jump over navigation bar
Embassy SealBộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Đại sứ quán Hoa Kỳ - Hanoi, Vietnam flag graphic
 
Thông tin cập nhật
 
  Các dịch vụ của IRC Dịch vụ Reference Update Tư liệu dịch Kinh tế & Thương mại An ninh khu vực Các vấn đề toàn cầu Báo chí, truyền thông và công nghệ thông tin Chính trị, xã hội và văn hóa Mỹ

Tư liệu dịch: Các vấn đề toàn cầu

THÁCH THỨC CỦA TOÀN CẦU HÓA
Tạp chí điện tử của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 2/2006

CÁC VẤN ĐỀ TOÀN CẦU TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
Stephen P. Heyneman

Stephen P. Heyneman là Giáo sư về chính sách giáo dục quốc tế tại trường Đại học Vanderbilt ở Nashville, Tennessee. Ông là một tác giả thường xuyên tham gia viết bài cho các tạp chí chuyên ngành, ông đã làm việc cho Ngân hàng Thế giới trong 22 năm và đã đi tới hàng chục quốc gia trên thế giới.

Các vấn đề toàn cầu đang ảnh hưởng tới mọi mặt đời sống hàng ngày và tới các chính sách của chúng ta. Trong những năm 1970 chẳng hạn, ngân sách chính phủ là nguồn tài trợ chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Ngày nay, đầu tư tư nhân vượt xa so với viện trợ nước ngoài và hỗ trợ từ chính phủ. Trước kia, các quyết định sản xuất được thực hiện dựa trên cơ sở của các nhà cung cấp gần nhau về mặt địa lý và nói cùng một ngôn ngữ. Ngày nay, các quyết định sản xuất được đưa ra dựa trên lợi thế cạnh tranh trên phạm vi thế giới. Một nhà máy lắp ráp máy tính có thể nằm ở Nashville, Tennessee; ở Bắc Ailen hoặc ở Malaysia; một nhà máy dệt có thể được đặt ở Bangalore, Ấn Độ hoặc ở Sonora, Mexico; một trang trại trồng cây ăn quả mùa đông có thể ở Florida, Chilê hoặc Marốc.

Tham vọng về giáo dục

Các ảnh hưởng toàn cầu cũng tác động đến giáo dục đại học. Ngày nay, mỗi quốc gia đều có 3 tham vọng lớn về giáo dục. Thứ nhất là nhu cầu được tiếp cận giáo dục đại học, và trên khắp thế giới, mức độ tham gia vào bậc giáo dục đại học đang ngày càng tăng lên nhanh chóng. Vào cuối những năm 1960, không có quốc gia nào ở Tây Âu có số người trong độ tuổi tham gia giáo dục đại học (từ 18 đến 22 tuổi) chiếm hơn 8% dân số; hiện nay, không có quốc gia nào ở Tây Âu mà tỷ lệ dân tham gia giáo dục bậc đại học lại dưới 35%. Tỷ lệ này trên phạm vi thế giới tăng lên hàng năm từ 10-15%, kể cả các quốc gia có thu nhập trung bình và thấp ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh.

Kết quả là: Có một vài nơi trên thế giới có giáo dục đại học được xếp ở vị trí “siêu sao”, có nghĩa là chiếm gần 15% nhóm tuổi từ 18 đến 22 tuổi. Giáo dục đại học nay đã trở thành “giáo dục phổ thông”. Số người tham gia giáo dục đại học ở trường Đại học Quốc gia Autónoma de México là 269.000; trường Đại học Delhi là 309.000; và trường Đại học Anatolian (Thổ Nhĩ Kỳ) có hơn 1 triệu sinh viên; trường đại học tư nhân lớn nhất thế giới - Islamic Azad ở Iran - với 145 khu trường học, thì có tới 850.000 sinh viên. Hình ảnh truyền thống về những trường đại học chỉ đào tạo cho một số ít người có thể sẽ phải thay đổi. Sự thật là giáo dục đại học ngày nay thường mang tính phi cá nhân – những sinh viên xếp hàng dài dẫn đến các hội trường học cổ xưa, các thư viện với nhiều chỗ trống trên giá sách, các bức tường rạn nứt, màu sơn loang lổ và các vòi nước bị rò rỉ ra ngoài.

Tham vọng thứ hai của tất cả các quốc gia là cải thiện chất lượng giáo dục đại học. Trong thập kỷ vừa qua, đã có một cuộc cách mạng về tiêu chí chất lượng giáo dục đại học. Ngày nay, một nền giáo dục có chất lượng cao yêu cầu phải trang bị các thiết bị điện tử trong lớp học, các khu nội trú, các thư viện, các phòng thí nghiệm khoa học và các phòng nghiên cứu. Các sinh viên đôi khi cũng đã lớn tuổi, làm việc nửa ngày và sống ở cách xa trường học. Một nền giáo dục chất lượng cao không chỉ dựa trên sách vở mà còn phải liên tục cập nhật thông tin từ các nguồn tài liệu in hoặc tài liệu điện tử. Thông tin cho sinh viên có sẵn và được xem ngay trên mạng trực tuyến. Họ có thể truy cập thông tin ngay cả khi họ đang sống ở xa trường hoặc đang đi du lịch.

Hơn nữa, việc giảng dạy tại các phòng học cũng đã thay đổi. Thời gian lên lớp không kéo dài để cung cấp thông tin cho sinh viên mà dành để phân tích những thông tin mà sinh viên đã có trước khi đến lớp. Internet và các dạng thông tin điện tử khác đã làm thay đổi các thư viện học thuật và khiến các thư viện này có chất lượng phục vụ cao hơn. Sinh viên và giảng viên không cần phải có mặt ở thư viện nữa. Nếu như trước kia, chất lượng phục vụ của một thư viện được đánh giá bằng số lượng sách được mượn thì giờ đây tiêu chí này dựa trên số lượng thông tin đã được truy cập. Sự khác biệt là rất lớn. Tất cả các thư viện chất lượng cao đều có đủ tiền để trang bị “các mạng lưới thông tin” riêng, ở đó mọi người có thể nhận và chia sẻ thông tin với người khác.

Mạng lưới thông tin của các thư viện khoa học là các mạng lưới xuyên quốc gia, bao gồm cả thư viện của các trường đại học ở châu Âu, châu Á và Bắc Mỹ. Chính khả năng truy cập thông tin là tiêu chí để phân biệt các thư viện nổi tiếng với các thư viện tầm thường. Tất cả các dịch vụ học thuật, kể cả giảng dạy và thư mục, đều được cung cấp dễ dàng đến độc giả nhờ vào các dải truyền thông tin. Trên thực tế, việc xếp loại các trường đại học còn dựa trên kích cỡ dải truyền thông của trường đại học đó (xem biểu đồ kèm theo). Các trường đại học có băng truyền tốc độ thấp sẽ không thể có chất lượng cạnh tranh với các trường đại học có dải truyền thông tốc độ cao.

Tham vọng thứ ba của các trường đại học trên thế giới là cải thiện tính công bằng, có nghĩa là cấp học bổng và hỗ trợ đào tạo cho các sinh viên giỏi xuất thân từ các gia đình nghèo hoặc từ những nơi không có điều kiện giáo dục tốt. Nhiều lớp chọn của các trường đại học sẽ có đủ nguồn lực để cấp học bổng cho một sinh viên trong ba năm học, thông qua việc kêu gọi hỗ trợ từ phía nhà nước.

Các nguồn tài chính

Nhưng cả ba tham vọng này thực hiện cùng một lúc là một công việc yêu cầu một lượng chi phí rất lớn, và chỉ có một vài quốc gia có đủ khả năng tài chính thực hiện cả ba tham vọng này từ những nguồn kinh phí của nhà nước. Với số lượng sinh viên và những yêu cầu về chất lượng và bình đẳng ngày càng tăng lên, các nguồn kinh phí của nhà nước sẽ là không đủ. Vấn đề thiếu hụt nguồn tài chính thường xuyên được đặt ra và đặt nền giáo dục trước một vấn đề toàn cầu: làm thế nào để nền giáo dục đại học có thể trang trải cho những mục tiêu của mình, kể cả mục tiêu truyền thống là một lợi ích công cộng?

Khó khăn này được đặt ra đối với cả các trường đại học công lập và tư nhân. Các trường đại học công lập ở Mỹ hiện nay chỉ có từ 15-20% ngân sách được nhà nước tài trợ theo luật định. Các trường công này có trách nhiệm tự tìm ra nguồn tài chính cho mình . Và như vậy, các trường công lập chất lượng cao và các trường tư nhân sẽ có nhiều điểm tương đồng về mục tiêu và chiến lược quản lý. Theo nhận định của tôi thì tất cả các trường đại học có 4 sự lựa chọn để tìm nguồn tài chính cho hoạt động của mình:

  • Họ có thể tăng thu nhập từ các nguồn truyền hống (như tăng học phí, cho thuê các phương tiện trong trường, tăng số lượng máy chiếu).
  • Họ có thể đa dạng hoá các nguồn thu mới (ví dụ như thiết lập bản quyền đối với các phát minh hoặc đầu tư vào các thị trường chứng khoán).
  • Họ có thể phân bổ các nguồn tài chính hiện có một cách hiệu quả hơn ( ví dụ như chuyển từ qui định chi tiêu cho từng hạng mục thành qui định chi tiêu cho cả một bộ phận, hay phân biệt mức trả lương cho giáo viên, v.v....); hoặc
  • Họ có thể loại bỏ các chương trình và dịch vụ đã lỗi thời (ví dụ: khoa học...).

Tất cả những sự lựa chọn này đều còn đang gây tranh cãi. Các trường đại học chất lượng cao không chỉ thành công trong việc tăng cường các nguồn lực mà còn phải tái phân bổ nguồn lực sao cho hợp lý để thưc hiện tốt chức năng là một lợi ích công cộng của mình. Tất nhiên là nhiều trường đại học đã thành công trong việc trang trải các hoạt động phục vụ mục tiêu của mình. Nhưng một số trường khác vẫn còn chậm chạp bởi họ có thể chưa nhận ra được là để có chất lượng cao, tất cả các trường đại học đều phải tự trang trải và quản lý các hoạt động của mình.

Một vài người nhìn nhận hiện tượng này như một quá trình “thương mại hoá” giáo dục bậc cao. Những người khác có thể coi đây là quá trình toàn cầu hóa của “mô hình Mỹ” trong giáo dục đại học. Theo tôi, việc tối đa hóa các nguồn lực khác nhau là một điều cần thiết. Đừng nên coi đó là thương mại hóa mà hãy nên coi đây là quá trình chuyên nghiệp hóa giáo dục đại học, nhằm theo đuổi những mục đích hợp pháp; và cũng đừng nên coi đây là một “mô hình kiểu Mỹ” mà hãy coi đó là một mô hình tốt, trong đó, giáo dục đại học phải tham gia giải quyết khó khăn toàn cầu về thiếu hụt nguồn tài chính từ ngân sách nhà nước.

Mối liên kết xã hội

Có một tác động toàn cầu khác lên giáo dục đại học được thế giới ghi nhận. Đó là cách thức mà giáo dục đại học đã đóng góp (hoặc cản trở) mối liên kết xã hội ở mỗi quốc gia. Cả giáo dục đại học công lập lẫn tư nhân đều có vai trò đảm bảo cho các công dân được sống hòa bình với người khác, với các nước láng giềng và đảm bảo cho trình độ chuyên môn của họ đáp ứng được các yêu cầu của thị trường lao động.

Mặc dù nhiệm vụ đầu tiên là giảng dạy, nghiên cứu hay đào tạo hướng nghiệp thì tất cả các trường đại học này đều có ảnh hưởng tới mối liên kết xã hội trong cộng đồng thông qua hai cơ chế. Một cơ chế là thông qua các nội dung giảng dạy chuyên nghiệp về lịch sử, văn hóa, sinh học, vật lý, máy móc và môi sinh. Các trường đại học chất lượng cao được đánh giá dựa trên tiêu chí là độ mở của chúng đối với nền văn học và thực tế thế giới, cung cấp miễn phí cho tất cả các sinh viên những thông tin về mọi chủ đề. Không có một trường đại học danh tiếng nào lại cấm đoán không cho sinh viên truy cập thông tin.

Con đường thứ hai là cách thức mà một trường đại học chọn làm khuôn mẫu về hành vi ứng xử và cách họ thể hiện những chuẩn mực về nghề nghiệp. Nó bao gồm mức độ một trường đại học có thể chứng tỏ khả năng học thuật của mình một cách trung thực và công bằng, mức độ cung cấp thông tin cởi mở của các khoa, các đơn vị hành chính, và mức độ tôn trọng các quan điểm và ý kiến khác nhau trên các diễn đàn tranh luận. Một trường đại học càng thể hiện được những tiêu chí này thì sinh viên của họ càng thể hiện được vai trò làm chủ thông qua tri thức và kỹ năng của họ, do đó, họ càng đóng góp được nhiều hơn vào quá trình làm chủ xã hội, càng thể hiện được bản lĩnh sẵn sàng hi sinh cho mục tiêu chung, và càng có cái nhìn rộng lượng, bao dung đối với quan điểm và ý kiến của người khác.

Những trường đại học đào tạo cho sinh viên khả năng làm chủ con người và xã hội thường là những trường đại học có chất lượng tốt hơn và có những đóng góp tích cực vào mối liên kết xã hội của đất nước. Còn các trường đại học xuất hiện hiện tượng tham nhũng - là những nơi mà mọi quyết định về văn bằng và tuyển sinh có thể bị thay đổi do hối lộ - thì sẽ là nguy cơ đe dọa liên kết xã hội của quốc gia đó. Thay bằng việc tạo niềm tin đối với dân chúng, các trường đại học tham nhũng sẽ tạo ra ấn tượng xấu, thái độ đối nghịch, không có lợi cho tương lai của quốc gia.

Đấu tranh chống tham nhũng trong giáo dục đại học là một vấn đề toàn cầu hiện nay và chi phí là rất lớn. Tiến trình Bologna – thông qua đó, các thành viên của Liên minh châu Âu đang phối hợp làm việc để hài hòa hóa các hệ thống giáo dục đại học – đã cho phép huy động được nhiều sinh viên và đội ngũ nghiên cứu hơn. Một hướng dẫn mới được công nhận của UNESCO cũng đã mở ra những cơ hội được tham gia vào các chương trình giảng dạy chất lượng cao cho các trường đại học trên khắp thế giới. Đối với một vài người, việc ghi danh một trường đại học chất lượng cao còn phụ thuộc vào việc trường đại học đó có biểu hiện tham nhũng hay không.

Vấn đề sẽ nảy sinh khi một trường đại học không được giám sát cẩn thận. Nếu trường đại học đó không thể chứng minh được tính trung thực của nó, thì các sinh viên của trường này sẽ gặp phải bất lợi khi họ gia nhập thị trường lao động, và công chúng có thể đặt câu hỏi nghi vấn về việc các khoản đầu tư công cộng của trường đã được chi tiêu như thế nào.

Tóm lại là, một “mô hình” giáo dục đại học thành công đang được áp dụng khắp nơi trên thế giới; trong đó, chính các trường đào tạo cấp đại học phải chi trả và có khả năng chi trả cho các mục tiêu của mình. Càng ngày chúng ta càng có thể nhận thấy rõ ràng là giáo dục đại học có vai trò thống nhất trong mối liên kết xã hội của quốc gia. Nhưng nó đồng thời có thể là vật cản đối với xã hội nếu giáo dục đại học tạo ra ấn tượng không chuyên nghiệp, hoặc đóng vai trò tích cực đối với xã hội nếu nó thỏa mãn được những tiêu chí quốc tế về giáo dục.

Các ý kiến được trình bày trong bài báo này không nhất thiết phản ánh quan điểm hay các chính sách của Chính phủ Hoa Kỳ.

lên đầu trang ^

Công cụ:

Printer_icon.gif In trang này



 

    Trang Web này được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ quản lý.
    Chúng tôi không chịu trách nhiệm về nội dung và tính bảo mật thông tin của các trang Web khác được liên kết đến.


Đại sứ quán Hoa Kỳ