Tư liệu dịch: Chính trị, xã hội và văn hóa Mỹ
NỀN CÔNG NGHIỆP ĐIỆN ẢNH NGÀY NAY
Tạp chí điện tử của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 6/2007
SỰ LỚN MẠNH CỦA NHỮNG NHÀ LÀM PHIM ĐỘC LẬP
Kenneth Turan
Nền điện ảnh độc lập hiện đại Hoa Kỳ ra đời khi một số đạo diễn đầy táo bạo đã tự bỏ tiền để sản xuất những bộ phim mà các phim trường ở Hollywood không quan tâm tài trợ. Tuy nhiên, việc công chúng đánh giá cao những bộ phim có chi phí thấp nhưng chất lượng cao như vậy đã giúp điện ảnh độc lập lớn mạnh và phát triển. Kenneth Turan là nhà phê bình phim cho tờ Los Angeles Times và Chương trình Buổi sáng trên Đài Phát thanh Quốc gia (National Public Radio). Ông cũng là tác giả của một số cuốn sách như: Trong rạp hát ở khắp mọi nơi: Kỷ niệm một vở kịch ăn khách (2006) và Từ Sundance tới Sarajevo: Các liên hoan phim và thế giới của phim ảnh (2002).
Gần như tất cả các quốc gia đều tự cho rằng họ may mắn nếu thực sự có một ngành điện ảnh độc lập. Một số nơi trên thế giới - chúng ta có thể nghĩ ngay đến Ấn Độ và Hồng Kông - có ngành công nghiệp làm phim đang phát triển mạnh mẽ, và Hoa Kỳ cũng vinh dự không chỉ có một mà có hai ngành công nghiệp làm phim hùng mạnh.
Ngành công nghiệp làm phim thứ nhất với những bộ phim nổi tiếng được trình chiếu khắp nơi là ngành công nghiệp phim của Hollywood. Đây là nơi sản sinh những bộ phim ăn khách nổi tiếng. Những bộ phim như Spiderman (Người nhện) và Pirates of the Caribbean (Cướp biển vùng Ca-ri-bê) có chi phí vài trăm triệu đô-la nhưng lại sinh lời hàng tỷ đô-la từ khắp nơi trên thế giới, và nhờ đó lại tạo điều kiện để sản xuất những bộ phim tiếp theo gần như vô tận.
Nhưng trong hơn 20 năm qua, một ngành công nghiệp làm phim khác cũng song song tồn tại và phát triển mạnh mẽ ở Hoa Kỳ. Họ cũng có liên hoan phim hàng năm (Sundance tại Thành phố Park, Bang Utah) và có giải thưởng riêng tương tự như Oscars (Giải Independent Spirit Awards, được tổ chức một vài ngày trước khi diễn ra Academy Awards). Thậm chí còn nhiều rạp hát chuyên công chiếu các bộ phim độc lập của các đạo diễn, diễn viên gần như làm việc độc lập.
Điều đó không có nghĩa là không có mối quan hệ tương tác giữa hai ngành công nghiệp làm phim như vậy ở Hoa Kỳ. Trái lại, có mối quan hệ tương hỗ chặt chẽ giữa hai bên. Các ngôi sao lớn của Hollywood đôi khi được ca ngợi khi xuất hiện trên những bộ phim độc lập, ví dụ Tom Cruise đã đóng trong phim Magnolia (Hoa mộc lan) của Paul Thomas Anderson. Và nhiều ngôi sao điện ảnh độc lập đôi khi cũng đã tìm được chỗ đứng trong những bộ phim có quy mô lớn hơn của Hollywood, ví dụ diễn viên độc lập Steve Buscemi đã thủ vai trong các bộ phim ăn khách như Armageddon (Ngày tận thế) và The Island (Đảo vô hình). Các diễn viên độc lập cũng trở thành lực lượng đông đảo trong hầu hết các giải thưởng của Hollywood, giải Oscars.
Cuối cùng, có hai nhân tố khiến các bộ phim của Hollywood khác các bộ phim độc lập. Thứ nhất là ngân sách - chi phí sản xuất một bộ phim - và thứ hai là tính nhạy cảm và chủ đề - nội dung của bộ phim. Trong ngành công nghiệp điện ảnh của Hoa Kỳ, bao giờ cũng vậy, cả hai yếu tố đó có quan hệ mật thiết với nhau.
Coi trọng tính nghệ thuật
Khi chi phí sản xuất một bộ phim lên tới 100 triệu đô-la hoặc hơn - như một hãng phim trung bình thường làm - thì bộ phim đó phải thu hút tối đa khán giả, không chỉ ở Hoa Kỳ mà còn ở khắp nơi trên thế giới để hồi vốn và sinh lời. Điều đó có nghĩa phải coi trọng hành động - một yếu tố mà khán giả ở khắp nơi đều ưa thích - cũng như những yếu tố có sức hấp dẫn với lực lượng khán giả từ 25 tuổi trở xuống, bởi lẽ họ là những người đi xem phim thường xuyên nhất.
Trái lại, các bộ phim độc lập lại có chi phí ít hơn. Những bộ phim như vậy có thể được sản xuất ở bất kỳ đâu với số tiền từ vài ngàn đô-la tới 15 hoặc 20 triệu đô-la. Mặc dù số tiền đó nghe có vẻ không lớn, và quả thực không hề lớn nếu so với mức chi của Hollywood. Mức chi phí thấp hơn như vậy cho phép các bộ phim này mang tính cá nhân nhiều hơn, thể hiện được phong cách tốt hơn, quan tâm nhiều đến nhân vật và cốt truyện hơn là những pha bùng nổ. Những bộ phim này chú trọng nhiều hơn đến tính nghệ thuật và thể hiện, ít quan tâm hơn đến những gì diễn ra ở phòng bán vé. Đây chính là một trong những lý do khiến các bộ phim này có xu hướng nổi trội tại các giải Oscars hơn so với những bộ phim đắt khách.
Nếu bất kỳ một người Mỹ nào ưa thích phim ảnh muốn được xem những bộ phim có đặc tính như vậy cách đây 40 hoặc 50 năm, thì họ chỉ có thể tìm thấy trong những bộ phim tiếng nước ngoài. Đây cũng là một trong những lý do tại sao trong thập niên 1950 và 1960 lượng khán giả xem phim của Pháp, Italia, Nhật Bản, Scandinavia và của các quốc gia khác lại tăng nhiều đến vậy.
Giải pháp xây dựng ngành công nghiệp làm phim độc lập nhằm tạo điều kiện cho khán giả Hoa Kỳ được xem những bộ phim như vậy bằng ngôn ngữ của chính họ không phải không có căn cứ. Diễn viên kiêm đạo diễn đã quá cố John Cassavetes (nhà làm phim duy nhất được đặc cách trao giải thưởng Independent Spirit Awards) đã làm phim theo phương thức độc lập ngay từ năm 1957, khi bộ phim huyền thoại của ông mang tên Shadows (Bóng râm) bắt đầu những cảnh quay đầu tiên.
Nhiều người cho rằng bộ phim The Return of the Secaucus Seven (Cuộc hội ngộ của bộ 7 thành Secaucus) của John Sayles năm 1980 đã khởi đầu cho phong trào làm phim độc lập hiện đại. Bộ phim này có chi phí 60.000 đô-la, hoàn toàn do Sayles tự trang trải, một phần là nhờ số tiền kiếm được do viết lại các kịch bản phim, và cuối cùng thu về hai triệu đô-la. Lần đầu tiên, người ta đã chứng minh một cách rõ ràng rằng việc kiếm tiền và thỏa mãn nhu cầu sáng tạo hoàn toàn khả thi ngoài khuôn khổ hệ thống phim trường truyền thống.
Xây dựng ngành công nghiệp làm phim độc lập
Hai bộ phim khác, đều do Miramax - hãng phim độc lập khổng lồ trên thế giới do Harvey Weinstein và người em trai là Bob thành lập và đặt tên theo bố mẹ của họ - phân phối, đã chứng minh rõ ràng các bộ phim độc lập đều có cơ sở để phát triển. Năm 1989, bộ phim Sex, lies, and videotape (Tình dục, những lời nói dối và băng video) của Steven Soderbergh đã đoạt giải Grand Jury Prize tại liên hoan phim Sundance và tiếp tục đoạt giải Cành Cọ Vàng tại liên hoan phim Cannes, đánh dấu phim độc lập của Hoa Kỳ đã bắt đầu được công nhận trên thế giới.
Bộ phim Pulp Fiction (Chuyện tào lao) của Quentin Tarantino còn vẻ vang hơn thế, không chỉ đoạt giải Cành Cọ Vàng năm 1994 mà còn trở thành bộ phim độc lập đầu tiên thu về hơn 100 triệu đô-la từ các điểm công chiếu. Điều đó cũng cho thấy sự khôn ngoan của Disney khi hãng này đã mua lại Miramax ngay từ năm trước.
Chẳng bao lâu sau, tất cả mọi hãng phim đều hiểu rằng việc làm phim độc lập quá khác, tới mức không thể sử dụng được đội ngũ diễn viên thông thường của họ, và do vậy đã quyết định xây dựng một nhánh phim độc lập của riêng mình. Ngày nay, các chi nhánh chuyên biệt (theo cách gọi của ngành điện ảnh) bao gồm Fox Searchlight, Warner Independent Pictures, Universal Focus và Sony Pictures Classics nổi tiếng.
Những bộ phim do các chi nhánh chuyên biệt đó sản xuất là những bộ phim độc lập đầu bảng với ngân sách lớn nhất và những ngôi sao sáng giá nhất. Những bộ phim này dường như giống các bộ phim của Hollywood, nhưng trên thực tế Hollywood không còn sản xuất thể loại phim này. Một ví dụ tiêu biểu là bộ phim Little Miss Sunshine (Hoa hậu nhí ánh dương). Mặc dù bộ phim này được đề cử là phim hay nhất và kịch bản của bộ phim này đã giành được giải Oscar tháng 2/2007, song trước đó đã bị nhiều hãng phim lớn từ chối nhiều lần.
Ngoài việc thể hiện được góc nhìn khác, các bộ phim độc lập còn phản ánh nhiều đối tượng khác nhau và những câu chuyện khác nhau. Vì phim độc lập không quá tốn kém nên thế giới phim độc lập là nơi để các đạo diễn người Mỹ gốc Phi như Spike Lee và những đạo diễn đồng tính như Gregg Araki có thể sản xuất những bộ phim đề cập đến những nhân vật bị gạt ra ngoài lề của xã hội nhưng lại có khả năng đề cập tới lực lượng khán giả đông đảo.
Tín dụng của kỹ thuật số
Chi phí cũng là một nhân tố dẫn tới sự lớn mạnh của thể loại phim tài liệu trong ngành công nghiệp làm phim độc lập. Chúng ta đang sống trong thời đại khi ngày càng có nhiều phim tài liệu độc lập được sản xuất và tiếp cận nhiều khán giả hơn bao giờ hết. Có nhiều lý do, song lý do quan trọng nhất là việc quay phim bằng thiết bị kỹ thuật số với chi phí rất thấp đã giúp các nhà làm phim có “công cụ sản xuất” hữu hiệu.
Scott Hamilton Kennedy, đạo diễn phim quảng cáo và video ca nhạc, là một ví dụ. Chắc hẳn ông đã không bao giờ có thể sản xuất được bộ phim Our Town (Thành phố của chúng tôi) được công chúng mến mộ như vậy nếu ông không gặp cô giáo Thornton Wilder đang tham gia đóng kịch ở một trường phổ thông trung học ở California. Khi cô giáo kể cho ông về dự án của mình, ông biết bằng mọi cách phải ghi hình lại. Ông nói “tôi chưa bao giờ phải cố gắng quyên góp tiền, hay tập hợp cả đội làm phim. Tôi biết nếu phải phí thời gian để cố gắng làm tất cả những điều như vậy thì giây phút như vậy sẽ không có kịch bản”.
Vì vậy, Kennedy đến trường trung học với chiếc máy quay phim không hề có gì mới lạ. Ông cho biết chiếc máy quay đó cũng tương tự như bất kỳ chiếc máy quay phim nào mà bạn có thể mua ở siêu thị điện máy Circuit City. Nhưng chính vẻ bề ngoài bình dị như vậy của chiếc máy quay đã giúp các em học sinh cảm thấy thoải mái khi ở xung quanh ông, giúp ông tạo ra sự tin tưởng và gần gũi - thế mạnh lớn nhất của bộ phim. Độc lập về tài chính dẫn tới độc lập về suy nghĩ, và do đó đã giúp ngành điện ảnh Hoa Kỳ có được một số bộ phim tuyệt vời nhất trong những năm qua.
Quan điểm trình bày trong bài viết này không nhất thiết phản ánh quan điểm hay chính sách của Chính phủ Hoa Kỳ.
Sundance—HỖ TRỢ CÁC NHÀ LÀM PHIM ĐỘC LẬP TRÊN TOÀN THẾ GIỚILiên hoan phim Sundance và nhà tài trợ, Viện Sundance, đã đề xuất hỗ trợ và quảng bá cho các nhà làm phim độc lập trên toàn thế giới.
Liên hoan phim Sundance diễn ra trong 10 ngày và là một trong những liên hoan phim có uy tín nhất tại Hoa Kỳ được tổ chức vào tháng Giêng hàng năm gần những dãy núi phủ đầy tuyết của Thành phố Park, bang Utah. Lúc đầu nó chỉ được coi là đợt công chiếu các bộ phim của các nhà làm phim độc lập có triển vọng, Sundance giờ đây đã được mở rộng và bao gồm các cuộc thảo luận nhóm, các chương trình thanh niên, triển lãm trực tuyến và chương trình âm nhạc trực tiếp. Mỗi năm có tới trên 45.000 người khắp nơi trên thế giới tham dự liên hoan phim này. Kể từ khi bắt đầu vào năm 1985, một số bộ phim độc lập của Hoa Kỳ và của nước ngoài được trình chiếu tại liên hoan phim Sundance và tiếp tục nhận được một số đề cử Giải thưởng Viện Hàn lâm (Academy Award) và giải Oscars. Uy tín ngày càng lớn của liên hoan phim đã thu hút sự tham gia của những ngôi sao nổi tiếng thế giới trong quá trình tuyển chọn. Chất lượng của các tác phẩm trình chiếu cũng đã thôi thúc nhiều người đóng và đạo diễn các bộ phim độc lập, thường với mức lương thấp hơn nhiều so với tiêu chuẩn của Hollywood.
Giải thưởng do ban giám khảo và người xem bình chọn được công bố vào ngày cuối cùng của liên hoan đối với thể loại tài liệu và kịch dành cho phim của Hoa Kỳ và của nước ngoài. Giám khảo là những người có uy tín, là những nghệ sỹ đang hoạt động trong ngành điện ảnh. Ngoài các giải đặc biệt, danh sách giải thưởng bao gồm kịch bản hay nhất, diễn viên xuất sắc nhất, đạo diễn xuất sắc nhất và quay phim xuất sắc nhất. Không phải tất cả các phim được trình chiếu tại liên hoan đều tham gia cuộc thi; một số phim được lựa chọn là phim hảo hạng để thu hút sự chú ý của các nhà phân phối, trong khi một số bộ phim ngắn được tuyển chọn và phân loại theo các nhóm khác nhau và có thể xem trực tuyến trên trang web của Liên hoan phim Sundance http://festival.sundance.org/2007/.
Trong năm 2007, 64 bộ phim của Hoa Kỳ và quốc tế thuộc thể loại kịch và tài liệu đã được tuyển chọn tại liên hoan Sundance, và năm vở kịch của các đạo diễn Hoa Kỳ với các nhân vật chủ yếu nói tiếng Tây Ban Nha, Hindi, Bồ Đào Nha, Hàn Quốc hoặc Musko (ngôn ngữ của thổ dân da đỏ). Hơn 3.000 bộ phim được gửi đến tham dự liên hoan tập trung vào các vấn đề toàn cầu. Các hãng phim đã có sự hiện diện nổi bật tại liên hoan Sundance bao gồm Gaumont, Celluloid Dreams và Wild Bunch của Pháp; Bavaria Film International của Đức; Trust Film Sales của Đan Mạch; và Fortissimo Films, một hãng phim quốc tế có văn phòng tại Amsterdam, Luân Đôn, Sydney và Hồng Kông. Chủ tịch liên hoan phim Geoffrey Gilmore đã được giới truyền thông dẫn lời cho rằng Liên hoan Phim Sundance đã tích cực coi trọng các bộ phim quốc tế khi công bố các giải thưởng mang tính cạnh tranh cao cho phim truyện và phim tài liệu của nước ngoài trong năm 2005. Liên hoan phim được Viện Sundance tài trợ. Viện Sundance được Robert Redford, diễn viên kiêm đạo diễn đoạt giải, thành lập năm 1981 và có trụ sở tại Thành phố Park. Viện Sundance có vai trò quan trọng không chỉ vì tổ chức các triển lãm phim táo bạo và hiện đại về phong cách và chủ đề, mà còn vì đây là một sàn giao dịch quốc tế cho các nhà phân phối và các công ty kinh doanh phim - cả lớn lẫn nhỏ - tiếp cận những bộ phim độc lập để trình chiếu trên màn ảnh khắp nơi trên thế giới.
Viện Sundance tài trợ một số chương trình và đợt công chiếu nhằm hỗ trợ hoạt động của các nhà làm phim, người viết kịch bản, nhạc sỹ, nhà soạn kịch và các diễn viên kịch độc lập. Chương trình phim tài liệu khuyến khích việc tìm tòi các hình thức thể hiện sáng tạo và tăng cường triển lãm phim tài liệu để tiếp cận với đông đảo khán giả hơn. Mỗi năm, có khoảng 25 nhà làm phim độc lập của Hoa Kỳ và nước ngoài tham gia chương trình phim truyện của Viện - một chương trình hỗ trợ việc làm phim độc lập thông qua các phòng thí nghiệm của các nhà viết kịch bản và đạo diễn phim và trong giai đoạn hậu sản xuất. Chương trình còn hỗ trợ tài chính và tư vấn về tính thực tế và sáng tạo thông qua việc cung cấp các cơ hội học bổng. Chương trình nhạc phim giúp các nhạc sỹ có triển vọng tiếp cận với Viện Sundance trong khi chương trình kịch lại khuyến khích các diễn viên kịch đa dạng hóa các hình thức biểu diễn nghệ thuật và tài trợ các tác phẩm nguyên gốc và sáng tạo. Viện Sundance cũng có bộ sưu tập phim độc lập đặt tại Trường Đại học Tổng hợp California ở Los Angeles. |
LIÊN HOAN PHIM TẠI NHÀHai bộ phim tài liệu dài tập trên truyền hình đem đến cho người xem tại nhà ở Hoa Kỳ và tám quốc gia khác những câu chuyện xảy ra trên khắp thế giới, và các nhà sản xuất đang có kế hoạch mở rộng phạm vi phát sóng trong những năm tới.
Kênh Truyền hình Độc lập (ITVS) [http://www.itvs.com] đã sản xuất bộ phim tài liệu dài tập và trình chiếu qua tám đài phát của Hệ thống Phát thanh Truyền hình Công cộng (PBS) tại Hoa Kỳ. Với tiêu đề “Ống kính độc lập: Liên hoan phim tại nhà”, bộ phim bao gồm những thước phim của Hoa Kỳ và của nước ngoài. Thông tin về chương trình này có sẵn tại địa chỉ: http://www.pbs.org/independentlens/about.html. Một nhà phê bình đã đánh giá loạt phim này là “đợt trình chiếu phim độc lập lớn nhất trên truyền hình hiện nay” (đặc biệt dành cho những người không xem được kênh Sundance vốn chỉ được phát trên một số hệ thống truyền hình cáp).
Cứ đến thời gian phát sóng mỗi năm, loạt phim lại trình chiếu những thước phim do các đạo diễn đang sinh sống và làm việc ở ngoài lãnh thổ Hoa Kỳ thực hiện. Ngày càng có nhiều bộ phim như vậy do các nhà làm phim không phải là công dân Hoa Kỳ thực hiện để chuyển tải những câu chuyện về đất nước, con người và văn hóa của họ. Liên hoan phim “Ống kính độc lập” 2006-2007 bao gồm các bộ phim nước ngoài sau đây: Shadya, câu chuyện về cô bé 17 tuổi theo đạo Hồi, sinh sống ở Israel phải hài hòa giữa một bên là giáo lý và một bên là kỳ vọng của những người khác khi cô trở thành vận động viên vô địch thế giới môn karate; Motherland Afghanistan (Đất mẹ Afghanistan), trong đó một trong những nhà làm phim đã quan sát những khó khăn gian khổ của chính người cha yêu quý của mình qua lăng kính của một bác sỹ sản khoa ở Afghanistan, nơi cứ bảy phụ nữ thì có một người tử vong khi sinh con; và Revolucion: Five Visions (Cách mạng: Nhìn từ năm góc độ), tập hợp mọi câu chuyện từ thời Cách mạng Cuba đến cuộc sống đương đại do năm nhà nhiếp ảnh người Cuba đã sinh sống và làm việc hơn bốn thập niên ở đất nước của họ thực hiện. Các bộ phim khác được trình chiếu trong đợt liên hoan năm nay còn có Black Gold (Vàng Đen); Calicot; China Blue (Nỗi buồn Trung Hoa); Democracy on Deadline: The Global Struggle for an Independent Press (Dân chủ đã tới hẹn: Cuộc đấu tranh toàn cầu vì nền báo chí độc lập); Không chỉ là tiếng gọi của lương tri; The World According to Sesame Street (Thế giới theo con đường Sesame); Paris, 1951; The Wild Parrots of Telegraph Hill (Những chú vẹt hoang ở Telegraph Hill); Enron: The Smartest Guys in the Room (Enron: những người khôn ngoan nhất trong Hội đồng Quản trị); và The Cats of Mirikitani (Những chú mèo của Mirikitani).
Một số minh tinh màn bạc đã dẫn chương trình “Ống kính độc lập” trong những năm qua, bao gồm nam diễn viên đoạt giải hiện nay là Terrence Howard, người đã thủ vai trong các bộ phim ăn khách như Hustle and Flow (Dòng đời hối hả), Crash (Đổ vỡ). Những diễn viên đã dẫn chương trình trước đây gồm có Edie Falco, Susan Sarandon, Don Cheadle, và Angela Bassett.
Được trình chiếu cho khán giả nước ngoài, loạt phim tài liệu tương tự mang tên True Stories: Life in the USA (Những câu chuyện có thực: Cuộc sống ở nước Mỹ) gồm 16 tập, do Benicio Del Toro dẫn chương trình, nhằm chia sẻ với khán giả ngoại quốc những câu chuyện về người dân Hoa Kỳ và những miền đất của họ. Đây là những bộ phim của các nhà làm phim độc lập, thể hiện sự phong phú và tinh tế trong cuộc sống ở Hoa Kỳ, từ khu bảo tồn thổ dân da đỏ tới biên giới Mexico, từ những vận động viên lướt sóng tới các nhà thơ, ngư dân và thợ mỏ.
Phối hợp chặt chẽ với các đài truyền hình trên khắp thế giới, chương trình Những câu chuyện có thực giúp khán giả vốn từ lâu hầu như không được tiếp xúc với phim tài liệu độc lập được xem những bộ phim miễn phí và được thấy những hình ảnh về nước Mỹ mà họ hiếm khi có thể thấy trên các phương tiện thông tin đại chúng. Chương trình “Những câu chuyện có thực” đã được phát trên hệ thống truyền hình công cộng tại Peru năm 2006 [http://www.irtp.com.pe], Malawi và Ai Cập [http://www.ertu.gov.eg]. Trong năm 2007 chương trình này sẽ được phát rộng rãi trên hệ thống truyền hình ở Colombia [http://www.rtvc.gov.co], Ba-ranh [http://www.bahraintv.com], Indonesia [http://www.tvri.co.id], Bangladesh, và Hồng Kông. Mỗi năm, các nhà sản xuất đều có kế hoạch mở rộng phạm vi phát sóng loạt phim này.
Loạt phim trình chiếu hiện nay bao gồm American Aloha: Hula Beyond Hawaii (Chào nước Mỹ: Vũ điệu Hula của người Hawaii); Downside Up (Nhìn thấu từ bên trong); Family Undertaking (Bổn phận gia đình); First Person Plural (Ngôi thứ nhất số nhiều); In My Corner (Góc riêng của tôi); In the Light of Reverence (Lòng tôn kính); Kiss My Wheels (Những bánh xe yêu quý); Larry vs. Lockney (Larry với Lockney); Los Angeles Now (Los Angeles ngày nay); Maid in America (Người giúp việc ở Hoa Kỳ); Family (Gia đình), Disability, and the American Dream (Tàn tật và giấc mơ Mỹ); Outside Looking In: Transracial Adoption in America (Nhìn từ bên ngoài: Nhận con nuôi ở Mỹ); The Split Horn: Life of a Hmong Shaman in America (Chiếc khèn lá: Cuộc sống của một pháp sư người ở Mỹ); Nhà hát Summerstock; Taking the Heat: The First Women Firefighters of New York City (Chiến đấu với lửa: Những nữ chiến sỹ cứu hỏa đầu tiên của Thành phố New York); và Troop 1500 (Tiểu đoàn 1500).
|