jump over navigation bar
Embassy SealBộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Đại sứ quán Hoa Kỳ - Hanoi, Vietnam flag graphic
 
Thông tin cập nhật
 
  Các dịch vụ của IRC Dịch vụ Reference Update Tư liệu dịch Kinh tế & Thương mại An ninh khu vực Các vấn đề toàn cầu Báo chí, truyền thông và công nghệ thông tin Chính trị, xã hội và văn hóa Mỹ

Tư liệu dịch: Các vấn đề toàn cầu

THÁCH THỨC CỦA TOÀN CẦU HÓA
Tạp chí điện tử của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 2/2006

CHÍNH SÁCH KINH TẾ CHUYỂN ĐỔI CỦA HOA KỲ: LIÊN KẾT THƯƠNG MẠI, TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN
Josette Sheeran Shiner
Thứ trưởng Ngoại giao phụ trách các vấn đề Kinh tế, Kinh doanh và Nông nghiệp

Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ phụ trách các vấn đề Kinh tế, Kinh doanh và Nông nghiệp Josette Sheeran Shiner bàn về mối quan hệ giữa thương mại và tăng trưởng kinh tế.

Tại sao một số quốc gia lại có mức tăng trưởng kinh tế nhanh chóng trong khi các nước khác lại không? Trong giai đoạn 1975-2003, hơn một nửa số quốc gia trên thế giới có tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người hàng năm chưa đầy 1%. Khoảng 1/3 trong tổng số các quốc gia thực sự trở nên nghèo hơn. Con số này thậm chí còn lớn hơn nếu cộng cả số liệu về hơn 35 quốc gia nữa, những nước có các thể chế quá yếu kém nên không thể thu thập được con số thống kê đáng tin cậy.

Các nhà kinh tế và các chuyên gia về phát triển đang tìm câu trả lời ngày càng phát hiện ra mối liên kết với thương mại. Nếu chúng ta nhìn thế giới một cách rộng hơn trong thế kỷ qua, khó có thể tìm thấy một bằng chứng có tính hệ thống nào về những lợi ích của chế độ bảo hộ. Tuy nhiên, những ví dụ về các chính sách bảo hộ khó hiểu lại rất rõ ràng: Chủ nghĩa bảo hộ của Mỹ sau sự sụp đổ của thị trường chứng khoán năm 1929 nhanh chóng dẫn đến cuộc Đại suy thoái; các kế hoạch thay thế nhập khẩu của các nước đang phát triển trong những năm 1960 và 1970 đã cản trở tăng trưởng kinh tế; còn chủ nghĩa cộng sản đã hạn chế năng suất, hạn chế đổi mới và tự do kinh tế. Chủ nghĩa bảo hộ không mang lại bất cứ lợi ích bền vững nào.

Mặt khác, tự do hóa thương mại đang đóng góp quan trọng cho tăng trưởng kinh tế, giảm đói nghèo và tạo sự ổn định trên thế giới. Các nghiên cứu về kinh tế khẳng định rằng các nước có nền kinh tế mở tham gia nhiều hơn vào quan hệ thương mại quốc tế và đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn những nước có nền kinh tế đóng cửa. Trong những năm 1990, trong số các nước đang phát triển, những nước tham gia nhiều nhất vào thương mại quốc tế có tốc độ tăng trưởng cao gấp ba lần các nước buôn bán ít hơn.

Trung Quốc và Ấn Độ là hai ví dụ điển hình nhất về sức mạnh của tự do hóa thương mại. Ba mươi năm trước, tình trạng nghèo đói trên diện rộng xảy ra ở cả hai nước. Hiện nay, những nguồn lực tự nhiên của họ về cơ bản vẫn như trước. Sau nhiều năm hệ thống chính trị của họ hầu như không thay đổi. Tuy nhiên, giờ đây cả hai cả hai đều đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất trên thế giới. Vậy cái gì đã thay đổi? Họ đã mở cửa thị trường ra thế giới, đóng góp vào công cuộc xóa đói giảm nghèo nhanh nhất và lớn nhất trong lịch sử thế giới. Tổ chức phi chính phủ Oxfam báo cáo rằng nếu châu Phi, Đông Á, Nam Á, và châu Mỹ Latinh, mỗi khu vực gia tăng thị phần xuất khẩu trên thế giới lên 1%, thì kết quả thu được tính bằng thu nhập quốc gia có thể giúp đưa 128 triệu người thoát khỏi đói nghèo.

Hoa Kỳ là quốc gia đi tiên phong trong việc tăng cường hơn nữa các cơ hội kinh tế giống như vậy trên toàn cầu thông qua thúc đẩy tiếp cận chính sách kinh tế mới và đổi mới, sự tiếp cận này sẽ liên kết thương mại với viện trợ và phát triển.

Ngoại trưởng Codoleezza Rice đã nhấn mạnh sức mạnh của thương mại và tăng trưởng nhằm chuyển đổi các xã hội: “Đối với Hoa Kỳ, khi chúng ta suy nghĩ về việc phổ biến tự do và dân chủ bền vững, có lẽ không có công cụ nào quan trọng hơn là tận dụng chính sách ngoại giao kinh tế của chúng ta, những lợi ích của thương mại tự do, và lợi ích của viện trợ phát triển”.

Giảm bớt rào cản thương mại

Thông qua các cuộc đàm phán thương mại toàn cầu tại Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Hoa Kỳ đưa ra những đề xuất mạnh mẽ nhằm loại bỏ quan thuế, hạn ngạch và trợ cấp làm biến dạng thương mại. Chúng ta cũng kêu gọi các nước khác làm theo. Phần lớn sức mạnh của nền kinh tế Mỹ có được là do giảm rào cản thương mại của chính Mỹ và các đối tác thương mại chính của mình. Đối với hàng hóa, tỷ lệ thuế quan trung bình giảm từ 40% trong khoảng thời gian Chiến tranh Thế giới Thứ hai xuống chưa đầy 4% ở thời điểm hiện nay trong nhóm các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Giảm thuế quan khuyến khích sự cạnh tranh, đổi mới và phân bổ hiệu quả các nguồn lực, trao đổi ý tưởng và công nghệ, và đầu tư nước ngoài. Giảm thuế quan cũng giúp giảm chi phí sản xuất cho các ngành công nghiệp và giúp họ cạnh tranh trên toàn cầu. Các nước đang phát triển nắm bắt được cơ hội có một không hai để hưởng lợi ích từ tự do thương mại khi mà mức thuế quan bình quân ở những nước đó cao hơn đáng kể so với các nước phát triển, và 70% thuế quan ở các nước đang phát triển là để thanh toán cho các mặt hàng được nhập từ các nước đang phát triển khác.

Cải cách thương mại trong nông nghiệp được nhìn nhận rộng rãi là một bước quan trọng tiến tới mở rộng phát triển kinh tế, và tiếp cận các thị trường nông nghiệp thông qua các cuộc đàm phán đang diễn ra tại WTO có thể đưa hàng triệu người thoát khỏi tình trạng đói nghèo. Theo Ngân hàng Thế giới, việc gia tăng tiếp cận thị trường sẽ chiếm tới 93% lợi ích nhờ cải cách thương mại nông nghiệp trên toàn cầu mang lại. Đối với các nước đang phát triển, hầu như tất cả những lợi ích thu được là từ giảm thuế nhập khẩu của chính họ.

Tuy nhiên, chỉ riêng thương mại không thôi thì không thể tự động dẫn đến tăng trưởng, tạo công ăn việc làm và giảm đói nghèo. Nếu các nước muốn tận dụng tự do thương mại hơn nữa và khuyến khích tăng trưởng kinh tế, họ cần phải có trong tay những chính sách quốc gia đúng đắn: quản lý hiệu quả, pháp quyền, các thể chế mạnh mẽ, các chính sách kinh tế vĩ mô và tiền tệ hiệu quả, và cam kết đầu tư cho con người. Ngay cả trong những môi trường tốt nhất, có thể vẫn khó để duy trì những loại hình chính sách này. Tuy nhiên, nhiều nước đang phát triển lại đang tự trói mình bằng những chính sách cản trở hoạt động kinh doanh. Trung bình ở khu vực châu Phi tiểu Sahara, để khởi động một doanh nghiệp thì phải mất 63 ngày, còn để đăng ký công việc kinh doanh đó thì phải mất hơn 200% thu nhập bình quân đầu người hàng năm. Ở Úc, chỉ mất hai ngày và 1,9%. Nếu các nước tiến hành các bước nhằm phát triển nền kinh tế bền vững, thì các nhà đầu tư cảm sẽ thấy tự tin hơn khi làm ăn và đầu tư vào những thị trường đó. Môi trường thuận lợi cho kinh doanh sẽ giúp thu hút nhiều hơn đầu tư trực tiếp nước ngoài, góp phần tạo công ăn việc làm, tăng lợi nhuận và tăng trưởng kinh tế.

Quỹ Thách thức Thiên niên kỷ

Nhận thức được vấn đề này, Tổng thống Bush đã đề xuất một chương trình viện trợ phát triển mới gọi là Quỹ Thách thức Thiên niên kỷ (MCA). Cơ quan phụ trách quỹ này (the Millenium Challenge Corporation-MCC), dựa trên những bài học về phát triển trong 50 năm qua là gắn các chính sách kinh tế đúng đắn với các cơ hội đầu tư và thương mại mới. MCC hoạt động chủ yếu như một chương trình viện trợ, nhưng nó cũng giúp tạo dựng một môi trường hỗ trợ lợi ích của thương mại tự do hơn nữa.

Hoa Kỳ cũng điều hành các chương trình gắn các sáng kiến xây dựng năng lực thương mại (TCB) với các sáng kiến thương mại và đưa TCB trở thành một phần không thể tách rời trong chương trình nghị sự về thương mại ở cấp độ song phương, khu vực và toàn cầu - mang đến cho các nước đang phát triển những công cụ cần thiết để tận dụng thương mại mở. Thực vậy, Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ đã thành lập một văn phòng đặc biệt, chuyên trách các vấn đề xây dựng năng lực thương mại. Những nỗ lực này đã đưa Hoa Kỳ trở thành nhà tài trợ lớn nhất viện trợ TCB, cung cấp hơn 1,3 tỉ đô-la năm 2005 và cam kết sẽ tăng gấp đôi lên 2,7 tỉ đô-la hàng năm vào năm 2010.

Cách tiếp cận đổi mới của Mỹ khi liên kết thương mại với viện trợ và phát triển đã thu được những kết quả thực sự. Hiệp định Tự do Thương mại (FTA) Hoa Kỳ-Trung Mỹ lần đầu tiên đánh dấu việc TCB trở thành một phần không thể tách rời trong các cuộc đàm phán FTA. Ví dụ, Hoa Kỳ giúp nông dân El Salvador mở những thị trường mới bằng cách cải tiến kỹ năng tiếp thị, tiêu chuẩn thực phẩm, gia tăng năng suất, và dịch vụ hỗ trợ kinh doanh các mặt hàng nông nghiệp của họ. Thu nhập bình quân đầu người đã tăng hơn gấp đôi. Từ đó, mô hình này đã được sử dụng trong các cuộc đàm phán FTA của Mỹ với các nước Nam Mỹ, Liên minh Thuế quan Nam Phi, Thái Lan và các nước khác.

MCC cũng thúc đẩy thành tích này. Từ khi được thành lập năm 2004, cơ quan này đã ký các chương trình viện trợ với tổng số hơn 900 triệu đô-la với năm quốc gia: Madagasca, Honduras, Cape Verde, Nicaragua và Georgia. Hơn hai năm sau khi công bố các chỉ số MCA tháng 2/2003, khoảng thời gian trung bình để khởi động một doanh nghiệp đã giảm từ 61 ngày xuống còn 46 ngày ở các nước ứng viên của MCA. Theo các quan chức của Ngân hàng Thế giới, nhờ những ảnh hưởng có tính khuyến khích của MCA mà Paraguay đã đưa vào thực hiện những cải cách về chính sách năm 2004. Việc này giúp nâng cao thành tích của MCA về chỉ số “thời lượng để khởi động doanh nghiệp” và gia tăng khoảng 20% số công ty đăng ký hoạt động hơn thường lệ.

Tự do hóa thương mại là thành tố quan trọng và cần thiết cho một chương trình tăng trưởng kinh tế thành công. Hoa Kỳ cam kết giúp các quốc gia thịnh vượng về kinh tế và giảm đói nghèo trên toàn cầu. Chúng ta đang ở trên chiến tuyến, làm việc cật lực với cộng đồng quốc tế và các quốc gia nhằm gia tăng những cơ hội đó. 135 đại sứ quán và lãnh sự quán của Hoa Kỳ trên thế giới đã tích cực tham gia thúc đẩy chính sách này. Nhiều quốc gia đang phát triển hiện đã nhận thức được tầm quan trọng sống còn phải liên kết tự do hóa thương mại với tăng trưởng kinh tế. Việc chúng ta đưa vào thực hiện các trương trình hỗ trợ nỗ lực này ngày càng trở nên quan trọng. Cùng nhau hợp tác, chúng ta tự tin rằng chúng ta có thể gia tăng sự thịnh vượng về kinh tế toàn cầu trong thế kỷ XXI.

lên đầu trang ^

Công cụ:

Printer_icon.gif In trang này



 

    Trang Web này được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ quản lý.
    Chúng tôi không chịu trách nhiệm về nội dung và tính bảo mật thông tin của các trang Web khác được liên kết đến.


Đại sứ quán Hoa Kỳ