khổ, thường sau khoảng 5-6 năm kể từ khi tham gia ngân hàng. Mặc dù tài chính siêu nhỏ không phải là một giải pháp hay một thần dược, nhưng nó đã thu được những kết quả về giảm nghèo trên phạm vi vi mô một cách phi thường và có thể nói là chưa ai làm thế được. Hơn nữa, hầu hết mỗi năm Ngân hàng Grameen đều sinh được một khoản lãi khiêm tốn. Grameen, cũng như hầu hết các tổ chức cho vay nhỏ khác duy trì được tỉ lệ hoàn vốn từ 95-99% trong suốt lịch sử tồn tại của mình và ngay cả hiện tại. (Thiên tai và các biến động khác đôi khi đẩy tỉ lệ này xuống thấp hơn, gần đây nhất là cuối những năm 1990).
Những bài học từ giai đoạn thí điểm Ngân hàng Grameen đã được những nhà chuyên môn trong lĩnh vực phát triển nghiên cứu và tranh luận và được những người đi tiên phong độc lập khẳng định là những thành phần cơ bản cấu thành nên tài chính siêu nhỏ ngày nay. Chúng có thể được mô tả vắn tắt như sau:
- Nếu những người phụ nữ nghèo nhất được chủ động chọn lọc và tập trung thông qua các chiến lược tiếp thị hiệu quả như việc cán bộ tín dụng tới “động viên” từng gia đình, kiểm tra tài sản hoặc các biện pháp hữu hiệu khác thì họ có khả năng được hưởng lợi từ chương trình tài chính siêu nhỏ.
- Có thể trái với trực giác, thậm trí những người nghèo nhất (ví dụ: những người sống dưới mức 1 đô-la một ngày) nói chung không cần được đào tạo chính quy trước khi thực hiện kinh doanh do tổ chức cung cấp tài chính siêu nhỏ (tổ chức tài chính siêu nhỏ) hỗ trợ. Khả năng sinh tồn của họ được tôi luyện trong một môi trường không có cả mạng lưới an sinh xã hội lẫn việc làm hưởng lương để làm chỗ dựa đã phát triển rất mạnh mẽ, mặc dù họ thiếu vốn trầm trọng. Việc cung cấp vốn một cách có tổ chức và sự rõ ràng minh bạch của những người cùng tham gia được chú trọng, là một biện pháp hiệu quả và đáng công nhận nhất nhằm đảm bảo sự tiến bộ nhanh. Do đó những chương trình đào tạo hay hỗ trợ kỹ thuật tốn kém thường có thể được loại bỏ hoặc chỉ dùng trong những trường hợp thật đặc biệt.
- Phụ nữ thường có độ rủi ro tín dụng thấp nhất, và có nhiều khả năng họ sẽ dùng lợi nhuận để phục vụ con cái họ bằng cách đầu tư nhằm phá bỏ cái vòng nghèo đói hàng thế hệ. Một báo cáo của Ngân hàng Thế giới về Ngân hàng Grameen và hai tổ chức tài chính siêu nhỏ lớn khác ở Bangladesh cho thấy, có một mối liên hệ tích cực và trực tiếp giữa số tiền một người phụ nữ vay và cơ hội con gái của chị được đi học. Mối liên hệ này không hiện hữu đối với người vay là đàn ông.
- Tài chính siêu nhỏ có thể được cung cấp tương tự như việc kinh doanh mà vẫn mang lợi đến cho một số lượng lớn các gia đình nghèo với điều kiện mục tiêu chủ chốt là giảm nghèo và tầm nhìn nhằm tạo dựng năng lực xã hội luôn nắm vị trí cao nhất trong tư duy của những nhà lãnh đạo tổ chức tài chính siêu nhỏ và các cán bộ thực hiện. Những khuyến khích cho những nhân viên ở tuyến đầu (do ban giám đốc cung cấp) và cho chính những tổ chức tài chính siêu nhỏ này (do các bên liên quan bao gồm nhà tài trợ và ban giám đốc cung cấp) là những yếu tố thiết yếu để đảm bảo được mục đích này. Gần đây tôi được đề nghị tham gia vào Ban giám đốc của Ngân hàng Fonkoze, ngân hàng đầu tiên của Haiti dành cho người nghèo để tôi có thể làm “cái tâm” cho tổ chức mới này (phát triển từ gốc gác là một tổ chức phi chính phủ) và đảm bảo sự thay đổi mục đích của nó được giảm thiểu thậm chí khi nó trở thành một định chế tài chính.
Điểm mấu chốt là bài học của tài chính siêu nhỏ của những năm 1980 là công tác giảm nghèo có thể phát triển theo chuỗi trong một số điều kiện nhất định. Phát hiện này đã dẫn đến sự tăng trưởng đáng khâm phục của phong trào tài chính siêu nhỏ trên toàn cầu. Theo số liệu từ Chiến dịch Thượng đỉnh về Tín dụng Tài chính Siêu nhỏ (www.microcreditsummit.org), khoảng 67,6 triệu gia đình được hưởng lợi trên toàn cầu. Trong số những gia đình này, khoảng 37,7 triệu gia đình thuộc nhóm “nghèo cố hữu” khi họ mới gia nhập chương trình. Đây không còn đơn thuần là một câu chuyện thành công do một nhà lãnh đạo có tài hùng biện kể (nếu có khi nào như vậy), mà nó đã trở thành một nỗ lực quốc tế nhằm tấn công sự nghèo đói một cách có hệ thống.
Quỹ Grameen Hoa Kỳ được thành lập năm 1997, đã có vị trí tiền tiêu nhằm giúp đỡ các tổ chức tài chính siêu nhỏ mở rộng hoạt động và cải thiện chất lượng năng lực hoạt động của họ bằng cách tài trợ, hỗ trợ kỹ thuật và tư vấn về công nghệ (thường thông qua các tình nguyện viên).
Những bài học mà Grameen đúc kết được sau hai thập kỷ trở thành một ngân hàng đã cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách những công cụ họ cần để tạo ra một môi trường thuận lợi. Ngược lại, những môi trường đó sẽ cho phép tài chính siêu nhỏ đạt được hết tiềm năng của nó nhằm giảm nghèo như đã diễn ra tại Bangladesh, nơi mà hơn hai phần ba các gia đình nghèo đã được hưởng lợi từ một trong số 200 tổ chức tài chính siêu nhỏ ở đây. Một số bài học bao gồm:
- Chúng ta không chỉ biết rằng người nghèo hết sức cần tín dụng và có thể vay được với những điều kiện mà tổ chức tài chính siêu nhỏ vẫn sinh lời; chúng ta còn biết được rằng người nghèo còn mong muốn có được những dịch vụ tiết kiệm và bảo hiểm thuận tiện. Bằng cách cung cấp những dịch vụ này, các tổ chức tài chính siêu nhỏ còn có thể tạo ra được những nguồn vốn mới và bền vững, đồng thời giảm nhẹ rủi ro của người cho vay. Hỗ trợ về pháp lý cho những hoạt động này thường ít nhưng rất quan trọng cho sự tăng trưởng liên tục hay thậm chí là tăng tốc và tính bền vững của các tổ chức tài chính siêu nhỏ.
- Tài chính siêu nhỏ có thể được coi là một bàn đạp, chứ không chỉ đơn thuần là một sự can thiệp khác. Nó tạo ra một cơ sở hạ tầng mà trên đó người nghèo, trước đây bị coi là tách biệt, không có tài sản hữu hình hay vốn xã hội, có thể được động viên rộng rãi và cung cấp tài chính để tham gia vào các chương trình kinh tế và xã hội. Khối ủng hộ chủ chốt có thể tạo dựng được và sự trung thành với thương hiệu được hình thành nhanh hơn nếu hoạt động thông qua kênh tài chính siêu nhỏ. Việc tạo ra một mạng lưới những gia đình nghèo và đã từng nghèo được tiếp cận dễ dàng với những dịch vụ tài chính tạo điều kiện cho họ tham gia vào các chương trình xã hội hay thương mại với số lượng lớn, dưới vai trò là người bán hàng hay mua hàng, hoặc cả hai. Ví dụ Ngân hàng Grameen liên doanh với Công ty Telenor của Na Uy thành lập một công ty điện thoại di động vào năm 1997. Hiện nay, 45.000 người vay của Grameen tại 45.000 làng khác nhau (hai phần ba tổng số làng của Bangladesh) đã vay tiền để mua điện thoại di động và thành lập dịch vụ điện thoại công cộng cho làng của họ. Họ làm như vậy và sinh lãi cho chính họ, cho Ngân hàng Grameen (người cho vay) và cho GrameenPhone, những đơn vị cung cấp hạ tầng và dịch vụ theo giá buôn và năm ngoái họ đã thu được một khoản lợi nhuận trước thuế là 45 triệu đô-la. Trung tâm Công nghệ của Quỹ Grameen Hoa Kỳ vừa mới khai trương một dự án tương tự tại Uganda. Một công ty khác, Grameen Kalyan, đã mở 15 phòng khám gần với các chi nhánh của Ngân hàng Grameen và cho phép người vay tiền mua bảo hiểm với mức phí dưới 2 đô-la một năm và được khấu trừ trực tiếp từ tài khoản tiết kiệm của họ. Sáng kiến này đã tạo ra sự cải thiện về tình trạng sức khỏe của dân chúng. Hơn nữa, những phòng khám này đã thu hồi được 70% vốn chỉ trong vài năm và không lâu nữa sẽ hòa vốn.
- Chính phủ có vai trò quan trọng đối với tài chính siêu nhỏ. Nhưng họ không nên tập trung vào việc cung cấp dịch vụ tài chính siêu nhỏ trực tiếp cho người nghèo vì hoạt động này thường bị chính trị hóa và không hiệu quả. Thay vào đó, họ có thể tạo ra những khung pháp lý hỗ trợ và phân bổ nguồn tài trợ cho các tổ chức tài chính siêu nhỏ qua các quỹ bán buôn hoặc các kênh khác mà không phải chịu áp lực chính trị hóa. Trường hợp của Ma-rốc là đáng quan tâm để học tập. Năm 1997, là một trong vài nước Arập có hệ thống tài chính siêu nhỏ với mạng lưới khách hàng khoảng 10.000 người. Bằng cách đưa ra những khuôn khổ pháp lý hỗ trợ cao nhất và phân bổ 10 triệu đô-la qua quỹ Hassan II, hệ thống tài chính siêu nhỏ của Ma-rốc nhảy vượt qua Ai Cập (nước dẫn đầu trong vùng cả về phạm vi khách hàng và các chỉ số khác) và vượt ngưỡng 200.000 khách hàng năm 2002. Ví dụ, cũng trong giai đoạn này, Li-băng và Gioóc-đa-ni đạt mức tăng trưởng thấp, nếu có, trong lĩnh vực này. Tương tự như vậy, theo một nghiên cứu gần đây của Quỹ Grameen Hoa Kỳ thì mức độ phát triển của hệ thống tài chính siêu nhỏ tại Trung Quốc bị hạn chế chủ yếu là do thiếu một môi trường pháp lý hỗ trợ. (Xem http://www.gfusa.org/chinareg.htm). Bản tóm tắt những khuyến nghị của Quỹ Grameen Hoa Kỳ cho việc xây dựng một khung pháp lý hỗ trợ tài chính siêu nhỏ có thể tìm thấy tại địa chỉ http://www.gfusa.org/gbrp/whitepaper.htm.
Công nghệ thông tin và truyền thông có một vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng gần đây và trong tương lai của lĩnh vực tài chính siêu nhỏ. Tự động hóa quá trình tài chính siêu nhỏ, mà theo truyền thống vẫn làm bằng tay, có một tiềm năng rất lớn nhằm cải thiện tính hiệu quả và giảm sai sót, cũng như sự lừa đảo của các cán bộ tín dụng mà riêng số nhân viên của Ngân hàng Grameen đã là hơn 7.000 người. Công nghệ còn có thể là công cụ giúp người nghèo tạo lập được những lĩnh vực kinh doanh mang lại nhiều lợi nhuận hơn, một ví dụ rõ ràng là GrameenPhone. Cuối cùng, chuẩn hóa quy trình truyền số liệu là để cho hệ thống trở nên minh bạch hơn, cả người nghèo và các tổ chức phục vụ họ đều có rủi ro tín dụng thấp. Đổi lại, thị trường vốn sẽ đầu tư nhiều hơn vào lĩnh vực tài chính siêu nhỏ trên cơ sở thương mại, đặc biệt là ở những quốc gia như Ấn Độ, nơi có những chính sách khuyến khích đầu tư vào những chương trình chống nghèo. Bây giờ đã rõ ràng là tài chính siêu nhỏ có thể tạo ra được một tác động đáng kể đối với nghèo đói ở cấp vi mô và cấp quốc gia chỉ với điều kiện là các nhà hoạch định chính sách và các đối tác khác mà chủ yếu là các quan chức chính phủ (đặc biệt là các nhà hoạch định chính sách ngân hàng), các nhà tài trợ tư nhân và công cộng coi nó là một ưu tiên. Nếu họ quyết định làm như vậy và thực hiện theo những thông lệ tốt nhất thì họ đã gieo mầm cho một ngành công nghiệp mà tự nó có thể duy trì mà không cần bao cấp vô hạn và có thể hoạt động một cách nhuần nhuyễn với các hoạt động giảm nghèo khác. Có lẽ không có sự đầu tư nào tốt hơn nhằm đạt được Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ và để có được một biện pháp thực sự an toàn – theo nghĩa rộng nhất của từ này trong suốt cả cuộc đời của chúng ta.
Ghi chú: Những ý kiến nêu trong bài báo này không nhất thiết phản ánh quan điểm hay chính sách của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ.