jump over navigation bar
Embassy SealBộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Đại sứ quán Hoa Kỳ - Hanoi, Vietnam flag graphic
 
Thông tin cập nhật
 
  Các dịch vụ của IRC Dịch vụ Reference Update Tư liệu dịch Kinh tế & Thương mại An ninh khu vực Các vấn đề toàn cầu Báo chí, truyền thông và công nghệ thông tin Chính trị, xã hội và văn hóa Mỹ

Tư liệu dịch: Kinh tế và thương mại

THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG THÔNG QUA QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP
Tạp chí Điện tử của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Triển vọng Kinh tế, tháng 2/2005

ĐẶT NỀN TẢNG CHO TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
Ira M. Millstein

Chế độ quản lý doanh nghiệp vững chắc và lành mạnh ngày càng trở nên quan trọng đối với việc thu hút đầu tư. Đặc biệt, các nước đang phát triển có lợi trong việc áp dụng các hệ thống củng cố lòng tin của nhà đầu tư thông qua tính minh bạch và pháp quyền.

Quản lý doanh nghiệp đang bước vào một giai đoạn hội tụ toàn cầu, được củng cố bằng sự thừa nhận đang gia tăng rằng các quốc gia cần thu hút và bảo vệ mọi nhà đầu tư, cả trong và ngoài nước. Mối quan hệ rất rõ ràng: luồng vốn quốc tế sẽ di chuyển với các mức lãi suất ưu đãi tới những nơi có được sự bảo vệ tốt nhất, nhưng sẽ không hề di chuyển hoặc sẽ di chuyển tới nơi không được bảo vệ chắc chắn, hoặc không có sự đảm bảo nào với một tỷ lệ lãi xuất có tính rủi ro cao

Tại nhiều quốc gia có hệ thống pháp lý bắt nguồn từ hệ thống luật Anh Quốc, lợi ích của cổ đông có vị thế tối cao trong hầu hết các quyết định của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đây không phải là trường hợp phổ biến ở những nơi khác trên thế giới - ít nhất cho tới lúc này.

Các quốc gia có khái niệm truyền thống về đối tác giữa người quản lý doanh nghiệp, người lao động và những người có lợi ích liên quan khác, có các ưu tiên mang tính xã hội, hoặc pha trộn cơ cấu sở hữu chính phủ - tư nhân hiện nay đã nhận thấy bảo vệ nhà đầu tư là một tín hiệu quan trọng đối với những người cung cấp vốn tiềm năng. Điều này đặc biệt đúng đối với các nước đang phát triển. Các quốc gia này cần thể hiện việc áp dụng các nguyên tắc quản lý doanh nghiệp nhằm nâng cao lòng tin của nhà đầu tư và thu hút vốn, từ đó có thể đầu tư cho tăng trưởng kinh tế. Tất nhiên các nguyên tắc này cần được điều chỉnh cho phù hợp với các nhu cầu bản địa - không có một phương thuốc nào chữa được bách bệnh. Nhưng có những nền tảng nhất định không thể bỏ qua.

Chế độ quản lý doanh nghiệp là sự kết hợp của các quy định pháp lý và các hướng dẫn do khu vực tư nhân khởi xướng. Tại các quốc gia có thị trường tài chính phát triển hơn, các quy định và cấu trúc quản lý doanh nghiệp được bao hàm trong luật pháp bảo vệ các quyền về sở hữu và các quyền của cổ đông thông qua các các luật, các văn bản dưới luật, các quyết định tư pháp và các quy định về niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán. Đây là nền tảng tạo nên cơ sở hạ tầng quản lý doanh nghiệp của chính phủ. Bên cạnh những quy định chính thức, các doanh nghiệp cũng áp dụng các nguyên tắc và hướng dẫn theo thông lệ tốt nhất liên tục được phát triển bởi khu vực tư nhân và giới hàn lâm nhằm đáp ứng các điều kiện của thị trường và nhu cầu của nhà đầu tư hiện hành. Các nước đang phát triển cần cân nhắc cả hai yếu tố — cơ sở hạ tầng của chính phủ và những thông lệ tốt nhất.

VAI TRÒ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN

Để hiểu về chế độ quản lý doanh nghiệp cần hiểu khái niệm công ty cổ phần và vị thế của nó trong thế giới doanh nghiệp. Sự hiểu biết này sẽ cho thấy tại sao quản lý doanh nghiệp, như tôi đã mô tả, có tính thiết yếu đối với việc hợp pháp hóa vai trò của công ty cổ phần trong xã hội và tạo ra một công cụ cho tăng trưởng kinh tế.

Công ty cổ phần là một tổ chức được thành lập theo pháp luật. Nó đã tồn tại dưới các hình thức khác nhau từ hàng trăm năm nay và những đặc trưng cơ bản của nó hầu như vẫn không thay đổi.

Một trong trong những đặc trưng quan trọng nhất của một công ty cổ phần là trách nhiệm hữu hạn, cho phép người ta đầu tư tiền hay tài sản vào công ty mà không phải chịu rủi ro đối với các tài sản cá nhân trong trường hợp công ty phá sản. Số tiền đầu tư này thuộc về công ty cổ phần và những nhà đầu tư không được phép tiếp cận. Ví dụ, họ không thể yêu cầu công ty trả cổ tức hoặc trả lại vốn đầu tư. Vốn đầu tư của họ phải chịu rủi ro vì nhà đầu tư được hưởng lợi nếu công ty phát đạt, nhưng có thể mất hết nếu công ty phá sản. Sau khi đã góp tiền hay tài sản vào một công ty, những nhà đầu tư được nhận cổ phiếu thể hiện quyền được hưởng những khoản lợi từ việc chấp nhận rủi ro này. Trong hầu hết các trường hợp, các cổ phiếu được phép chuyển nhượng tự do, do đó các cổ đông có thể bán các cổ phiếu của mình cho những nhà đầu tư khác. Hoặc có thể rời bỏ công ty hoàn toàn nếu họ muốn.

Một đặc điểm nữa của công ty cổ phần là có thời gian tồn tại vô hạn. Khả năng của công ty có thể hoạt động vô thời hạn mang lại tính ổn định cho doanh nghiệp, đảm bảo rằng công ty có thể tồn tại lâu hơn những người sáng lập ra nó.

Công ty cổ phần đã trở thành hình thức tổ chức doanh nghiệp mang tính thống trị nhằm giải quyết nhu cầu về vốn cho tăng trưởng. Đây là hình thức huy động vốn trên quy mô lớn một cách hiệu quả nhất. Các cổ đông có thể đầu tư vào công ty mà không phải chịu rủi ro về trách nhiệm cá nhân và không phải lệ thuộc vào uy tín hay độ tin cậy của những người cùng đầu tư như trong hình thức hợp danh. Họ có thể phân tán rủi ro thông qua đầu tư vào nhiều công ty khác nhau, với mục đích tối đa hóa lợi nhuận thu được.

HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ

Để đổi lấy những lợi ích như trách nhiệm hữu hạn, thời gian hoạt động vô thời hạn và khả năng chuyển nhượng cổ phiếu, nhà đầu tư trao quyền quản lý công ty cổ phần cho một nhóm người được ủy thác nhiệm vụ ra những quyết định vì lợi ích cao nhất của công ty và mọi nhà đầu tư vào công ty chứ không vì một bộ phận nhà đầu tư nào đó. Theo cách này, công ty cổ phần không bị điều khiển bởi một nhóm nhà đầu tư có lợi ích đặc biệt và các cổ đông được bảo vệ trước các ý định đặc biệt nào đó. Nhóm người được ủy thác này, được các cổ đông bầu chọn, được gọi là hội đồng quản trị.

Phần lớn pháp luật điều chỉnh các công ty cổ phần liên quan đến hội đồng quản trị, với nhiều quy định cụ thể được xây dựng nhằm củng cố lòng tin của nhà đầu tư rằng các thành viên hội đồng quản trị sẽ làm những điều đúng đắn. Hội đồng quản trị chịu trách nhiệm quản lý hoặc định hướng cho các hoạt động của công ty. Trên thực tế, hội đồng quản trị ủy quyền ra quyết định điều hành hoạt động hàng ngày của công ty cho những người chuyên trách. Hội đồng quản trị bổ nhiệm một tổng giám đốc điều hành (CEO) để điều phối và giám sát hoạt động điều hành và CEO được quyền thuê những người quản lý doanh nghiệp.

Nhưng các lợi ích của cổ đông, thành viên hội đồng quản trị và người quản lý đôi khi có thể mâu thuẫn. Chẳng hạn, một số cổ đông có thể muốn nhận cổ tức, trong khi các cổ đông khác và những người điều hành lại muốn tái đầu tư lợi nhuận và thúc đẩy sự tăng trưởng của doanh nghiệp. Hội đồng quản trị phải giải quyết những lợi ích mâu thuẫn này thông qua những quyết định vì lợi ích cao nhất cho công ty và mọi cổ đông của công ty.

SỰ HỘI TỤ CÁC MÔ HÌNH QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP

Tại nhiều quốc gia có hệ thống thông luật, các cổ đông là những người được hội đồng quản trị quan tâm nhất trong quá trình ra quyết định. Các quốc gia khác như Pháp, Đức và Hà Lan có truyền thống chú trọng đến lợi ích của những người có quan hệ lợi ích khác, bao gồm người lao động, chủ nợ, khách hàng và cộng đồng dân cư nơi công ty hoạt động. Thực trạng quản lý doanh nghiệp hiện nay có xu thế hội tụ các mô hình này.

Lợi ích nhà đầu tư đang ngày càng trở nên đặc biệt quan trọng do bản chất toàn cầu của hoạt động đầu tư hiện đại, sự xuất hiện của nhà đầu tư có tổ chức như một thế lực thống trị và việc chú trọng đến bảo vệ sự đầu tư—bất kể trụ sở chính của công ty ở đâu. Hơn nữa, hội đồng quản trị ngày càng ý thức được sự cần thiết phải đối xử công bằng với các đối tượng không phải là cổ đông và cần quan tâm đến lợi ích của họ để công ty có thể thành công về phương diện tài chính, cũng như đáp ứng được các nhu cầu về trách nhiệm xã hội của công ty do các đối tượng đó đặt ra. Do vậy sự hội tụ là từ hai phía. Ví dụ, khi Johnson&Johnson, một công ty dược phẩm, loại bỏ ngay lập tức một cách tự nguyện tất cả các chai Tylenol có thể đã không còn tinh khiết khỏi hệ thống phân phối, công ty đã thể hiện trách nhiệm của mình đặt lên trên kết quả về tài chính.

Trách nhiệm trước các cổ đông và những người có quan hệ lợi ích khác được đảm bảo bằng một loạt các nghĩa vụ - được quy định theo những mức độ khác nhau tại nhiều quốc gia phát triển - thành viên hội đồng quản trị phải tuân thủ khi ra quyết định. Những nghĩa vụ này được biết tới như là những nghĩa vụ được ủy thác. Chúng bao gồm nghĩa vụ quan tâm, nghĩa vụ trung thành với công ty, nghĩa vụ trung thực và minh bạch, nghĩa vụ hành động đúng đắn. Vi phạm bất kỳ nghĩa vụ nào có thể dẫn đến việc thành viên hội đồng quản trị phải chịu trách nhiệm trước các cơ quan quản lý hoặc cổ đông. Ví dụ, tại Hoa Kỳ, các cổ đông có thể tự mình hoặc đại diện cho công ty kiện các thành viên hội đồng quản trị để được bồi thường do một sự vi phạm nào đó về nghĩa vụ được ủy thác. Các trường hợp như vậy khá phổ biến tại Hoa Kỳ, qua việc cổ đông kiện các công ty Enron, Tyco và WorldCom, bên cạnh những công ty khác. Một số vụ kiện là xứng đáng và một số thì không, nhưng khả năng xảy ra của các vụ kiện như vậy là một động lực lớn để hội đồng quản trị hoạt động tốt hơn.

Các cổ đông cũng có thể hành xử theo cách của "thị trường chứng khoán Phố Wall" và bán các cổ phiếu đi nếu họ không hài lòng với những gì đang diễn ra trong công ty. Các cơ quan quản lý có thể can thiệp trong trường hợp có vi phạm nghiêm trọng. Tại các quốc gia khác, sự hiện hữu và khả năng đảm bảo thực thi các nghĩa vụ của thành viên hội đồng quản trị này có thể rất khác biệt. Nhưng rõ ràng là những nghĩa vụ không kèm theo chế tài có thể là vô nghĩa.

CHẤP NHẬN RỦI RO VÀ TRÁCH NHIỆM

Có lẽ là hợp lý khi đặt vấn đề liệu các thành viên hội đồng quản trị có cảm thấy thoải mái khi ra những quyết định có thể mang lại những kết quả tốt cho công ty nhưng lại có tính rủi ro hoặc bất định. Luật pháp giúp cho các thành viên hội đồng quản trị trong trường hợp này qua việc không buộc họ phải chịu trách nhiệm về những quyết định của mình, với điều kiện là họ hành động trung thực, cẩn trọng và mẫn cán. Ví dụ, tại Hoa Kỳ, điều này được quy định bởi luật pháp của tòa án. Bên cạnh đó, các công ty có thể chịu chi phí cho việc bảo vệ các thành viên hội đồng quản trị đã hành động trung thực và họ cũng có thể mua bảo hiểm để trang trải cho các phí tổn đó. Tất cả những quy định này kết hợp với những nghĩa vụ nêu trên nhằm mục đích giảm nguy cơ sai lầm nhưng không mất đi tính hiệu quả kinh tế trong việc ra quyết định.

Để minh họa, hay xem xét tình huống này: Hội đồng quản trị của một công ty khai thác mỏ vàng đang cân nhắc quyết định mua một giấy phép tốn kém để thăm dò một khu vực với xác suất 20% sẽ có trữ lượng quặng vàng giá trị. Một nhóm các thành viên hội đồng quản trị sợ rủi ro có thể chống lại đề án này vì sợ các cổ đông sẽ kiện họ nếu việc thăm dò không mang lại kết quả. Các quyết định như thế này nói chung sẽ mang lại tai họa cho  doanh nghiệp vì các thành viên hội đồng quản trị lo sợ trách nhiệm có thể ra những quyết định kém hiệu quả về kinh tế. Một khi sự ám ảnh của trách nhiệm cá nhân bị loại bỏ, các thành viên hội đồng quản trị này sẽ có thể đưa ra những quyết định hiệu quả hơn. Hệ thống này bảo vệ các thành viên hội đồng quản trị theo cái được biết đến như là quy tắc phán quyết trong kinh doanh. Tòa án sẽ bảo vệ các thành viên hội đồng quản trị sử dụng việc phán quyết trong kinh doanh trung thực, cẩn trọng và mẫn cán.

NUÔI DƯỠNG LÒNG TIN CỦA NHÀ ĐẦU TƯ

Các quy định liên quan đến thành viên hội đồng quản trị là một phần trong một khuôn khổ rộng hơn nhằm nuôi dưỡng lòng tin của nhà đầu tư đối với hình thức công ty cổ phần. Nhiều quy định trong khuôn khổ này có bản chất cấu trúc, bao gồm những quy định được hướng dẫn trong cải cách quản lý doanh nghiệp những năm gần đây, như quy định bắt buộc về tính độc lập của thành viên hội đồng quản trị, các cơ cấu tiểu ban yêu cầu các thành viên hội đồng quản trị độc lập họp riêng không có sự tham dự của đội ngũ điều hành nhằm thảo luận một cách thẳng thắn và cởi mở những gì họ muốn và một tiểu ban kiểm toán tích cực.

Gần đây, tiến trình quản lý doanh nghiệp đã bắt đầu tập trung vào các cách thức khác nhằm tăng cường tính thanh liêm của thành viên hội đồng quản trị và đội ngũ điều hành. Ví dụ, Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán và Hối đoái Hoa Kỳ William Donaldson đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc các thành viên hội đồng quản trị và đội ngũ điều hành cấp cao định ra những chuẩn mực cao về đạo đức. Sắp tới, tiến trình quản lý doanh nghiệp sẽ nỗ lực tìm kiếm các thành viên hội đồng quản trị có thiên hướng đạo đức, những người được phú cho các phẩm chất được nhà kinh tế học thế kỷ 18 Adam Smith tôn trọng, như tính cẩn trọng, công bằng, nhân từ, chừng mực, đúng đắn và ôn hòa. Hội đồng quản trị gồm những người có ít nhất một vài phẩm chất này sẽ củng cố lòng tin của nhà đầu tư đối với hội đồng quản trị và công ty. Hơn nữa, các thành viên hội đồng quản trị thể hiện thiên hướng đạo đức sẽ có xu hướng ra những quyết định rủi ro nhưng hiệu quả, vì sẽ ít có khả năng tòa án quy kết trách nhiệm đối với những người này.

Sự tồn tại của một chế độ quản lý doanh nghiệp đáng tin cậy sẽ có ý nghĩa quan trọng đối với quyết định của một cá nhân đầu tư có mua cổ phiếu của công ty đó hay không. Nhà đầu tư chắc chắn sẽ không muốn góp vốn vào một công ty cổ phần có hội đồng quản trị và đội ngũ điều hành không đáng tin là có thể làm những điều tốt cho tất cả các cổ đông. Quyết định của mỗi nhà đầu tư tiềm năng đối với việc có đầu tư hay không vào một công ty có thể khái quát hóa ở cấp quốc gia để minh họa cho tầm quan trọng của quản lý doanh nghiệp ở tầm vĩ mô. Nếu một quốc gia hoặc khu vực thể hiện được một cơ sở hạ tầng về quản lý doanh nghiệp, dù nhà nước hay tư nhân, nền kinh tế chung sẽ có lợi từ sự gia tăng nguồn vốn đầu tư cục bộ và trong nước.

KINH NGHIỆM CỦA BRAXIN

Những cải cách gần đây tại Braxin mang lại một sự minh họa hữu ích về lòng tin của nhà đầu tư đối với sự trong sạch của công ty cổ phần có thể là một thành tố quan trọng như thế nào đối với sự tăng trưởng của thị trường vốn. Một chương trình cải cách được khởi xướng từ thị trường chứng khoán Braxin tháng 10/2000 sau nhiều năm trì trệ. Chưa đầy một năm sau, thị trường thứ hai, được gọi là Novo Mercado đi vào hoạt động. Novo Mercado quy định những chuẩn mực quản lý doanh nghiệp chặt chẽ như là điều kiện tiên quyết đối với việc niêm yết và đã thành công trong việc thu hút đầu tư. Các quy định về quản lý doanh nghiệp như Novo Mercado đặt ra củng cố lòng tin của nhà đầu tư vào tính trong sạch của công ty và những người giám sát nguồn vốn của nhà đầu tư. Ví dụ, quy tắc điều chỉnh các giao dịch liên quan đến sự xung đột lợi ích đã thúc đẩy một môi trường minh bạch và những người tham gia thị trường có đầy đủ thông tin. Bên cạnh đó, các quy định quản lý doanh nghiệp bảo vệ quyền của cổ đông đảm bảo các thành viên hội đồng quản trị và những người quản lý chịu trách nhiệm trước nhà đầu tư.

Novo Mercado thể hiện tầm quan trọng của tính công khai, minh bạch và sự tồn tại của chế độ quản lý doanh nghiệp tốt đối với nhà đầu tư. Bài học này không chỉ có ý nghĩa đối với các quốc gia có sở giao dịch chứng khoán - mà nó có ý nghĩa đối với bất kỳ công ty cổ phần và quốc gia nào tìm kiếm nguồn vốn mới cho tăng trưởng từ thị trường vốn toàn cầu đang ngày càng trở nên tinh vi. Và nó cũng không kém phần ý nghĩa đối với các tổ chức cung cấp vốn khác, như ngân hàng, về khả năng cải thiện tính kinh tế bằng việc cải thiện chế độ quản lý doanh nghiệp của chính mình nhằm thu hút tiền gửi và chế độ quản lý doanh nghiệp của các đối tượng vay vốn thông qua việc cấp tín dụng cho những đối tượng có chế độ quản lý doanh nghiệp tốt.

Các nước đang phát triển có thể tham khảo các mô hình quản lý doanh nghiệp đang tồn tại trên thế giới trong việc xây dựng các quy định và nguyên tắc quản lý doanh nghiệp cho mình. Trên thị trường vốn toàn cầu, những quy định và nguyên tắc này có thể đóng vai trò tăng cường lòng tin của nhà đầu tư về hình thức công ty rốt cuộc sẽ mang lại sự tăng trưởng và thịnh vượng kinh tế.

Ira M. Millstein là thành viên hợp danh của hãng luật Weil, Gotshal & Manges LLP và Giáo sư thỉnh giảng về Doanh nghiệp và Chiến lược Cạnh tranh tại Trường Quản lý Yale. Ông là Chủ tịch Nhóm Cố vấn Khu vực Tư nhân của Diễn đàn Quản lý Doanh nghiệp Toàn cầu do Ngân hàng Thế giới và Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) sáng lập. Ông Millstein cám ơn Rebecca C. Grapsas, một cộng sự tại Weil, Gotshal & Manges LLP, về những đóng góp quý giá cho bài viết này.

Các ý kiến được trình bày trong bài viết này không nhất thiết phản ánh các quan điểm hay chính sách của Chính phủ Hoa Kỳ.

lên đầu trang ^

Công cụ:

Printer_icon.gif In trang này



 

    Trang Web này được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ quản lý.
    Chúng tôi không chịu trách nhiệm về nội dung và tính bảo mật thông tin của các trang Web khác được liên kết đến.


Đại sứ quán Hoa Kỳ