jump over navigation bar
Embassy SealBộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Đại sứ quán Hoa Kỳ - Hanoi, Vietnam flag graphic
 
Thông tin cập nhật
 
  Các dịch vụ của IRC Dịch vụ Reference Update Tư liệu dịch Kinh tế & Thương mại An ninh khu vực Các vấn đề toàn cầu Báo chí, truyền thông và công nghệ thông tin Chính trị, xã hội và văn hóa Mỹ

Tư liệu dịch: Kinh tế và thương mại

THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG THÔNG QUA QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP
Tạp chí Điện tử của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Triển vọng Kinh tế, tháng 2/2005

QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP: THÁCH THỨC CHO SỰ PHÁT TRIỂN
Charles Oman và Daniel Blume

Các nước đang phát triển đang phải đối mặt với những thách thức khi phải chuyển từ hệ thống quản lý kinh tế chính trị dựa trên cơ chế quan hệ cá nhân sang hệ thống quản lý dựa trên pháp luật. Chính phủ các nước này cần nâng cao khả năng đối phó với việc nhiều quan chức trong các công ty âm mưu chiếm đoạt tài sản của các cổ đông khác. Trung tấm của vấn đề vẫn là hoạt động thực thi pháp luật trong khi làm thế nào để tìm ra sự cân bằng phù hợp giữa các hoạt động có tính bắt buộc và tự nguyện hiện vẫn đang được thảo luận.

Những vụ bê bối của các tập đoàn lớn ở Hoa Kỳ và châu Âu trong thời gian gần đây cho thấy những yếu kém trong công tác quản lý doanh nghiệp. Chúng ta nên nhớ rằng những vụ sụp đổ như vậy ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển ảnh hưởng nghiêm trọng đến hàng nghìn người – người lao động, người nghỉ hưu, người gửi tiết kiệm, chủ nợ, khách hàng, nhà cung cấp. Nhưng liệu công tác quản lý doanh nghiệp có thực sự cần thiết ở các nước đang phát triển, với các nền kinh tế mới hay đang trong thời kỳ quá độ, nơi mà các doanh nghiệp lớn thuộc sở hữu của gia đình, nhà nước và/hoặc nước ngoài, với cổ phiếu hiện vẫn chưa được giao dịch công khai, đang chi phối nền kinh tế và là nơi mà rất nhiều các tổ chức kinh tế không có tư cách pháp nhân đang thu hút một số lượng lớn nhân công và sản xuất ra một số lượng lớn của cải?

Chỉ sau khi xảy ra các cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997-1999 tại châu Á, Nga và Braxin, vấn đề ổn định tài chính toàn cầu mới thu hút được chú ý tới các vấn đề của thứ “chủ nghĩa tư bản gia đình trị” và sự yếu kém trong công tác quản lý doanh nghiệp ở các nền kinh tế mới đang phát triển. Tuy nhiên, kể từ đó mối lo về nguy cơ đối với các thị trường tài chính toàn cầu cùng những sức ép của nó đã lắng xuống. Đây chính là điều nguy hiểm bởi hậu quả của nó là các nước đang phát triển mất dần động lực trong nỗ lực tăng cường quản lý doanh nghiệp.

Vì thế, các nỗ lực này cần phải được tăng cường. Các nghiên cứu của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) về tầm quan trọng của công tác quản lý doanh nghiệp đối với việc duy trì tốc độ tăng năng suất ở các nước đang phát triển cùng các cuộc hội thảo bàn tròn về quản lý doanh nghiệp trong khu vực do OECD tổ chức ở châu Á, châu Mỹ Latinh, Âu Á, Đông Nam Âu và Nga đã chỉ ra rằng ngày nay chất lượng của công tác quản lý doanh nghiệp quyết định đến sự thành hay bại của những nỗ lực phát triển lâu dài tại các nước đang phát triển.

LUẬT PHÁP VÀ CÁC QUAN HỆ THÂN QUEN

Hệ thống quản lý doanh nghiệp của mỗi nước bao gồm các điều luật chính thức và không chính thức, cùng với các phương pháp và cơ chế thực thi pháp luật đã được chấp nhận, giữa các cá nhân với nhau hoặc được chấp nhận rộng rãi. Tất cả các điều luật và cơ chế này điều chỉnh mối quan hệ giữa những người điều hành doanh nghiệp và những người đầu tư vào doanh nghiệp. Các công ty được quản lý tốt với cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán có thể huy động vốn từ các nhà đầu tư nhỏ với chi phí thấp hơn nhiều so với các công ty được quản lý kém vì mức tiền bù mà các nhà đầu tư đòi hỏi khi mạo hiểm đầu tư vào một công ty được quản lý kém thường cao hơn nhiều.

Một số người vẫn xem nhẹ công tác quản lý doanh nghiệp tại các nước đang phát triển bởi số lượng ít ỏi các công ty có cổ phiếu được niêm yết và mua bán rộng rãi tại các nước này.

Sự yếu kém của hệ thống quản lý doanh nghiệp tại các nước đang phát triển có gốc rễ sâu xa từ thách thức lớn nhất mà hầu hết các nước này phải đối mặt, đó là làm sao để chuyển đổi thành công từ hệ thống quản lý kinh tế chính trị, trong đó có quản lý doanh nghiệp, dựa trên cơ chế quan hệ thân quen và bị chi phối bởi các quyết định mang tính cá nhân sang hệ thống dựa trên các luật lệ.

Tại nhiều nước thành viên của OECD, quá trình chuyển đổi từ hệ thống quản lý kinh tế chính trị dựa trên các mối quan hệ cá nhân sang hệ thống dựa trên các luật lệ chủ yếu nói chung diễn ra trước khi xuất hiện sự trỗi dậy mạnh mẽ và sự mở rộng nhanh chóng trên quy mô toàn cầu của các tập đoàn sản xuất khổng lồ vào cuối thế kỷ XIX cùng với sự thay thế chủ nghĩa tư bản độc quyền (với các tổ chức kinh tế thuộc quyền sở hữu cá nhân, không có tính chất pháp nhân) bằng chủ nghĩa tư bản doanh nghiệp toàn cầu.

Vì thế ngày nay các nước đang phát triển đang phải đối mặt với những thách thức mà chính nhiều nước OECD cũng không biết đến: làm cách nào để chuyển đổi từ hệ thống quản lý dựa trên cơ chế thân quen sang hệ thống quản lý dựa trên luật lệ khi mà các công ty lớn thuộc sở hữu cá nhân hay nhà nước đóng vai trò trụ cột trong nền kinh tế (dù cổ phiếu của họ có được mua bán trên thị trường cổ phiếu hay không) và do đó có tác động rất lớn đến hệ thống quản lý doanh nghiệp. 

CẠNH TRANH ĐỘC QUYỀN BÁN VÀ CÁC THẾ LỰC TRONG DOANH NGHIỆP

Tầm quan trọng và sự khó khăn của thách thức này được phản ánh qua sự lan tràn của hai hiện tượng thường tác động tương hỗ với nhau ở các nước đang phát triển. Một trong những hiện tượng đó là khả năng những thế lực trong nội bộ công ty có thể thao túng môi trường kinh tế để chiếm đoạt những khoản thu nhập không tương xứng với công sức lao động hay vốn đầu tư. Họ thường né tránh việc tiết lộ những thông tin cần thiết cho việc định giá doanh nghiệp. Tuy nhiên, mức chênh lệch giữa giá cổ phiếu kiểm soát của một công ty và mức giá cổ phiếu trên thị trường tự do có thể được dùng như một chỉ số khách quan để định giá doanh nghiệp. Có thể lấy ví dụ trong những năm 90, mức chênh lệch trung bình ở châu Mỹ Latinh là 33%, ở các nước có nền kinh tế quá độ thuộc Trung Âu là 35%, trong khi mức chênh lệch này chỉ là 2% ở Nam Phi, Mỹ và Anh. Đối với các nước Tây Âu, mức chênh lệch này là 8%.

Hiện tượng thứ hai là hậu quả của sự tranh giành độc quyền bán giữa các thế lực lợi ích khác nhau nằm trong một thể chế chính trị và kinh tế (độc quyền bán là một thị trường có rất ít nhà cung cấp và nhà cung cấp nào cũng có khả năng tác động đến giá cả hoặc mức độ canh tranh trên thị trường). Đôi khi, các nhóm như vậy còn được gọi là các liên minh phân phối bởi họ có xu hướng sử dụng các nguồn tài lực, vật lực và nhân lực để bảo vệ và/hoặc mở rộng cơ sở nhằm bòn rút thêm chứ không hề sử dụng các nguồn lực này để tái đầu tư, tạo ra của cải mới cho xã hội và cho chính bản thân họ. Thành viên của các nhóm này thường bao gồm các quan chức trong các tập đoàn lớn của cả nhà nước lẫn tư nhân.

CHIẾN LƯỢC VỀ QUYỀN SỞ HỮU

Ở các nước có nền kinh tế đang phát triển, các thế lực trong các công ty thường sử dụng ba mánh khoé để lấy tiền của công ty, bằng cách chiếm đoạt của các nhà đầu tư nhỏ t và các cổ đông khác những tài sản đáng lẽ phải được chia đều cho họ nếu ở các nước nơi mà doanh nghiệp được quản lý tốt. Quan trọng nhất phải nói đến phương pháp lợi dụng cấu trúc sở hữu doanh nghiệp hình tháp trong đó một công ty nắm số cổ phần đủ để kiểm soát một hay nhiều công ty khác (tầng thứ 2), mỗi công ty ở tầng thứ 2 này lại nắm số cổ phần đủ để kiểm soát một hay nhiều công ty khác (tầng thứ 3). Cấu trúc sở hữu theo hình tháp như vậy cho phép những người kiểm soát công ty ở đỉnh tháp có thể kiểm soát tất cả các công ty trong cấu trúc dù số cổ phiếu kiểm soát của họ đối với các công ty đó, đặc biệt là các công ty ở lớp dưới, có khi chỉ rất nhỏ.

Một cách thức nữa cũng rất đáng lưu ý là sở hữu chéo (chỉ việc các công ty nắm cổ phần của nhau) và các loại cổ phiếu đa quyền (cổ phiếu trong cùng một công ty nhưng có nhiều quyền bỏ phiếu khác nhau, trong đó cổ phiếu của những người có thế lực lại có quyền bỏ phiếu cao một cách bất hợp lý). Khi được sử dụng kết hợp với nhau, ba cách thức này tạo điều kiện cho các quan chức trong doanh nghiệp kiểm soát số tài sản lớn hơn mức tương ứng với số lượng cổ phiếu của họ, còn trong trường hợp họ là giám đốc công ty, số tài sản mà họ có vượt quá số lương và thưởng mà họ được hưởng.

Việc những người nắm quyền kiểm soát công ty sử dụng các cách thức trên để bảo vệ hoặc khuyếch trương tiềm lực của họ trước đối thủ cạnh tranh làm giảm, thậm chí triệt tiêu nhu cầu tìm kiếm các kênh huy động nguồn vốn bên ngoài, chủ yếu thông qua việc quản lý doanh nghiệp tốt hơn. Các phương pháp này cũng giúp cho các giám đốc kiêm cổ đông lớn nhất, một hiện tượng phổ biến ở các nền kinh tế đang phát triển, vốn đã nắm nhiều quyền hành nhất lại được hưởng thêm các quyền lực khác. Thay vì giảm bớt quyền kiểm soát của họ qua việc bán cổ phần cho các nhà đầu tư bên ngoài thì họ lại làm ngược lại, tăng quyền kiểm soát đôi khi lên mức tối đa, vượt quyền kiểm soát tương ứng với số cổ phiếu của họ.

Đáng lo ngại là các cách làm này dễ tạo cho những người đứng đầu doanh nghiệp động cơ để lạm dụng chức quyền, mưu lợi riêng và thực hiện các hành vi tương tự nhờ số tài sản công ty mà họ nắm quyền kiểm soát. Các hành động đó không chỉ tác động xấu đến sự vận hành tự nhiên của thị trường mà còn khiến doanh nghiệp hoạt động cứng nhắc, thiếu linh hoạt và thiếu ổn định. Đối với các nền kinh tế với nguồn vốn đầu tư không dồi dào, các cách làm này thường khiến các     doanh nghiệp có xu hướng đầu tư vào các trang thiết bị tốn kém mặc dù sau đó chúng thường không chạy hết công suất. Những người nắm quyền trong công ty cũng dễ có xu hướng tranh giành, đấu đá với nhau và điều này tiêu tốn của xã hội rất nhiều tiền của khi mà các nguồn lực bị lãng phí còn các cơ hội thay đổi và phát triển thì bị bỏ qua

Các quan chức có thế lực trong doanh nghiệp ở nhiều nước đang phát triển không thể biện hộ rằng việc họ ngày càng sử dụng rộng rãi cấu trúc doanh nghiệp hình tháp, hình thức sở hữu chéo và cổ phiếu đa cấp là nhằm chống lại các áp lực và để tăng cường quản lý doanh nghiệp. Họ cũng không thể biện hộ cho sự lãng phí ghê gớm, cho việc làm biến dạng thị trường và vô số những quyết định sai lầm trong phân bổ nguồn nhân lực cũng như tài nguyên, vốn gắn liền với nạn tham nhũng và bè phái ở hầu hết các nước đang phát triển

NHỮNG VIỆC CẦN LÀM

Thách thức đặt ra cho nhiều nước đang phát triển là làm sao thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn này. Để làm được điều đó, cần phải hiểu rõ tầm quan trọng của công tác quản lý doanh nghiệp đối với các nước đang phát triển trong thời điểm hiện nay.

Tổ chức OECD đã và đang giúp nâng cao nhận thức về vấn đề này thông qua các nghiên cứu và đối thoại chính sách không chính thức về quản lý doanh nghiệp của Trung tâm phát triển của mình thông qua các chương trình đối thoại về chính sách ở cấp khu vực tại châu Á, châu Mỹ Latinh, Đông Nam châu Âu, Âu Á, Trung Đông và Bắc Phi, Nga và Trung Quốc. Bằng cách giúp các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý, các công ty, các nhà đầu tư và các cổ đông ở mỗi khu vực có cơ hội ngồi lại với nhau trong các cuộc hội thảo bàn tròn, các liên minh cải cách sẽ có cơ hội được hình thành và thúc đẩy. Các cuộc bàn luận về chính sách hiện nay xoay quanh Nguyên tắc quản lý doanh nghiệp của OECD, theo đó mỗi khu vực sẽ phát triển một chiến lược phù hợp với điều kiện cụ thể của mình và các chiến lược này sẽ được công bố trong các cuốn sách trắng của khu vực.

Đứng đầu trong danh sách những cải cách cần thực hiện sẽ là công tác tăng cường khả năng đối phó với việc lạm dụng cổ phiếu đa cấp, hình thức sở hữu chéo và cấu trúc doanh nghiệp hình tháp của những người đứng đầu doanh nghiệp. Ở nhiều nước, điều này đồng nghĩa với việc công bố công khai hơn nữa về số cổ phần sở hữu và áp dụng các biện pháp hiệu quả hơn nữa nhằm đảm bảo quyền cơ bản về sở hữu tài sản của các cổ đông thiểu số trong nước và nước ngoài.

Thách thức lớn nhất với các nước hiện nay không phải là làm thế nào để thảo ra các điều luật và quy tắc điều chỉnh công tác quản lý doanh nghiệp bởi chúng đã có sẵn. Vấn đề mấu chốt ở đây là làm thế nào để thực thi các điều luật này một cách hiệu quả. Nhiều nước đang phát triển hiện áp dụng quá nhiều điều luật và nhiều khi các điều luật này lại mâu thuẫn với nhau, gây khó khăn cho việc thực thi.

Các chế tài phù hợp, đầy đủ chính là chìa khóa cho sự thành công trong việc chuyển đổi từ hệ thống quản lý doanh nghiệp dựa trên cơ chế thân quen sang hệ thống dựa trên pháp luật. Nó cũng đặt ra câu hỏi về vấn đề lựa chọn giữa biện pháp tự nguyện hay cưỡng chế, cũng như yêu cầu phải có các thể chế giám sát và xét xử đủ mạnh để đảm bảo thực thi các biện pháp này.

CÁC VẤN ĐỀ THỰC THI CẦN ĐƯỢC XEM XÉT

Nhiều nước thành viên OECD ủng hộ biện pháp quản lý và cưỡng chế thi hành theo đó kết hợp giữa tiêu chuẩn công khai hóa cao và cơ chế giám sát tự nguyện. Tại các nước OECD người ta đang bàn luận về mức cân bằng thích hợp giữa các biện pháp cưỡng chế và tự nguyện. Đối với các nước đang phát triển, ngoài vấn đề trên cần phải đặt thêm câu hỏi về tính hiệu quả của cơ chế tự nguyện khi xét đến sự yếu kém trong công tác quản lý theo luật và năng lực giám sát hạn chế của bên thứ ba. Việc những người đứng đầu doanh nghiệp hưởng lợi từ các nguồn thông tin nội bộ vốn không được tiết lộ đến các cổ đông đại chúng, đặc biệt là tại các nước mà cấu trúc sở hữu tập trung là phổ biến cùng những hạn chế trong công tác bảo vệ quyền lợi của các cổ đông thiểu số cho thấy chính phủ sẽ vẫn tiếp tục phải đóng vai trò trung tâm.

Vai trò của các thiết chế giám sát và xét xử trong công tác thi hành pháp luật là đặc biệt quan trọng, nhất là đối với các nước đang phát triển. Kinh nghiệm gần đây cho thấy các nước đang phát triển hoàn toàn có thể thiết lập một ủy ban giám sát chứng khoán mạnh, độc lập về chính trị, đáng tin cậy với điều kiện các ủy ban này được hỗ trợ đầy đủ về kinh phí và được trao đầy đủ thẩm quyền giám sát, điều tra. Cách làm này có thể được áp dụng thành công ở tất cả các nước, đặc biệt là tại các nước có hệ thống tư pháp yếu kém bởi ủy ban này có thể hoạt động độc lập trong khi việc củng cố hệ thống tư pháp đòi hỏi rất nhiều thời gian

Tuy nhiên, các nhà hoạch định chính sách không nên nghĩ rằng chỉ có thể chọn hoặc duy nhất chế tài giám sát hoặc chế tài xét xử mà nên coi chúng là hai chế tài bổ sung cho nhau, hỗ trợ lẫn nhau. Xét trên khía cạnh phát triển lâu dài, không có thể chế nào tốt hơn cho công tác quản lý theo luật pháp và cho sự phát triển lâu dài của đất nước như một hệ thống tư pháp hiệu quả. Điều này đúng không chỉ vì hệ thống quản lý doanh nghiệp của mỗi nước luôn bao gồm nhiều luật với các quy định về thực hiện hợp đồng chứ không chỉ có duy nhất luật chứng khoán và các biện pháp cưỡng chế thi hành của nó, mà còn bởi nguy cơ những người chịu trách nhiệm giám sát chẳng hạn như Uỷ ban chứng khoán có thể bị hối lộ hoặc lung lạc bởi chính những đối tượng họ có trách nhiệm giám sát. Các nước thiếu hệ thống tư pháp độc lập và đáng tin cậy, nơi mà các liên minh phân phối nắm vai trò chi phối, thường có tỷ lệ tham nhũng hay tiêu cực cao nhất.

Việc phát triển một hệ thống tư pháp mạnh, độc lập về chính trị và được hỗ trợ tốt về kinh phí là yêu cầu tối quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý doanh nghiệp đối với hoạt động của doanh nghiệp và sự phát triển lâu dài của mỗi quốc gia.

 

Hệ thống quản lý dựa trên cơ chế thân quen thường phủ nhận những thay đổi cần thiết nhằm tăng cường công tác giám sát doanh nghiệp. Sự suy yếu và sụp đổ của hệ thống này ở nhiều quốc gia trong những năm gần đây mở ra cơ hội cho các quốc gia còn lại vượt qua những rào cản để tiến hành những thay đổi cần thiết cho cả công tác quản lý hành chính lẫn quản lý doanh nghiệp

Nhìn từ góc độ rộng hơn, để công tác quản lý doanh nghiệp được hiệu quả thì nhất thiết công tác quản lý hành chính phải tốt nhưng đồng thời để công tác quản lý hành chính được tốt thì công tác quản lý doanh nghiệp cũng phải hiệu quả. Với thế lực của những người đứng đầu doanh nghiệp và các mối quan hệ thân thiết của họ với những người nắm quyền hành chính trị ở cấp cao nhất, quá trình phát triển cần phải có sự chuyển dịch từ hệ thống nhân trị sang hệ thống pháp quyền diễn ra đồng thời trong thể chế quản lý hành chính và quản lý doanh nghiệp.

Charles Oman phụ trách công tác nghiên cứu về quản lý, đầu tư và phát triển tại Trung tâm phát triển OECD. Daniel Blume, làm việc tại Vụ các vấn đề doanh nghiệp thuộc Ban Giám đốc của OECD về các vấn đề Tài chính và Doanh nghiệp, phụ trách nghiên cứu về công tác quản lý doanh nghiệp ở các nước không thuộc OECD. Các tác giả chịu trách nhiệm cá nhân về các quan điểm nêu trong các bài viết của mình

Các ý kiến nêu trong bài viết này không nhất thiết phản ánh quan điểm hoặc chính sách của Chính phủ Hoa Kỳ.

lên đầu trang ^

Công cụ:

Printer_icon.gif In trang này



 

    Trang Web này được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ quản lý.
    Chúng tôi không chịu trách nhiệm về nội dung và tính bảo mật thông tin của các trang Web khác được liên kết đến.


Đại sứ quán Hoa Kỳ