jump over navigation bar
Embassy SealBộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Đại sứ quán Hoa Kỳ - Hanoi, Vietnam flag graphic
 
Thông tin cập nhật
 
  Các dịch vụ của IRC Dịch vụ Reference Update Tư liệu dịch Kinh tế & Thương mại An ninh khu vực Các vấn đề toàn cầu Báo chí, truyền thông và công nghệ thông tin Chính trị, xã hội và văn hóa Mỹ

Tư liệu dịch: Kinh tế và thương mại

MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN QUỐC TẾ: TIẾN LÊN PHÍA TRƯỚC
Tạp chí Điện tử của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Triển vọng Kinh tế, tháng 8/2005

CÁC KHÍA CẠNH CỦA PHÁT TRIỂN
Phỏng vấn Nicholas Eberstadt và Steve Radelet

Nicholas Eberstadt, Giáo sư Kinh tế chính trị tại Viện Doanh nghiệp Hoa Kỳ (AEI) có trụ sở tại Washington, D.C, và Steve Radelet, nghiên cứu viên cao cấp tại Trung tâm Phát triển Toàn cầu có trụ sở tại Washington, D.C, trả lời các câu hỏi liên quan tới mục tiêu Tuyên bố Thiên niên kỷ và chính sách phát triển của Hoa Kỳ do các biên tập viên của Tạp chí Economic Perspectives nêu ra. 


Câu hỏi: Ngài có thể cho biết những đánh giá của mình về những tiến bộ cộng đồng quốc tế đã đạt được tính đến thời điểm này trong quá trình thực hiện các mục tiêu của Tuyên bố Thiên niên kỷ năm 2000? 

Radelet: Những tiến bộ đạt được vẫn chưa đồng đều. Các nước Đông Á và Nam Á đã gặt hái được nhiều thành tựu quan trọng, nhất là những tiêu chuẩn sức khỏe, trong khi các nước ở khu vực cận Sa-ha-ra châu Phi cũng như hai quốc gia Haiti và Myanmar vẫn đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu đó. 

Nhiều quốc gia, trong đó có những nước đông dân nhất thế giới như Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia đang đạt được những bước phát triển nhanh chóng. Ngược lại, ở nhiều nước khác, dường như khó có thể hoàn thành được mục tiêu thiên niên kỷ vào năm 2015 như đã định. 

Các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDGs) là cơ sở để cộng đồng quốc tế có thể vạch ra các mục tiêu cụ thể. Điều này sẽ giúp cả các nước phát triển và đang phát triển chú trọng nhiều hơn tới các khó khăn cũng như các giải pháp khả thi. Tuy nhiên, người ta vẫn lo ngại rằng các mục tiêu trên được đặt ra theo chủ quan, và có vẻ quá sức đối với một số nước trên thế giới. 

Ví dụ, về mục tiêu tăng tỷ lệ học sinh tiểu học, nhiều nước cũng đã đạt được những tiến bộ nhất định, song nếu không có đủ nguồn lực, họ khó có thể phổ cập được 100%. Đối với nhiều quốc gia, phải mất vài chục năm mới có thể tăng tỷ lệ học sinh tiểu học từ 20% hoặc 25% lên 50%. Nếu các quốc gia này không hoàn tất mục tiêu phổ cập tiểu học 100% vào năm 2015 thì không nên coi đó là thất bại. 

Eberstadt: Năm năm thực sự vẫn chưa đủ để có thể đánh giá hết hiệu quả của Mục tiêu Thiên niên kỷ, một phần là vì chúng ta không có số liệu chính xác và đầy đủ từ phía các nước có thu nhập thấp. Vì vậy chúng ta phải có những thước đo dài hạn hơn để có những số liệu làm cơ sở đánh giá thành tựu đạt được. 

Hãy cùng nhìn lại những tiến bộ qua lăng kính lịch sử. Thế kỷ XX đã chứng kiến những thành tựu lớn lao về phát triển và bước nhảy vọt trong cuộc chiến chống đói nghèo. Cũng trong giai đoạn lịch sử đó, cùng với tuổi thọ tăng gấp đôi, thu nhập quốc dân trên thế giới cũng tăng mạnh. 

Hai ngoại lệ lớn nhất nằm ngoài xu hướng phát triển mạnh mẽ đó là đường lối phát triển sai lầm dưới chế độ cộng sản khiến thế giới bị ảnh hưởng nặng nề - hiện nay, chế độ này về cơ bản đã chấm dứt - và những khó khăn nghiêm trọng trong phát triển ở khu vực cận Sa-ha-ra châu Phi trong thập niên 1960 và 1970 và hiện vẫn còn tiếp tục: tình trạng trì trệ kinh tế kéo dài, xuất khẩu kém phát triển, lệ thuộc vào viện trợ nước ngoài và gần đây nhất là đại dịch HIV/AIDS làm hao kiệt sức khỏe người dân các nước này. 

Câu hỏi: Theo Ngài, những quốc gia nào đã đạt tiến bộ lớn nhất? Và đâu là những trở ngại chính đối với thành công?

 

Radelet: Ở đâu có tăng trưởng kinh tế thì ở đó chúng tôi đã thấy những tiến bộ trong việc thực hiện các mục tiêu này. Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều trở ngại đối với tiến bộ. Châu Phi thì gặp điều kiện địa lý khắc nghiệt, những đại dịch lớn, đặc biệt là căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS, và những nhân tố đó sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ. 

Chẳng hạn, Botswana trước đây đã từng trên đường đạt được các mục tiêu nêu trên, nhất là trong giáo dục và xóa đói giảm nghèo. Nhưng do đại dịch HIV/AIDS, những tiến bộ đạt được trong một số lĩnh vực đã đổ xuống sông xuống bể. Từ 1975 đến 1995, tuổi thọ người dân Botswana đã tăng đáng kể, từ 38 lên đến 61. Song kể từ giữa những năm 1990, do đại dịch AIDS, tuổi thọ trung bình đã giảm xuống chỉ còn 43. 

Một khó khăn nữa của châu Phi là châu lục này có nhiều quốc gia không có bờ biển hơn so với các châu lục khác. Việc không có bờ biển gây nhiều khó khăn hơn cho việc gia nhập thị truờng, đồng thời làm tăng giá hàng nhập khẩu và làm giảm tính cạnh tranh của các mặt hàng xuất khẩu.  

Một trở ngại khác về mặt địa lý đối với châu Phi là diện tích đất sa mạc quá lớn ở khu vực Tây Phi. Với mật độ dân cư thưa thớt, khu vực này gặp nhiều khó khăn trong việc phân phối các dịch vụ và theo theo đuổi các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ. 

Tuy nhiên, mặc dù một số nước châu Phi, gồm Sô-ma-li, Bờ Biển Ngà, Zimbabwe, Công-gô hiện đang gặp nhiều khó khăn, song tình hình cũng không đến nỗi ảm đạm như vậy. 

Điển hình là chúng ta vẫn được chứng kiến ngày càng có nhiều chế độ dân chủ đa đảng. Nếu năm 1990, chỉ có bốn nước ở khu vực cận Sa-ha-ra đi theo chế độ dân chủ đa đảng, thì giờ đây đã có gần 20 nước. Những năm gần đây, nhiều quốc gia như Ghana, Tanzania, Nam Phi, Nigeria, Mozambique, Mali, và Burkina Faso cũng đã đạt được những bước tiến quan trọng về kinh tế và chính trị. Đây là bước chuyển biến lớn mà phần lớn các quốc gia trên thế giới vẫn chưa nhận thấy. Nhiều quốc gia cũng đã đạt được thời kì phát triển kinh tế mạnh mẽ và ổn định hơn.

Eberstadt: Về phát triển nói chung, những tiến bộ đạt được trong cuộc chiến chống đói nghèo ở nhiều nơi trên thế giới rất đáng khích lệ, ngoại trừ khu vực cận Sa-ha-ra châu Phi. Khu vực này về cơ bản đã đi sai đường. Nhiều chỉ số chăm sóc sức khỏe đã bị đảo ngược do thảm họa HIV/AIDS gây ra. 

Trung Quốc đã đạt được những tiến bộ quan trọng nhất và Ấn Độ cũng đã đạt được nhiều tiến bộ to lớn. 

Ở những quốc gia đang mở rộng quy mô kinh tế, nhìn chung phát triển đã có bước chuyển đổi lớn, từ chỗ dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên sang dựa nhiều hơn vào nguồn nhân lực. Xét một cách tổng thể, vai trò quan trọng của tài nguyên thiên nhiên đối với tăng trưởng kinh tế quốc dân ngày càng giảm đi. 

Câu hỏi: Theo Ngài, viện trợ nước ngoài có vai trò gì trong công cuộc phát triển của một quốc gia? 

Radelet: Viện trợ nước ngoài đóng vai trò quan trọng trên hai lĩnh vực lớn. Thứ nhất, các khoản viện trợ này góp phần hỗ trợ các chương trình giáo dục và dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhằm chống lại các căn bệnh nguy hiểm. Nguồn viện trợ này đã giúp ngăn chặn các loại bệnh như bại liệt, đục thủy tinh thể và cung cấp phương pháp chữa trị bằng cách nhỏ thuốc hoặc uống thuốc.Thứ hai, viện trợ nước ngoài hỗ trợ các nỗ lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. 

Lĩnh vực y tế đã đạt được những tiến bộ to lớn trên toàn thế giới, bao gồm cả các nước đang phát triển, kể từ sau đại chiến thế giới lần thứ hai. Tuy nhiên, năm năm qua, tuổi thọ trung bình lại giảm đi vì đại dịch HIV/AIDS. Căn bệnh này đang tàn phá những thành quả phải rất gian khổ mới có thể đạt được trong những chỉ số cơ bản về y tế trong vòng 25 năm trước đó. 

Tuy nhiên, một số quốc gia lại có những bước tiến tốt trong việc đẩy lùi căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS. Chẳng hạn, tại Uganda nhờ nỗ lực tuyên truyền giáo dục tại cơ sở với sự hỗ trợ thông qua viện trợ nước ngoài, số ca lây nhiễm AIDS đã giảm 10% trong những năm gần đây. Thái Lan và Senegal cũng là hai nước thành công trong việc duy trì được tỉ lệ người mắc bệnh tương đối thấp. Ở nhiều tỉnh thành của Zambia, con số người nhiễm bệnh cũng giảm nhiều. 

Về tăng trưởng kinh tế, trong một số trường hợp, viện trợ nước ngoài rõ ràng đã không giúp các nước này hoàn thành mục tiêu này. Có một điều chắc chắn là một số khoản viện trợ đã bị lãng phí. Nhưng ở nhiều quốc gia khác như Hàn Quốc trong những năm 1950 và 1960, Indonesia và mới đây nhất là Uganda, Mozambique, Tanzania, viện trợ quốc tế lại giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Công bằng mà nói thì các khoản viện trợ nước ngoài phát huy tác dụng không đồng đều giữa các quốc gia, nên chúng ta còn phải nỗ lực nhiều hơn nữa để nâng cao tính hiệu quả của nguồn vốn đó trong tương lai.

 

Những năm gần đây, có ba nguyên nhân làm thay đổi hướng ưu tiên viện trợ của các nhà tài trợ. Thứ nhất, vụ tấn công khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001 đã khiến các nhà tài trợ nhận thấy rõ hơn mối quan hệ giữa đói nghèo và khủng bố. 

Thứ hai là nhận thức về sự nguy hiểm của đại dịch HIV/AIDS cũng được nâng lên. Nếu cách đây không lâu, người ta vẫn còn nhìn nhận AIDS như là một vấn đề “riêng của mỗi quốc gia” thì giờ đây AIDS đã được coi là vấn đề chung ảnh hưởng tới toàn nhân loại. 

Thứ ba, như đã nêu ở trên, số lượng các thể chế dân chủ đa đảng ngày càng tăng lên. Nếu trong những năm 1970 và 1980 viện trợ nước ngoài chủ yếu dành cho đồng minh của hai phe trong Chiến tranh Lạnh thì ngày nay viện trợ lại dành nhiều hơn để hỗ trợ các nước đang cố gắng thiết lập chế độ dân chủ đa đảng, và thế giới vẫn đang dần chuyển mình theo quỹ đạo này. 

Eberstadt: Chính các hình thức viện trợ chứ không phải ODA thông thường đã phát huy tác dụng trong việc hỗ trợ các quốc gia phát triển. Hãy lấy viện trợ quân sự làm ví dụ. Đài Loan và Hàn Quốc là hai mô hình phát triển thành công thời hậu chiến, phần lớn là nhờ viện trợ quân sự của Hoa Kỳ. Một trong những kết quả của viện trợ là Hàn Quốc đã trở thành một nền kinh tế xuất khẩu. Nói tóm lại, viện trợ quân sự có thể giúp tạo dựng một môi trường an ninh ổn định tạo điều kiện cho phát triển kinh tế. 

Nền kinh tế toàn cầu, thông qua thương mại, đầu tư, chuyển giao tri thức, cũng đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất và xóa đói giảm nghèo. 

Vai trò của ODA trong việc thúc đẩy tăng trưởng của cải vật chất bị hạn chế nhiều nhưng ODA vẫn có thể phát huy vai trò tích cực trong môi trường thuận lợi. 

Câu hỏi: Thưa Ngài, mấy tuần qua, cuộc tranh luận về mức độ viện trợ và năng lực sử dụng viện trợ của các quốc gia đã trở thành tiêu điểm của báo giới. Phải chăng có sự chi phối của quy luật lợi ích giảm dần khi viện trợ nước ngoài đạt đến mức độ nhất định? 

Radelet: Nói chung, không có quy luật rõ ràng nào cả. Cũng như các khoản đầu tư tài chính khác, khi quy mô đầu tư tăng thì ích lợi ích cận biên sẽ giảm. Các nghiên cứu chỉ ra rằng, viện trợ nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ngày càng ít phát huy tác dụng hơn khi quy mô viện trợ tăng lên, nhưng vẫn có thể phát huy tác dụng tích cực nếu viện trợ chiếm khoảng 18% đến 25% tổng sản phẩm quốc nội của một quốc gia. 

Vấn đề là nguồn viện trợ được dành để làm gì? Viện trợ nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đã phát huy tác dụng với tăng trưởng nhiều hơn so với các hình thức viện trợ khác, chẳng hạn viện trợ nhân đạo, hoặc viện trợ cho các chương trình khó định lượng như cải cách tư pháp. Cải cách tư pháp phải mất từ 10 đến 15 năm hoặc thậm chí lâu hơn mới có thể phát huy tác dụng. Trong khi đó, nếu đầu tư cho phát triển nông nghiệp hay xây dựng đường sá thì sẽ dễ đánh giá được kết quả hơn bởi việc định lượng và nhận thấy kết quả của các khoản viện trợ đó dễ hơn và đỡ mất thời gian hơn. 

Một trong những thách thức đặt ra trong tương lai là làm thế nào nâng cao hiệu quả của các khoản viện trợ cả về đối tượng thụ hưởng lẫn phương thức viện trợ, để đảm bảo nguồn viện trợ đó phát huy tác dụng tối đa. 

Eberstadt: Viện trợ có hiệu quả hay không còn phụ thuộc nhiều vào môi trường kinh tế từng quốc gia. Nơi nào có đường lối, chính sách đúng đắn và nghiêm túc thì ở đó, nguồn lực sẽ phát huy nhiều tác dụng hơn. 

Một vấn đề lớn được đặt ra là các nguồn vốn ưu đãi bổ sung sẽ có tác động như thế nào đến môi trường chính sách. Tác dụng của viện trợ phụ thuộc vào sự kết hợp của các nhân tố: thời gian thực hiện, năng lực lãnh đạo - thể chế nhà nước - của nước nhận viện trợ và cả lịch sử của họ.

Một hiện tượng đáng lo ngại mới phát sinh từ giữa những năm 1990 đó là các nước trong khu vực cận Sa-ha-ra châu Phi ngày càng phụ thuộc nặng nề hơn vào ODA. Trên thực tế, sự lệ thuộc vào viện trợ ở các nền kinh tế châu Phi đã trở nên quá rõ ràng và ngày càng tăng lên kể từ thập niên 70. Chúng ta phải đặt câu hỏi phải chăng lượng viện trợ quá nhiều như vậy đã lớn hơn cả tăng trưởng xuất khẩu và huy động vốn trong nước ở nhiều quốc gia cận Sa-ha-ra trong vài thập niên vừa qua? Có lẽ đây chính là một phần nguyên nhân tại sao hiệu quả hoạt động kinh tế của khu vực này lại tồi tệ đến vậy. 

Câu hỏi: Thưa Ngài, các chương trình như Quỹ Thách thức Thiên niên kỷ của Hoa Kỳ (MCA), Đạo luật Tăng trưởng và tạo Cơ hội cho châu Phi (AGOA) và chương trình hỗ trợ Quốc gia Nợ nần Chồng chất (HIPC) sẽ đóng vai trò gì trong chiến lược giảm nghèo tổng thể? 

Radelet: Thỏa thuận giảm nợ trị giá 40 tỷ đô-la công bố tại hội nghị của nhóm G8 diễn ra vào tháng 7 năm 2005 là một hiệp định mang tính lịch sử, có thể chấm dứt gánh nặng nợ diễn ra suốt hai thập niên vừa qua đối với ít nhất 18 nước nghèo, và có thể sẽ còn nhiều hơn thế. Thách thức đặt ra hiện nay là làm thế nào có thể giúp các nước nhận viện trợ đạt được mức tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo bền vững, để họ không bị quay lại thời kì không thể trả nổi nợ một lần nữa. 

Đáng tiếc là hiệp định này lại không đề cập đến một số nước chưa vay nhiều tới mức để bị coi “nợ nần chồng chất” như Kenya, Nigeria, và Sri Lanka. Lẽ ra các quốc gia trên cũng phải được hưởng một đặc ân tương tự. Viện trợ cần phải được dành cho những nước nghèo nhất, chứ không phải những nước nợ nần nhiều nhất. 

Về mặt lý thuyết, Quỹ Thách thức Thiên niên kỷ là một chương trình vô cùng quan trọng. Mục đích chung của chương trình này là xây dựng một cơ chế thuận lợi và linh hoạt hơn trong việc cung cấp viện trợ cho những quốc gia có cam kết hoạch định các chính sách phát triển thuận lợi mạnh mẽ nhất. Trên thực tế, sự thành công của chương trình này vẫn cần phải được kiểm chứng. 

AGOA lại cực kỳ hiệu quả bởi nền tảng của chương trình này là sự mở cửa thị trường Hoa Kỳ cho các nước châu Phi, cho phép các quốc gia này tham gia vào thị trường thế giới và sản xuất các mặt hàng có thể hỗ trợ tăng trưởng kinh tế lâu dài. 

Eberstadt: Quỹ Thách thức Thiên niên kỷ là một ý tưởng tốt nhưng cho đến nay vẫn khó thực hiện. Chương trình này không có đủ quy mô để có thể tạo ra những ảnh hưởng rộng lớn không thông qua các khoản tín dụng. Nói cách khác, quy mô của MCA không đủ lớn để điều chỉnh hành vi của các quốc gia nhận viện trợ cũng như biện pháp thực hiện của các nhà tài trợ khác - những tổ chức đóng góp phần lớn vào nguồn tín dụng và viện trợ. 

Mục đích của MCA là thực hiện ý tưởng “chọn lọc” phân bổ nguồn lực vào những lĩnh vực phát huy nhiều tác dụng nhất vẫn còn trong giai đoạn thử nghiệm của Ngân hàng Thế giới. Tuy nhiên, một trong những lý do tại sao các nhà tài trợ lại gặp khó khăn trong việc “chọn lựa” như vậy là vì họ khó có thể từ chối viện trợ cho một số quốc gia. Việc duy trì mối quan hệ chính trị giữa các nước tài trợ và nước nhận viện trợ thường được xem là quan trọng hơn nhiều so với hiệu quả phát triển thực sự thông qua các việc chuyển giao nguồn vốn. Trong hoàn cảnh như vậy, việc chọn lựa là điều bất khả. 

Câu hỏi: Thưa Ngài, sự minh bạch và trách nhiệm sử dụng nguồn viện trợ hiệu quả có tầm quan trọng như thế nào? Và cần phải làm gì để có thể nâng cao năng lực quản lý? 

Radelet: Các chính sách và các thể chế nhà nước có hiệu quả hơn đều có tác động rất lớn đến tốc độ tăng trưởng của một quốc gia. Các quốc gia có các thể chế vững mạnh và nhân dân có sức khỏe tốt sẽ sử dụng viện trợ hiệu quả hơn những nước có nạn tham nhũng tràn lan và sức khỏe của người dân tồi hơn.  

Trước đây, chủ yếu trong thời kì Chiến tranh Lạnh, đã có nhiều trường hợp các nhà tài trợ quá dễ dãi trong việc viện trợ cho các quốc gia có tham nhũng. Chính điều này đã làm cho người ta nhìn nhận sai lệch về về tác dụng nói chung của viện trợ. 

Eberstadt: Môt nhân tố dẫn tới tham nhũng hoặc biển thủ nguồn vốn viện trợ là ý thức chính trị của các nhà tài trợ. 

Giữa phát triển kinh tế và pháp quyền có một mối quan hệ khăng khít. Pháp quyền là một mục tiêu quan trọng. Ở đâu sự minh bạch gắn liền với pháp quyền thì ở đó sẽ ít có rủi ro trong đầu tư và chi phí giao dịch sẽ ít hơn, và các hoạt động kinh tế cũng dễ dàng hơn. 

Ở nhiều nước xảy ra tình trạng phân phối của cải không đồng đều. Nhưng nếu những người dân nghèo biết rằng họ được pháp luật bảo vệ thì hẳn đây sẽ là một cuộc cách mạng tiến tới sự bình đẳng. 

Câu hỏi: Nếu một quốc gia bị phát hiện là có gian lận thì họ có bị cắt viện trợ không? 

Radelet: Trong nhiều trường hợp thì có, nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Trên thực tế, nguyên nhân chính dẫn đến sự mục ruỗng vì tham nhũng trong các cơ quan nhà nước ở nhiều quốc gia lại là nghèo đói. Cần phải có cam kết mạnh mẽ từ trong nước và nguồn vốn mới có thể xây dựng được các thể chế vững mạnh để có thể bài trừ nạn tham nhũng trong nhiều lĩnh vực. Đó không phải chỉ riêng là ý chí chính trị nội bộ. 

Các nhà tài trợ cần phải xác định rõ ràng mục đích các khoản viện trợ của mình. 

Eberstadt: Điều này phụ thuộc hoàn toàn vào mục tiêu viện trợ, ví dụ như viện trợ quân sự hay vì mục đích an ninh chính trị. Khi việc phân bổ các quỹ đã được thỏa thuận thì sẽ có những lý do xác đáng hơn để chấm dứt các chương trình viện trợ nhân đạo. 

Câu hỏi: Thế còn những điều kiện đặt ra với chính sách thì sao? Nhiều người vẫn cho rằng mặc dù kiểm soát tài chính, tự do hóa thương mại, phi điều tiết, tư nhân hóa đúng là những nhân tố tích cực nhưng chính tốc độ cũng như việc thực thi một cách sâu rộng các biện pháp này mới quyết định tới sự thành công của chính sách phát triển. 

Radelet: Chúng ta cũng đã rút ra được một bài học là các nhà viện trợ không thể áp đặt cải cách cũng như không thể “mua” cải cách bằng những lời hứa tăng viện trợ. Trước hết các quốc gia nhận viện trợ phải cam kết cải cách. Các khoản viện trợ chỉ có thể góp phần hỗ trợ cho các chính sách đúng đắn chứ không thể buộc các nước thi hành những chính sách này.

 

Eberstadt: Đặt ra các điều kiện là điều cần thiết. Nhưng các nhà tài trợ lại chưa có các biện pháp để đảm bảo các điều kiện đó được tuân thủ. Sẽ không thể đặt ra các điều kiện nếu không thể “cắt” viện trợ. Nhưng trong những thập niên vừa qua, thử hỏi chúng ta đã thấy có bao nhiêu trường hợp chính phủ các nước nhận viện trợ đã bị cắt viện trợ vì những hiệu quả tiêu cực phát sinh trong quá trình thực hiện các chương trình phát triển của họ hay chưa? 

Câu hỏi: Một số chương trình - chẳng hạn Tín dụng Quốc tế (IFF), thuế toàn cầu, quyền rút vốn đặc biệt (SDRs) - đã được chuyển sang tài trợ cho phát triển. Trong bối cảnh các quốc gia có nhu cầu rất lớn, theo Ngài, cách tiếp cận nào là tốt nhất đối với tài chính cho phát triển? 

Radelet: Nếu lúc nào chúng ta cũng nghĩ cách tìm ra các cách làm sáng tạo, mới để giúp đỡ các quốc gia phát triển kinh tế và giảm nợ thì thật lý tưởng. Nhưng chưa có một cơ chế nào hoàn toàn chỉ mang lại lợi ích cả.

 

Và cũng không có phương thức mới nào sẽ có thể hoàn toàn thay thế cho phương thức viện trợ truyền thống cũng như dòng vốn tư nhân được bởi vì những điều này đã trở nên quá quan trọng đối với các quốc gia có thu nhập trung bình.


Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển châu Phi nên tăng các khoản viện trợ không hoàn lại hơn là những khoản cho vay, đặc biệt là đối với các nước nghèo nhất thế giới. Các quốc gia có thu nhập bình quân đầu người hàng năm thấp hơn một mức nhất định nào đó thì nên được viện trợ không hoàn lại bởi họ gặp phải những thách thức phát triển nhiều nhất và cũng dễ bị tổn thương nhiều nhất từ các cú sốc kinh tế.

 

Tuy nhiên viện trợ không hoàn lại không có nghĩa là cho không mà cũng phải dựa trên cơ sở tình hình sử dụng nguồn vốn đó. Các khoản viện trợ đó cần phải được sử dụng cho những mục đích cụ thể, rõ ràng như đầu tư xây dựng đường sá, hay phát triển các cơ sở y tế. Các nhà tài trợ nên tăng vốn đầu tư cho các quốc gia thực hiện được các mục tiêu đề ra, và trái lại sẽ trừng phạt các quốc gia không đạt được các mục tiêu như vậy.


Eberstadt: Đối với các quốc gia nghèo nợ nần chồng chất đang gặp khó khăn trong việc trả nợ, chúng ta phải nhớ rằng các khoản nợ đó thông thường là các khoản tín dụng rất ưu đãi, nhưng nhưng kết quả thì lại quá tồi tệ. 

Ở những nước này, việc giải quyết các vấn đề kinh tế không chỉ đơn giản dừng lại ở việc xóa nợ. Tình trạng không trả được nợ nần cho thấy vấn đề nằm trong tổng thể của nền kinh tế. 

Vì vậy điều quan trọng hơn không phải là xóa nợ mà phải tìm ra nguyên nhân tại sao tốc độ hoàn vốn lại thấp đến như vậy. Tôi không cho rằng việc xóa nợ cho các nước nghèo là công cụ quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế của những nước này. 
 

Những quan điểm trình bày trong bài viết này không nhất thiết phản ánh chính sách hay quan điểm của Chính phủ Hoa Kỳ.

lên đầu trang ^

Công cụ:

Printer_icon.gif In trang này



 

    Trang Web này được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ quản lý.
    Chúng tôi không chịu trách nhiệm về nội dung và tính bảo mật thông tin của các trang Web khác được liên kết đến.


Đại sứ quán Hoa Kỳ