jump over navigation bar
Embassy SealBộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Đại sứ quán Hoa Kỳ - Hanoi, Vietnam flag graphic
 
Thông tin cập nhật
 
  Các dịch vụ của IRC Dịch vụ Reference Update Tư liệu dịch Kinh tế & Thương mại An ninh khu vực Các vấn đề toàn cầu Báo chí, truyền thông và công nghệ thông tin Chính trị, xã hội và văn hóa Mỹ

Tư liệu dịch: Kinh tế và thương mại

THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG THÔNG QUA QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP
Tạp chí Điện tử của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Triển vọng Kinh tế, tháng 2/2005

CÁC CỔ ĐÔNG CẦN PHẢI MẠNH MẼ
Robert A.G. Monks

Chính phủ cần khẳng định rằng sự hiện diện hiệu quả của cổ đông trong tất cả các công ty chính là lợi ích quốc gia và chính sách của quốc gia là hỗ trợ cổ đông tham gia có hiệu quả vào quá trình quản lý các công ty thuộc sở hữu chung.

 

Trong gần 80 năm qua ở Hoa Kỳ, các luật sư và luật gia, nhất là cựu Chánh án Tòa án tối cao Louis D. Brandeis, đã đi tiên phong trong việc bày tỏ mối quan ngại về sự tách biệt ngày càng lớn giữa các cổ đông và ban quản lý công ty và tình trạng lạm dụng quyền lực trong công ty. Những lo ngại tương tự của Adolph Berle và Gardiner Means cũng được bày tỏ năm 1932 trong cuốn sách của họ với nhan đề Tập đoàn hiện đại và sở hữu tư nhân (The Modern Corporation and Private Property). Những mối quan ngại sớm được cảm nhận của tất cả những con người đi tiên phong này đã được luật gia James Willard Hurst tóm tắt rất rõ vào năm 1970 như sau:

 

Sự giám sát của cổ đông là nhân tố nội tại căn bản và trước đây nó là cơ sở để hợp pháp hóa quyền lực của công ty... Việc công dân của chúng ta muốn tiếp tục được lựa chọn lãnh đạo công ty, những người sẽ đưa ra những quyết định có ảnh hưởng đến sản xuất, việc làm và chất lượng cuộc sống, luôn được ủng hộ vì họ có trách nhiệm đối với những chủ sở hữu công ty. Theo chúng tôi, sự suy yếu trên thực tế quyền lựa chọn của cổ đông đã làm xói mòn cấu trúc của doanh nghiệp tư nhân, nền tảng của nền kinh tế quốc gia và đời sống chính trị của chúng ta.

QUYỀN NHƯỢNG LẠI CỦA CÁC NHÀ ĐẦU TƯ

Phần lớn các cổ đông đã vô tình giao quyền lực của mình cho ban quản lý công ty. Xu hướng này là hệ quả của sự gia tăng đầu tư đáng kể và nó đã để lại một khoảng trống quyền lực ngay tại trung tâm của chủ nghĩa tư bản cổ đông. Điều đó đã dẫn đến tình trạng lạm dụng quyền lực quản lý và sự phản ứng dữ dội đối với  doanh nghiệp là điều tất yếu xảy ra.

Các tổ chức đầu tư, do không có khả năng kiểm soát ban quản lý công ty, nên phải dựa vào chiến lược nắm giữ nhiều loại cổ phiếu với lợi tức cổ phiếu cao. Cổ phiếu được xem như thẻ bài cá cược trong các cuộc đua không thể dự đoán được kết quả. Do đó, các cổ đông đã từ lâu trở thành “người đánh cược” hay “người đánh bạc chứ” không phải là “chủ sở hữu”.

Việc những người được giao quyền hành lớn phải có trách nhiệm với những người mà họ phục vụ là bản chất của bất kỳ hệ thống quản lý nào; nếu không lợi ích cá nhân sẽ lấn át ở những mức độ khác nhau. Chủ nghĩa tư bản cổ đông ở Hoa Kỳ đã thất bại trong cuộc thử nghiệm này. Tính trách nhiệm cực kỳ hạn chế và không được thực hiện kịp thời. Ban quản lý công ty không có trách nhiệm thực sự đối với cá nhân các cổ đông hay các tổ chức đầu tư và các nhà quản lý quỹ, những người làm trung gian cho các cổ đông. Đến lượt những tổ chức trung gian này cũng không thực sự có trách nhiệm đối với các cổ đông cuối cùng đó là thành viên của các quỹ hưu bổng và những người mua bảo hiểm. Do đó tồn tại tình trạng thiếu hụt kép về trách nhiệm và đó là kết quả tất yếu của quyền sở hữu vắng mặt, thụ động. Đây chính là điểm yếu cơ bản của chủ nghĩa tư bản cổ đông và nó phải được khắc phục có hiệu quả nếu muốn giải quyết tất cả những yếu kém khác.

Nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa tư bản thị trường tự do là hệ thống này dựa trên sự sở hữu có hiệu quả đối với tài sản cá nhân, tức là các chủ sở hữu lựa chọn cách thức để tài sản của họ được sử dụng có lợi nhất. Vì vậy, người ta sẽ không thỏa mãn khi nhóm tài sản cá nhân duy nhất, lớn nhất - tức là cổ phần và cổ phiếu (bao gồm cả lợi ích từ cổ phần và cổ phiếu được sở hữu tập thể thông qua các tổ chức đầu tư, chủ yếu là thu nhập cho người nghỉ hưu) - lại không được sở hữu hiệu quả. Những người trực tiếp giữ cổ phiếu - ở Hoa Kỳ, 50% số cổ phiếu được giữ trực tiếp – xét về góc độ cá nhân không có vai trò quyết định vì hầu như họ không có quyền hành gì. Những người sở hữu cổ phiếu chỉ để hưởng lợi lại càng ít quyền lực hơn. (Một chủ sở hữu có lợi là người được hưởng các lợi ích từ việc sở hữu một giấy chứng nhận cổ phiếu hoặc một tài sản, bất kể dưới danh nghĩa nào). Chỉ khi cổ đông có thể đoàn kết một cách thực sự - và trong thực tế chỉ có cổ đông công ty đầu tư mới làm được – thì ban quản lý công ty mới bị buộc phải có trách nhiệm. Điều này hiếm khi xảy ra trừ khi có khủng hoảng trong công ty, khi mà thiệt hại đã xảy ra.

CÁC QUỸ ĐẦU TƯ HƯU BỔNG THỤ ĐỘNG

Ở Hoa Kỳ, truyền thống đầu tư cá nhân tồn tại mạnh mẽ với khoảng một nửa số cổ phiếu do các cá nhân nắm giữ. Phần lớn số cổ phiếu còn lại thuộc sở hữu của các công ty bảo hiểm nhân thọ, các công ty tài chính trung gian và các quỹ đầu tư hưu bổng có lợi ích trực tiếp, theo đó các công ty đầu tư để kiếm tiền hưu bổng cho nhân viên. Theo những biện pháp khuyến khích thuế mạnh mẽ vào năm 1970 - kế hoạch 401(k), một kế hoạch tiết kiệm cho người về hưu với sự đóng góp tài chính của người lao động và thường có cả khoản đóng góp của chủ lao động - các chủ lao động đang chuyển sang hướng dẫn các kế hoạch đóng góp trực tiếp. Đóng góp của chủ lao động ở Hoa Kỳ có thể và thường được trả dưới hình thức cổ phiếu của chính doanh nghiệp. Ví dụ, nhiều người lao động ở Enron nắm giữ hơn 50% tiền hưu bổng của mình dưới hình thức cổ phiếu của công ty họ. Ở nhiều tập đoàn lớn như General Electric và Coca-Cola, tỷ lệ này là 75% và ở Proctor & Gamble là hơn 90%. Khi công ty hoạt động ổn định và đang tăng trưởng thì điều này có thể chấp nhận được nhưng nếu để việc làm cũng như tiền hưu bổng của người lao động gắn với giá cổ phiếu đang tăng lên thì lại là một rủi ro nguy hiểm.

Hầu hết đóng góp của người lao động trong chương trình 401(k) ngày càng bao gồm nhiều loại cổ phiếu; đôi khi đóng góp của chủ lao động cũng vậy. Các công ty tài chính trung gian cạnh tranh gay gắt trong loại hình kinh doanh này. Các hoạt động quản trị công ty của họ, nếu có, sẽ tác động rất lớn tới mức lương hưu cũng như vấn đề quản lý doanh nghiệp ở Hoa Kỳ.

Cho đến nay chưa bao giờ có hoạt động quản trị công ty tại các quỹ đầu tư hưu bổng hoặc công ty tài chính trung gian. Trường hợp ngoại lệ duy nhất là một số quỹ đầu tư hưu bổng lớn hơn thuộc sở hữu nhà nước. Những công ty này không còn cách nào khác ngoài việc phải chịu sự quản lý công ty. (Một ví dụ đáng trân trọng là quỹ College Retirement Equity Fund—CREF). Do đó, ở Hoa Kỳ, hầu như người ta không biết là có sự phản đối việc trả lương cao cho những người điều hành hay việc thường xuyên tái định giá cổ phiếu cũng như không biết đến áp lực thường xuyên buộc các tổng giám đốc tồi phải từ chức. Có sự bất bình nhưng cũng có ghi nhận thực tế rằng các cổ đông thiếu quyền lực để làm được nhiều hơn về vấn đề này. Các tổng giám đốc ở Hoa Kỳ thường mất việc vì điều hành kém trong thời gian ngắn hạn nhưng đó là do sức ép thị trường chứ không phải là hành động của cổ đông. Vẫn còn phải chờ xem liệu các vụ bê bối gần đây ở các công ty có tạo ra sự thay đổi lâu dài hay không.

Các quỹ đầu tư hưu bổng của công ty do ban quản lý quỹ kiểm soát hầu như chưa bao giờ hoạt động. Có một sự ngầm hiểu rằng quỹ hưu bổng của mỗi công ty sẽ nằm im để tất cả các quỹ hưu bổng khác cũng nằm im như vậy vì ban quản lý công ty không muốn có bất cứ hình thức can thiệp nào vào công việc quản lý công ty để bảo vệ lợi ích chung của họ. Các công ty bảo hiểm nhân thọ, ngân hàng và công ty tài chính trung gian phải cạnh tranh với các đối thủ cùng ngành, bởi vậy hiếm khi giữa họ có sự hợp tác. Nhiều doanh nghiệp trong số đó là thành viên của các tập đoàn lớn hơn cũng đang tìm kiếm cơ hội kinh doanh ngân hàng hoặc bảo hiểm. Nhiều     doanh nghiệp có giám đốc quản lý quỹ đầu tư, do vậy họ càng thận trọng với những cách quản lý doanh nghiệp gây phản đối.

Có một trách nhiệm rõ ràng đối với tất cả các tổ chức muốn trở thành nhà đầu tư chủ động đại diện cho các cổ đông của họ - thực vậy, đó là luật ủy thác của Hoa Kỳ, mặc dù luật này ít khi được thực thi. Tuy vậy hiếm khi có hành động tập thể có thể gây ảnh hưởng như vậy. Hành động đó chỉ có trong trường hợp tình trạng hoạt động của tổ chức liên tục yếu kém trong nhiều năm hoặc sau khi có những hành vi sai phạm nghiêm trọng trong quản lý, mà lúc đó đã quá muộn.

CÁC NHÀ QUẢN LÝ QUỸ ĐẦU TƯ: NHỮNG XUNG ĐỘT VÀ KỲ VỌNG NGẮN HẠN

Những hạn chế khiến cho các tổ chức đầu tư phần lớn trở thành những chủ sở hữu thụ động cũng là những hạn chế của cá nhân các nhà quản lý quỹ đầu tư. Các chuyên gia đầu tư này quản lý các quỹ của các tổ chức đầu tư trung gian - nhất là các quỹ hưu bổng – trong số này rất ít tổ chức tự mình quản lý. Hầu hết các công ty tài chính trung gian tự quản lý quỹ của họ. Hơn 75% số người quản lý quỹ đầu tư thuộc các ngân hàng đầu tư và các công ty bảo hiểm. Hầu hết các công ty bảo hiểm không chỉ đầu tư cho những quỹ rất lớn của chính họ (chủ yếu là của những người mua bảo hiểm) mà còn đầu tư cho cả các quỹ hưu bổng của các công ty và nhà nước, khiến họ trở thành các nhà đầu tư trực tiếp đồng thời là người quản lý quỹ đầu tư.

Các điều khoản đầu tư thường được thống nhất với khách hàng. Tuy nhiên, người quản lý quỹ có trách nhiệm cao nhất trong việc lựa chọn chiến lược phù hợp nhất với các nhu cầu của khách hàng. Rõ ràng họ có quyền hành lớn trong việc đưa ra các quyết định đầu tư. Những người quản lý quỹ và chuyên gia đầu tư hàng đầu nằm trong số những người có thu nhập cao nhất ở Hoa Kỳ, với mức lương ít nhất cũng phải bằng mức lương của những người quản lý cấp cao nhất của các công ty. Việc quản lý các quỹ hưu bổng lớn của 500 công ty hàng đầu ở Hoa Kỳ (chiếm hơn 75% thị trường chứng khoán) được tập trung chủ yếu vào tay 10 nhà quản lý quỹ hàng đầu. Do đó, họ cạnh tranh gay gắt để thu hút và duy trì công việc kinh doanh của các công ty lớn, vì vậy kết quả tất yếu là họ khó lòng buộc ban quản lý các công ty phải có trách nhiệm.

Việc các nhà quản lý quỹ không có khả năng buộc ban quản lý các công ty - những người trực tiếp hoặc gián tiếp trả lương cho họ - phải có trách nhiệm, buộc họ phải tìm cách giảm bớt rủi ro bằng việc nắm giữ nhiều loại cổ phiếu khác nhau. Đây là hành động của kẻ đánh bạc chứ không phải của một chủ sở hữu. Quy trình này, như đã nói ở trên, trở nên phức tạp hơn bởi thực tế là khách hàng của các nhà quản lý quỹ mong đợi rằng quỹ hoạt động tốt trong những khoảng thời gian tương đối ngắn. Điều này làm nổi bật một trong những yếu kém nghiêm trọng nhất của chủ nghĩa tư bản cổ đông, đó là sự mất cân đối nghiêm trọng giữa khoảng thời gian trong đó người quản lý quỹ được đánh giá năng lực và khoảng thời gian lâu hơn, thường từ 5 đến 6 năm, khoảng thời gian phù hợp hơn đối với hầu hết những người hưởng lợi. Áp lực của khách hàng rõ ràng buộc người quản lý quỹ phải ngả về phía những cố phiếu được cho là có tương lai về ngắn hạn, một hiện tượng khiến cho các nhà bình luận đổ lỗi cho những người quản lý quỹ là đã gây ra các vụ tăng giá cổ phiếu ảo và sụp đổ trong bốn năm qua.

PHÁ VỠ VÒNG LUẨN QUẨN

Ở đây có một quá trình có hại và có tính phá hoại đang diễn ra. Chính vì quá trình đó mà hoạt động dài hạn tối ưu của công ty bị thiệt hại và ảnh hưởng đến lợi ích của hầu hết các nhà đầu tư. Do đó, ít có biện pháp khuyến khích các nhà quản lý quỹ để họ thể hiện kỹ năng đầu tư khi thực hiện chiến lược dài hạn, hoặc khuyến khích các nhà quản lý công ty để họ thể hiện kỹ năng quản lý chiến lược. Đồng thời, các nhà quản lý quỹ đổi lỗi cho tập thể ban quản lý công ty vì đã gây áp lực ngắn hạn và ngược lại. Phá vỡ vòng luẩn quẩn này là một trong những thách thức quan trọng nhất đối với cải cách quản lý doanh nghiệp.

Để hỗ trợ nguyên tắc cơ bản là không có quyền nếu không có trách nhiệm, các chính quyền cần khẳng định rằng lợi ích của quốc gia là bảo đảm sự hiện diện hiệu quả của cổ đông trong tất cả các công ty và chính sách của quốc gia là giúp các cổ đông tham gia hiệu quả vào việc quản lý các doanh nghiệp sở hữu chung. Cần phải thành lập một hội đồng cấp quốc gia để đảm bảo rằng tất cả các cơ quan hành pháp và tư pháp, các cơ quan quản lý cạnh tranh, các sở giao dịch chứng khoán và các tổ chức tương tự có liên quan, thực thi chính sách này.

Robert A.G. Monks là tác giả của trang web có địa chỉ http://www.ragm.com, trang web này tập hợp và phân tích thông tin và quan điểm về quản lý doanh nghiệp. Ông là người sáng lập ra công ty Institutional Shareholder Services, Inc. và đảm nhận chức vụ chủ tịch công ty từ 1985 đến 1990. Ông còn là người sáng lập ra tổ chức Lens Governance Advisors và là phó chủ tịch của quỹ Hermes Focus Asset Management ở Anh.

Các ý kiến trong bài viết này không nhất thiết phản ánh quan điểm hoặc chính sách của Chính phủ Hoa Kỳ.

lên đầu trang ^

Công cụ:

Printer_icon.gif In trang này



 

    Trang Web này được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ quản lý.
    Chúng tôi không chịu trách nhiệm về nội dung và tính bảo mật thông tin của các trang Web khác được liên kết đến.


Đại sứ quán Hoa Kỳ