Skip Global Navigation to Main Content
Skip Breadcrumb Navigation
Báo chí, truyền thông và công nghệ thông tin

SỰ RA ĐỜI CỦA CÁC PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG

Tạp chí điện tử của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 3/2006

Các đài phát thanh truyền hình lên mạng trực tuyến dù vẫn phát trên sóng

Michael Murrie

    Những tiến bộ nhanh chóng của công nghệ đã buộc các đài phát thanh truyền hình phải điều chỉnh việc phát sóng sau những làn sóng của sự thay đổi. Ngành công nghiệp này hầu như đã biến đổi tất cả những khía cạnh trong hoạt động của mình – cách thức các đài phát thanh truyền hình đưa ra chương trình phát sóng và họ làm chương trình như thế nào, và những gì mà khán giả cần và khi nào họ cần.

    Michael Murrie là Giáo sư viễn thông của Đại học Pepperdine tại Malibu, bang California. Ông cũng viết bài cho các tạp chí chuyên ngành và học thuật về các phương tiện truyền thông điện tử.


Sự vinh quang của các đài phát thanh truyền hình Hoa Kỳ trong những câu chuyện về đấu tranh để tồn tại và thành công.

Đài phát thanh tồn tại được qua thách thức do sự ra đời của truyền hình nửa thế kỷ trước là nhờ nó đã trở thành một phương tiện xách tay và thay đổi nội dung từ việc tập trung vào kịch nói sang âm nhạc dành cho khách đi lại bằng xe buýt hay tàu hỏa. Đài phát sóng AM tồn tại được trước sự phát triển của đài phát sóng FM nhờ việc đưa ra được các chương trình tin tức và thảo luận mang tính kích thích suy nghĩ người nghe.

Trong một nửa thế kỷ, truyền hình đã trở thành công cụ giải trí trên cả nước vào mỗi tối. Người dân Mỹ cùng ngồi với nhau để xem các nhân vật yêu thích, các chương trình thể thao và thông tin về các sự kiện lịch sử. Truyền hình vẫn là nguồn cung cấp tin tức và phương tiện quảng cáo chủ yếu có thể thu hút sự chú ý nhiều nhất của người Mỹ.

Tuy nhiên, ngày nay những thay đổi trong công nghệ, trong cách hành xử của khán giả và các mô hình kinh doanh đang liên tục thách thức hoạt động phát sóng truyền thống.

Những đối thủ cạnh tranh cũ

Mặc dù những đĩa CD nhạc chất lượng cao xuất hiện, song đài phát thanh vẫn thu được lợi nhuận nhiều hơn bao giờ hết trong thập kỷ 1990 sau khi có những thay đổi về quy định của Chính phủ Hoa Kỳ cho phép sự hợp nhất và sự phát sóng đồng thời cùng một chương trình của nhiều đài phát thanh khác nhau trong cùng một khu vực đô thị, cũng như sang nhiều khu vực khác. Tuy vậy, kết quả thường là các chương trình hay nhưng thiếu thông tin về địa phương.

Hội đồng Truyền thông Liên bang đã cấp phép hoạt động cho 13.450 đài phát thanh trong năm 2003, gấp hai lần số lượng đài được cấp phép năm 1970. Hoa Kỳ là một trong số ít quốc gia trên thế giới mà ở đó các đài thương mại, với con số khoảng 10.000, lại lấn lướt đài phát thanh của chính phủ.

Truyền hình gặp phải trở ngại đầu tiên của nó khi hệ thống ăng-ten dùng chung hoặc hệ thống truyền hình cáp bắt đầu bắt được tín hiệu từ các đài truyền hình khác và sau đó có thêm các kênh như CNN hoặc MTV. Những đài nhỏ của cá nhân bắt đầu hợp nhau lại thành các nhóm khi truyền hình cáp xuất hiện ở các khu vực đô thị trong những năm 1980. Các đài truyền hình cố gắng giữ khán giả của mình bằng việc nhấn mạnh rằng các quy định quốc gia yêu cầu các hệ thống cáp phải hỗ trợ các đài truyền hình địa phương.

Sự cạnh tranh gia tăng trong những năm 1990 do sự xuất hiện của các vệ tinh phát sóng trực tiếp, dịch vụ đầu tiên với tín hiệu kỹ thuật số. Truyền hình cáp cũng đưa ra các dịch vụ kỹ thuật số, làm tăng số lượng kênh từ một vài chục lên hàng trăm.

Theo thời gian, đặc biệt là khi những quy định về sở hữu được nới lỏng, các đài truyền hình đối mặt với sự cạnh tranh về các quyền lợi thu được khi làm chương trình phát sóng. Hiện nay, trong số năm tập đoàn truyền thông hàng đầu của Hoa Kỳ, tất cả đều sở hữu các kênh truyền hình cáp và ít nhất cũng sản xuất một số chương trình truyền hình. Bốn trong số chúng sở hữu các hệ thống phát hình qua cáp, bốn sở hữu các đài và mạng lưới truyền hình phát sóng, ba sản xuất phim truyện và hai sở hữu hàng trăm đài phát thanh. Mối quan hệ qua lại giữa chúng và với những tập đoàn truyền thông hàng đầu khác là phức tạp và khó theo dõi.

Trong khi đó, cả phát thanh và truyền hình đều phải đối mặt với việc khán giả có thể xem qua lịch phát sóng và ghi lại các chương trình vào băng cát-xét hoặc băng video rồi xem lại khi có thời gian. Đã hàng thập kỷ, quá trình này thật rắc rối và phức tạp để được coi là một nhân tố quan trọng, cho đến khi ra đời thiết bị TiVo (một thiết bị quay video kỹ thuật số dùng cho TV cá nhân) và những thiết bị tương tự có thể sắp xếp chương trình, đơn giản hóa việc ghi và loại bỏ các chương trình quảng cáo. Đó là lúc tầm quan trọng của lịch phát sóng bắt đầu giảm đi và bắt đầu một xu hướng hướng tới sự kiểm soát thuộc về người xem.

Sau đó, trong những năm 1990, số lượng các hộ gia đình sử dụng TV giảm đi, có lẽ bởi vì người ta quá bận rộn để xem TV. Các bộ phim trên đĩa DVD, mạng Internet, các trò chơi video và các phương tiện mới khác cũng vào cuộc cạnh tranh. Theo ngân hàng đầu tư truyền thông Veronis Shuler, vào năm 2000, tỉ lệ thời gian dùng để xem TV so với thời gian dùng Internet là 8/1, nhưng tỷ lệ này đã giảm còn 4/1 vào năm 2005.

Internet đặt ra những thách thức cạnh tranh song cũng mang đến những cơ hội cho các đài phát thanh truyền hình. Các nghiên cứu cho thấy, có một số người vừa vào Internet vừa xem TV cùng một lúc. Truyền hình có thể quảng cáo cho các chương trình của mình với những tin tức và thông tin về lịch phát sóng trực tuyến. Một đài phát thanh địa phương cũng có thể giới thiệu các chương trình của mình ở bất cứ đâu trên thế giới với một đường kết nối Internet. Các đài phát thanh truyền hình có thể hướng khán giả vào những trang web của mình để có được thông tin chi tiết hơn, song họ cũng cảm thấy khó khăn hơn trong việc hướng khán giả của các trang web tới các chương trình tin tức.

Mặc dù tổng lượng tin tức được xem tăng lên song các nhà đưa tin đã phải đối mặt với việc khán giả hay thay đổi và khó tính hơn. CNN và các đài khác cung cấp tin tức, dự báo thời tiết và tin thể thao bất cứ khi nào mà người xem cần chúng. Nhiều kênh khu vực chỉ phát toàn tin tức khác cũng học theo cách làm đó. Các đài đưa tin địa phương và đưa tin qua mạng cũng gia tăng số lượng các chương trình, đặc biệt là vào các buổi sáng.

Không còn những hạn chế về thời gian phát sóng nữa. Tin tức luôn có sẵn và được cập nhật. Các phóng viên than phiền rằng họ không có thời gian để viết các câu chuyện bởi vì họ luôn phải đưa được các tin tức mới và trực tiếp. Việc đưa tin nhanh chóng 24 giờ mỗi ngày cũng như các thông điệp tức thì từ Internet đã làm cho những người cung cấp tin, chẳng hạn như các nhà chính trị và các chuyên gia quan hệ công chúng, có ít thời gian hơn để phản ứng, đặc biệt là khi những kênh chỉ phát toàn tin tức làm cho cuộc khủng hoảng này thêm trầm trọng với những cuộc phỏng vấn phát trực tiếp qua vệ tinh. Nhiều người xem đã liên tục chuyển kênh từ tin tức sang thời tiết, tin thể thao hoặc chương trình giải trí. Một số chương trình tin tức thậm chí còn tăng số lần quảng cáo cho những tin sắp đưa của mình nhằm kéo những người xem lướt qua các kênh quay trở lại với kênh tin của mình nếu họ chuyển sang kênh khác.

Phần quan trọng nhất trong các chương trình tin tức của Hoa Kỳ, chương trình tin tức buổi tối đã bị mất dần khán giả mặc dù đã có những cố gắng để làm cho các chương trình tin tức trở nên độc đáo thông qua việc đưa thêm thông tin về bối cảnh và giải thích nhiều hơn. Năm 2005, ba mạng lưới đã mất đi người dẫn chương trình hàng đầu trong các chương trình tin tức hay nhất của mình - những nhân vật đã xuất hiện trong hàng thập kỷ - do họ nghỉ hưu hoặc chết.

Tuy nhiên, các đài phát thanh truyền hình đã tìm được những công nghệ tiên tiến để cải thiện việc đưa tin của mình. Các chương trình tin tức sử dụng những hình họa mang tính hiện thực, đặc biệt là những hoạt ảnh về thời tiết mô tả hướng đi của các cơn bão. Các tin tức trực tiếp phát qua vệ tinh đến từ khắp nơi - thậm chí là một tàu chở máy bay hay một đoàn xe quân sự đang lăn bánh qua một sa mạc. Lần đầu tiên, những người dân thường được theo dõi chiến tranh ở nước ngoài theo cách nó diễn ra. Những phóng viên theo chân các binh lính trong cuộc chiến Iraq mới đây nhất cũng có các tài khoản cá nhân trên các trang tin Internet, ngoài việc họ vẫn thường xuyên đưa tin qua đài phát thanh truyền hình.Tin tức vẫn hấp dẫn đối với người xem và vẫn sinh lời.

Xét chung, doanh thu của đài phát thanh (19,3 tỉ đô-la) và của truyền hình (44,8 tỉ đô-la) đạt cao nhất vào năm 2000 và giảm dần trong những năm tiếp theo. Truyền hình đã phục hồi, phát thanh vẫn chưa có dấu hiệu khả quan. Truyền hình cáp thì vẫn tăng đều đặn.

Vấn đề của lĩnh vực phát thanh sâu xa hơn, với tỉ lệ giảm 13% lượng khán giả trong giai đoạn 1995 – 2005. Doanh thu từ quảng cáo giảm, và do đó giá trị của đài giảm – đã làm cho một số nhà sở hữu mất đi những khoản doanh thu khổng lồ, chẳng hạn như tập đoàn phát thanh lớn nhất Clear Channel đã mất 17 tỉ đô-la trong năm 2002 và 4,9 tỉ đô-la trong năm 2005. Năm 2004, Clear Channel đã giảm thời gian dành cho quảng cáo khoảng 20% để giữ chân những khán giả có vẻ như không thỏa mãn với quá nhiều chương trình quảng cáo. Chiến lược là tăng giá và giảm thời gian dành cho quảng cáo. Năm nay, có một số dấu hiệu cho thấy chiến lược này có vẻ hiệu quả, song các đài phát thanh vẫn phải đối mặt với những vấn đề khác, trong đó có cuộc điều tra về payola (trả tiền mặt hoặc tặng quà để được phát trên đài phát thanh). Các đài phát thanh sử dụng vệ tinh liên tục tăng lên như một loại hình thay thế cho các đài thương mại và ngoài ra, sự cạnh tranh còn đến từ iPod (thiết bị nghe nhạc số) và các thiết bị kỹ thuật số tương tự vừa tiện dụng vừa làm cho âm nhạc có thể đi theo người.

iPod và các thiết bị tương tự có thể lưu trữ các nội dung phát thanh để nghe lại. Quy trình này, được goi là podcasting, cũng giống như thiết bị TiVo dành cho đài phát thanh. Nội dung có thể thay đổi từ các chương trình phát thanh quốc gia đến loại hình tin trên trang web hay tin tức được sản xuất tại nhà.

Từ lâu, người nghe đã có thể ghi lại chương trình phát thanh và nghe lại bằng thiết bị di động, song họ chưa bao giờ có nhiều nội dung, sự đa dạng, sự kiểm soát và khả năng để quản lý thông tin nhiều đến vậy.

Từ nhiều năm, ngành công nghiệp truyền hình đã nhìn thấy trước được việc tăng cường chất lượng – truyền hình với độ phân giải cao (HDTV). Bây giờ thì cuối cùng nó đã đến, dù là muộn nhiều năm.

Các đài phát thanh sử dụng kỹ thuật số cũng đã được phát triển trong nhiều năm, với cam kết đưa ra những thiết bị thu có chất lượng như nghe từ CD và được cải thiện rất lớn, song ngành công nghiệp này vẫn thiếu sự táo bạo nhằm tạo ra được sự đầu tư lớn cần thiết cho việc nâng cấp rộng lớn như vậy. Công nghệ cho phép một đài phát thanh tiếp tục phát tín hiệu tương tự thường xuyên của nó đồng thời tăng tín hiệu sử dụng kỹ thuật số.

Những đối thủ cạnh tranh mới

Có lẽ truyền hình phát sóng và truyền hình cáp đã bước vào thế kỷ 21 cùng với HDTV, những kênh mới; và cũng không khác là mấy đối với những bước nhảy vọt về công nghệ trong những năm 1990 là dịch vụ Internet băng thông rộng phù hợp túi tiền và công nghệ nén phim video.

Dịch vụ băng thông rộng là DSL (đường truyền kỹ thuật số) do các công ty điện thoại phát minh, và mô-đem cáp do truyền hình kỹ thuật số sáng tạo ra. Những dịch vụ này đưa Internet tốc độ cao và phù hợp túi tiền tới các hộ gia đình và các công ty nhỏ.

Công nghệ nén video kỹ thuật số mô tả mọi bit thông tin trong một cấu trúc video kỹ thuật số, tìm kiếm những thông tin không cần thiết hoặc thông tin mà con người không hiểu, thu gọn chúng và loại bỏ những gì không cần thiết. Kết quả là tín hiệu được làm phù hợp với ổ cứng của máy tính và còn có thể lưu hành được trên Internet. Hàng chục tín hiệu nén này được đưa vào các ống hoặc đường dẫn điện tử mà mỗi lần chỉ có thể xử lý được một tín hiệu video. Với bộ nhớ lớn hơn và tốc độ xử lý tốt hơn, các máy tính đặt bàn có thể dễ dàng chạy hay thậm chí là chỉnh sửa phim video, nhanh chóng giúp hạ bớt các rào cản đối với các nhà sản xuất nhỏ độc lập.

Công nghệ nén video kỹ thuật số giúp làm cho các tiêu chuẩn truyền hình kỹ thuật số mới có thể thực hiện được thông qua sự ủng hộ của Chính phủ Liên bang. Chính phủ yêu cầu các đài truyền hình chuyển được tất cả các kênh và tín hiệu phát sóng analog sang kỹ thuật số vào năm 2009. Sau những năm ngần ngại đầu tư vào việc chuyển đổi, hầu hết các đài cuối cùng đã phát sóng theo các tiêu chuẩn kỹ thuật số mới, trong đó thường là HDTV. Các máy thu hình kỹ thuật số đã trở nên phù hợp túi tiền và người tiêu dùng cuối cùng đã mua chúng. Các màn hình HDTV lớn thậm chí đã lại có thể kéo mọi người trong gia đình vào phòng khách để cùng xem TV, tất nhiên đi cùng với nó là việc màn hình TV cũng ngày càng trở nên nhỏ hơn và có thể di động cùng người xem cá nhân.

Với những thách thức đến từ iPod đối với các đài phát thanh thương mại, các mạng truyền hình cũng đã nhân cơ hội sản xuất các chương trình vào giờ cao điểm chỉ với giá 1,99 đô-la mỗi chương trình khi Apple cho ra đời loại iPod mới có thể xem video được. Có dấu hiệu cho thấy động thái này có thể giúp thu hút được khán giả.

Tuy nhiên, phương tiện truyền thông mới này đã đe dọa tương lai của loại hình quảng cáo trên truyền hình truyền thống vốn có lợi nhuận cao. Hai biện pháp cung cấp tài chính thay thế là phí đăng ký và phí trả cho mỗi chương trình. Bất kỳ ai cũng có thể đưa phim video lên Google để lưu hành miễn phí hoặc để mua bán. Các chương trình truyền hình trả tiền theo chương trình cũng sẵn có trên đài truyền hình cáp hoặc đài phát thanh truyền hình trực tiếp qua vệ tinh, cũng giống như việc xem và trả tiền theo từng phim. Hiện nay, các công ty sản xuất, nhà viết kịch, diễn viên, các mạng lưới truyền thanh và những đối tượng khác đang tranh chấp xem liệu doanh thu được phân chia như thế nào.

Các đài truyền hình có thể còn có thêm nhiều thách thức, lớn và nhỏ khi mà Internet cho lưu hành nhiều phim hơn nữa. Các công ty công nghệ thông tin và viễn thông đang cho ra đời IPTV (TV dùng giao thức Internet). Ai mà biết được những phim mới nào trên Internet sẽ đến từ những công ty mới và những nhà sản xuất độc lập non trẻ? Tuy vậy, xin hãy yên tâm rằng hầu hết các đài phát thanh truyền hình truyền thống sẽ tiếp tục cuộc cạnh tranh với những nguồn lực đáng kể, kinh nghiệm và những gì thừa hưởng được từ khả năng tồn tại và thành công của mình.

Những ý kiến được trình bày trong bài viết này không nhất thiết phản ánh quan điểm hay chính sách của Chính phủ Hoa Kỳ.