Tư liệu dịch: Chính trị, xã hội và văn hóa Mỹ
THANH THIẾU NIÊN MỸ
Tạp chí Điện tử của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 7/2005
LÀM RUNG ĐỘNG NHỮNG CON TIM, KHỐI ÓC
Patrick Welsh
Một cựu giáo viên tiếng Anh nói về sự thích thú cũng như những thất vọng khi giảng dạy tại một trường trung học ở thủ đô nước Mỹ. Với tất cả thành công và những vấn đề còn tồn tại, trường học luôn phản ảnh xã hội mà trường đang phục vụ. Tác giả đã dạy những học sinh không có động cơ học tập, nhiều em xuất thân từ những gia đình có thu nhập thấp, và cả những học sinh thành đạt cao, trong đó rất nhiều em là người nhập cư nhưng có quyết tâm thành đạt. Ông nói “một trong những điều khiến tôi quay trở lại chính là sự vui vẻ được ở bên lũ trẻ- sự khoan dung và tha thứ, khó khăn khi tìm kiếm sự đồng cảm của chúng và hòa đồng với chúng, để được trở thành một phần, dù là nhỏ thôi, trong cuộc đời của thế hệ tiếp theo”. Sức mạnh của nền kinh tế Mỹ và sự phát triển về công nghệ dường như chứng tỏ điều ngược lại đối với những lời phàn nàn hết thập kỷ này sang thập kỷ khác rằng trường học đang xuống cấp và cần phải cải cách giáo dục. “Chúng ta - những người giáo viên - chắc chắn đang đi đúng hướng”.
Tháng 9 này sẽ tròn 36 năm Patrick Welsh theo nghề dạy học. Ông là người thường xuyên đóng góp những bài viết về cuộc sống ở trường trung học cho các tờ báo trên cả nước Mỹ.
Tôi dạy tiếng Anh tại trường trung học T.C. Williams ở Alexandra, bang Virginia. Thường thì khi tôi nói điều đó với những người mà tôi mới gặp, họ tỏ ra hơi e ngại hoặc khâm phục. Họ nói “Chắc chắn ông phải rất dũng cảm. Ông làm điều đó thế nào?”
Những câu chuyện nhạy cảm mà các phương tiện truyền thông đăng tải về tình trạng bạo lực và kết quả giảm sút dường như đã làm cho một số người quan niệm rằng các trường trung học ở Mỹ là nơi nguy hiểm và vô trật tự, ở đó nếu ai đó có khả năng tìm được một việc làm khác chắc chắn họ sẽ đổi nghề. Thật đáng buồn khi cuộc sống bên trong các trường học vừa phức tạp, vừa vui nhộn, luôn làm người ta phải tức giận và đầy thách thức, nhưng cũng rất bổ ích ấy - cuộc sống phản ánh rất nhiều về xã hội Mỹ - vẫn còn là điều gì đó bí ẩn đối với hầu hết mọi người.
Một trong những điều khiến tôi quay trở lại - tháng 9 này là tròn 36 năm tôi dạy ở T.C. - chính là sự vui vẻ được ở bên lũ trẻ - sự khoan dung và tha thứ, khó khăn khi tìm kiếm sự đồng cảm của chúng và hòa đồng với chúng, để được trở thành một phần, dù là nhỏ thôi, trong cuộc sống của thế hệ tiếp theo.
NIỀM VUI THÍCH TỘT BẬC
Thật là một niềm vui thích tột bậc khi dạy ở một trường giống như trường tôi nơi có học sinh đến từ 87 quốc gia. Trong nhiều năm qua, trẻ em từ những điểm nóng trên toàn thế giới đổ vào Alexandria. Tôi đã dạy các em nhỏ từng đến từ Việt Nam trên những chuyến bay cuối cùng từ Sài Gòn; các em nhỏ từng chiến đấu trong những cuộc chiến tranh ở Cămpuchia và Sierra Leone; những em đã đi bộ từ El Salvador qua Mêhico và bơi qua Rio Grand để vào Texas.
Rất lâu trước khi sự kiện 11/9 xảy ra khi nhiều người Mỹ còn chưa thể tìm thấy Ápganixtan trên bản đồ, thì những thành phố như Kabul và Kandahar đã quá quen thuộc đối với tôi và các đồng nghiệp. Đó là quê hương của rất nhiều học sinh yêu mến của chúng tôi. Đối với tôi, diện mạo Ápganixtan không phải là hình ảnh của những cuộc xung đột như chúng ta thấy trong các bản tin tối mà đó là chị Jamilah Atmar, người bán xúc xích ở trung tâm Washington để cho nuôi ba đứa con Harir, Zohra và Raza học hành và tốt nghiệp các trường đại học ở Virginia. Tôi thường tự hỏi không biết kiến thức văn học mình đã dạy cho lũ trẻ có được bằng một nửa những gì mà chúng và gia đình chúng đã dạy cho tôi về thế giới mà chúng ta giờ đây đang sinh sống không.
Những đứa trẻ nhập cư thường có ý thức làm việc và niềm say mê học tập và làm cho nhiều bạn bè người Mỹ bản xứ phải xấu hổ. Năm ngoái, trong các lớp chọn của tôi có 11 em đã được nhận danh hiệu xuất sắc. Ba danh hiệu thuộc về các em học sinh là người nhập cư: Aminata Conteh, đến từ Sierra Leone; Fajana Ahkter, đến từ Băngladesh; và Essay Giovanni, đến từ Ethiopia. Trong khi rất nhiều bạn cùng lớp phàn nàn rằng đọc Shakespeare hay Faulkner là “quá khó”, Aminata và Farjana và Essay vẫn học tốt và dành điểm xuất sắc.
Sẽ là thiếu trung thực nếu tôi không thừa nhận rằng tôi thích dạy những lớp chọn này (qua những lớp học này học sinh đạt được tín chỉ các khóa học đại học) hơn là các lớp thường, không chỉ vì tôi có nhiều quyền kiểm soát hơn mà còn làm được nhiều hơn và dạy văn tốt hơn. Rất nhiều học sinh trong các lớp thường chán đọc đến mức chúng phải thừa nhận sự chán nản ngay cả khi tôi mang đến cho chúng các trang báo thể thao để đọc nhằm khuấy động ý thích của chúng.
NGỌC TRONG ĐÁ
Thật kỳ quặc những lớp học sinh đi học đầy đủ nhất lại là các lớp thường và là nơi học sinh gây cho tôi nhiều phiền toái nhất. Đối với một số em trường học là nơi “để chơi với bạn bè”. Đó cũng là nơi mà người lớn luôn có mặt và hiện diện một cách có tổ chức mà ở gia đình một số em điều đó là không thể. Mặc dù chúng gây cho tôi nhiều khó khăn, song một trong những điều làm tôi hài lòng nhất ở cương vị một giáo viên đó là khám phá ra được những viên ngọc trong đá ở những lớp thường. Những đứa trẻ này hành động cứng rắn, mang vẻ mặt phong trần của đường phố để trốn tránh sự thật là chúng rất thông minh.
Tôi nhớ lại một em gái trong một lớp thường vài năm trước đây. Nếu nghe em nói chuyện vào buổi sáng thứ hai bạn sẽ nghĩ cô bé là trùm của một băng nhóm nữ trên đường phố. Thế nhưng khi tôi đưa cho cô bé một cuốn sách mà những đứa trẻ khác phải mất ba tuần mới đọc xong, thì cô bé chỉ cần một hoặc hai ngày đọc qua mà đã hiểu đầy đủ nội dung cuốn sách và xin đọc quyển khác. Tôi đã cố gắng động viên em chuyển sang các lớp chọn của tôi nhưng cô bé đã nói rằng “trong những lớp đó có quá nhiều học sinh da trắng”. (Thật không may là những lớp được gọi là lớp chọn đó chủ yếu là học sinh da trắng, điều đó làm cho số học sinh thiểu số cảm thấy không thoải mái khi học cùng). Không ai trong gia đình cô bé học đại học cả, nhưng tôi luôn nói với em rằng em sẽ là người đầu tiên trong gia đình học đại học. Cô bé đã nghỉ một năm sau khi tốt nghiệp, thế nhưng lần cuối cùng tôi nghe về cô bé là em đang theo học tại một trường đại học cộng đồng.
Trong cuộc đời dạy học những câu chuyện cảm động nhất có thể đến rất bất ngờ nhiều năm sau khi học sinh tốt nghiệp. Đôi khi nó xảy ra khi tôi mở cửa phòng học vì ai đó gõ cửa. Hai năm trước đây, khi tôi mở cửa phòng học, trước mắt tôi là một người đàn ông trông rất đạo mạo trong bộ quân phục sĩ quan hải quân. Tôi đã không gặp Wyman Howard trong 18 năm, thế nhưng tôi nhận ra cậu ta ngay. Đó là một cậu bé mà tôi nhớ là rất thích hài hước, mồm mép và không có kỷ luật cho lắm thế mà nay đã trở thành một chỉ huy đặc công hải quân. Cậu ta trở lại Alexandria để thăm mẹ sau một sứ mệnh ở nước ngoài, và ghé vào trường để chào thầy. Một lần khác khi tôi ra mở cửa, một phụ nữ da đen trông cao lớn, ăn mặc rất sành điệu đang đứng trước cửa. Trông cô gái quá trẻ để làm mẹ, nhưng ngay khi nghe cô cất giọng thì tôi biết ngay đó là Lettie Moses. Cô bé vừa tốt nghiệp trường cao đẳng Smith và chuẩn bị học ở trường Luật thuộc Đại học Michigan. Lettie lớn lên trong “những ngôi nhà dự án”-nhà ở dành cho những gia đình có thu nhập thấp do liên bang hỗ trợ. Cha mẹ Lettie đã quyết tâm để được nhìn thấy con cái họ thành đạt. Cô bé nói “Em ghé qua để chào thầy”. Chúng tôi đã nói chuyện một lúc, kể về bốn năm qua. Tôi biết điều Lettie thực sự muốn nói với tôi là “Em muốn thầy biết rằng em đã làm được”. Điều tôi muốn nói với cô bé là: “Nếu em biết tôi đã vui sướng như thế nào khi gặp em. Đây là tất cả những gì mà nghề giáo muốn đạt được”.
Khoảnh khắc sửng sốt, bất ngờ nhất xảy ra năm ngoái khi tôi ở lại làm việc muộn trong lớp học. Tivi đang phát sóng, chuyển sang phần tin tức của hệ thống Phát thanh Công cộng với Jim Lehrer. Thậm chí tôi còn chẳng ngẩng lên khi nghe Lehrer nói “đây là tin tức từ Bátđa, phóng viên Edward Wong của thời báo New York”. Sau đó tôi bất ngờ nhận ra giọng nói từ 15 năm trước và ngẩng lên nhìn Ed Wong, học sinh lớp TC năm 1991. Cậu ta đang đứng đó trong một buổi tối ở Bát đa trình bày chi tiết cuộc tấn công nổi dậy vào sớm ngày hôm đó. Tôi còn nhớ Ed đã đóng giả tôi đang lục tìm giấy tờ trên chiếc bàn bừa bộn của tôi, nhưng tôi nghĩ cậu ta học ngành y. Ngay lập tức tôi vừa sửng sốt, vừa vui mừng nhưng lại lo lắng cho sự an toàn của cậu ta. Khi Ed trở về nhà nhân dịp Giáng sinh, chúng tôi đã đi uống cà phê, và Ed nói với tôi rằng giờ học của tôi và của một thầy giáo khác, thầy Jacqueline Hand, đã làm cậu ta chuyển sang lĩnh vực văn học; tôi nhận lấy lời khen ngợi mà trong lòng nghĩ rằng mình đã không dạy một gã nào như Ed-tôi lùi lại, trốn thoát và cố gắng không làm điều gì tổn hại. Thế nhưng khi tôi đọc những dòng tin trên trang nhất tờ thời báo New York, tôi rất kiêu hãnh về một điều: Ít nhất thì tôi cũng đã nhận ra tài năng đó khi cậu ta mới 17 tuổi.
NHẬN RA TÀI NĂNG
Cầu trời, tôi đủ hiểu để nhận ra tài năng của Kathryn Boo. Tôi nhớ điều kỳ diệu về bài văn mà cô bé viết về chuyện ngắn Evelin của James Joyce. Đó là một cô bé 17 tuổi mảnh khảnh, trông chỉ như cô bé 12, thế mà em đã viết với tâm trạng của một phụ nữ gấp đôi tuổi mình một cách rõ ràng và cuốn hút, điều đó làm tôi vô cùng sửng sốt. Đến cuối năm, khi đã đến lúc trao phần thưởng viết văn, tôi đã phải đấu tranh-không một học sinh nào đuổi kịp Kate, thế nhưng em đã bỏ học nhiều buổi khi năm học sắp kết thúc. Trái với bản năng kiên quyết về kỷ luật, cuối cùng tôi quyết định vẫn trao cho em phần thưởng. Nhiều năm sau khi cô bé nhận được Giải thưởng Pulitzer vì hàng loạt bài viết xuất sắc cho tờ Bưu điện Washington, và chẳng bao lâu sau đó là một Giải thưởng Thiên tài MacArthur, tất cả những gì tôi nghĩ là: ơn Chúa, tôi đã không ngu ngốc để không nhận ra tài năng của cô bé từ khi còn là một đứa trẻ.
Ở một góc độ thì tôi chưa bao giờ thấy có sự thay đổi từ năm này qua năm khác. Khi bắt đầu năm học, bao giờ bọn trẻ trong những lớp học của tôi cũng xa lạ, thế nhưng đến cuối năm tôi thường không thể kìm được nước mắt khi chúng chuẩn bị ra trường. Tuy nhiên, tôi cũng biết rằng trên thực tế mọi thứ đã thay đổi rất nhiều kể từ khi Kate bước vào lớp tôi năm 1981 và Ed vào năm 1991. Ngày nay, hơn bao giờ hết, giáo viên đang phải vật lộn để giành được những con tim và khối óc bọn trẻ. Thực vậy, họ chỉ mong dành được sự quan tâm của chúng. Với thư điện tử, chat, Internet, chò trơi vi tính, DVD, video, truyền hình cáp và vô vàn những hình thức giải trí khác từ truyền thông điện tử, chưa bao giờ khó bằng lúc này để bọn trẻ nằm cuộn tròn với một cuốn sách trên tay, tìm khoảng thời gian yên lặng để tập trung, và giành tâm trí để đọc một cuốn tiểu thuyết hay giải một phương trình toán học.
Một trong những chiến thắng mà tôi giành được trước các phương tiện truyền thông điện tử chính là khi tôi không trông đợi gì ở phương tiện này. Hai năm trước, lần đầu tiên trong suốt 20 năm tôi đã lấy dũng khí và dạy cuốn Niềm tự hào và Định kiến của Jane Austen. Tôi tin rằng các em nữ sẽ thích tác phẩm này và chắc chắn rằng bọn con trai sẽ ghét. Tuy nhiên phản ứng của Luis Cabrerra đủ để những năm dạy học của tôi trở nên có ý nghĩa. Cabrerra là một fan hâm mộ các môn thể thao mạnh, cậu ta dường như biết mọi chi tiết về các đội chuyên nghiệp ở địa phương, đặc biệt là đội Washington Redskins. Cậu ta chưa bao giờ gây ấn tượng với tôi với tư cách là ứng cử viên cho Hội Jane Austen, thế nhưng tôi đã nhầm. Luis nói “Ngay khi Darcy xuất hiện, em thực sự bị cuốn hút. Cách anh ta đối xử với các cô gái thật là hay, anh ta không bao giờ bắt nạt các cô gái. Chỉ vì anh ta mà em đọc cuốn sách đó”.
CHUYỆN HOANG ĐƯỜNG VỀ NHỮNG TRƯỜNG HỌC CÓ VẤN ĐỀ
Giống như xã hội Mỹ, các trường học cũng đầy rẫy những thách thức, thế nhưng tôi không cho rằng trường tôi hay các trường khác trên cả nước có những vấn đề phức tạp như nhiều chính trị gia và các chuyên gia về giáo dục muốn chúng ta phải tin. Câu chuyện về các trường học ở Mỹ đang trong tình trạng xuống cấp bắt nguồn từ một lịch sử lâu dài. Richard Rothstein thuộc Viện Chính sách Kinh tế, một cơ quan tham mưu phi đảng phái, chỉ ra rằng những lời phàn nàn hiện nay về kỹ năng đọc và học toán yếu kém, phớt lờ lịch sử, không chuẩn bị đầy đủ cho lực lượng lao động, những chương trình học không có trọng tâm, thiếu giáo dục đạo đức-những vấn đề mà các bạn nêu tên-đã được lặp đi lặp lại hơn một thế kỷ nay. Năm 1892 khi chưa đầy 6% học sinh tốt nghiệp trung học vào đại học, Ban Giám thị/ Ban Khảo thí của Đại học Harvard đã đưa ra báo cáo phàn nàn rằng chỉ 4% những người xin vào học ở Harvard “có thể viết một bài luận, đánh vần và phát âm chính xác một câu”.
Năm 1983, một nghiên cứu do Chính quyền Regan thực hiện với tên đề “Một Dân tộc đang Lâm nguy”, đã cảnh báo rằng “một làn sóng những người kém cỏi” đã tràn vào các trường học của chúng ta đông đến mức mà tương lai của nền kinh tế Mỹ bị đe doạ. Terrell Bell, Bộ trưởng Giáo dục lúc đó đã viết: “Nếu muốn tiếp tục đứng vững được trong thị trường thế giới thì chúng ta phải duy trì và cải thiện lợi thế so sánh mong manh của mình. Chúng ta phải tập trung cải cách hệ thống giáo dục của chúng ta”.
Tư duy thông thường dẫn tôi một kết luận khác hơn nhiều. Nếu như năm 1983 các trường học của chúng ta là quá tồi và hiện nay là tồi như ý kiến của rất nhiều người được gọi là các nhà cải cách, thì tại sao nền kinh tế và công nghệ của nước Mỹ lại làm cả thế giới phải ghen tị? Chúng ta, những người giáo viên, chắc chắn đang đi đúng hướng. Nếu ai đó càng xa rời cuộc sống hàng ngày ở các trường học bao nhiêu thì nhận thức của họ càng tiêu cực và phi thực tế bấy nhiêu. Chẳng hạn như những điều tra của viện Gallup cho thấy chỉ có 20% người lớn trên toàn quốc đánh giá các trường học đạt điểm A hoặc B, trong khi đó có tới 72% các bậc phụ huynh đánh giá các trường của con em họ đạt điểm A hoặc B. Rõ ràng là những ai quen thuộc với trường học sẽ hài lòng hơn.
Trường tôi nhận trẻ em tị nạn đến từ khắp nơi trên thế giới, dạy cho chúng tiếng Anh, và trong nhiều trường hợp còn gửi chúng đến những trường đại học danh tiếng nhất. Chúng tôi xây dựng các chương trình để giữ các em gái có con tại trường để các em có thể có nghề nghiệp tử tế và không cần đến các khoản phúc lợi khi chúng tốt nghiệp. Chúng tôi gửi các đội nữ luân phiên đến nước Anh để tham gia tranh tài tại Royal Henley Regatta, giải đua thuyền danh tiếng nhất trên thế giới trong lĩnh vực này. Bọn trẻ dưới mái nhà của chúng tôi, và những dịch vụ mà chúng tôi mang lại cho chúng, cũng đa dạng như bản thân đất nước chúng ta. Chúng tôi thường không thành công, nhưng những ai hay chỉ trích các trường công đã không chịu chấp nhận thực tiễn của xã hội Mỹ như nó hôm nay, những vấn đề xã hội, những thành công và sự đa dạng tuyệt vời của nó. Trường trung học công lập không có sự lựa chọn nào khác ngoài sự chấp nhận thực tế như được phản ánh ở trẻ em Mỹ và những thách thức mà chúng mang đến. Bất cứ ai giành thời gian để xem xét kỹ lưỡng những gì các trường đang làm và những gì thanh thiếu niên của chúng ta đang thực hiện, chắc hẳn họ sẽ phải cảm thấy rất ấn tượng.
Quan điểm trong bài báo này không nhất thiết phản ánh quan điểm hay các chính sách của Chính phủ Mỹ.