|
|
Các dịch vụ của IRC
Dịch vụ Reference Update
Tư liệu dịch
Kinh tế & Thương mại
An ninh khu vực
Các vấn đề toàn cầu
Báo chí, truyền thông và công nghệ thông tin
Chính trị, xã hội và văn hóa Mỹ
|  |
Tư liệu dịch: Kinh tế và thương mại
MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN QUỐC TẾ: TIẾN LÊN PHÍA TRƯỚC Tạp chí Điện tử của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Triển vọng Kinh tế, tháng 8/2005 LIÊN MINH PHÁT TRIỂN TOÀN CẦU Sự hợp tác giữa khu vực kinh tế tư nhân và khu vực kinh tế nhà nước đang cho thấy tính hiệu quả trong việc huy động vốn và phát triển công nghệ mới, vốn trí tuệ, xây dựng thị trường và tri thức kinh doanh nhằm giải quyết những vấn đề phát triển của thế giới ngày nay.
Bài báo này được trích từ báo cáo của Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ có tựa đề “Liên minh Phát triển Toàn cầu: Tăng cường ảnh hưởng của viện trợ nước ngoài thông qua các liên minh giữa khu vực kinh tế tư nhân và kinh tế nhà nước”. Liên minh Phát triển Toàn cầu (GDA) được thành lập vào tháng 5 năm 2001 như là một mô hình kinh doanh kiểu mới của Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) dựa trên những liên minh giữa khu vực công và tư nhằm tăng cường ảnh hưởng của vốn hỗ trợ phát triển chính thức mà Chính phủ Hoa Kỳ dành cho các nước. Kể từ khi thành lập, GDA đã phát triển từ chỉ một vài lên đến hàng trăm hiệp hội góp phần hỗ trợ cho sự tăng trưởng kinh tế, y tế, giáo dục, dân chủ và quản trị, môi trường và giải quyết xung đột. Trong các năm tài khóa từ 2002 đến 2004, USAID đã hợp tác với thêm gần 300 liên minh. Khoản đầu tư hơn 1,1 tỷ đô-la Mỹ của Chính phủ Hoa Kỳ cho các liên minh này đã huy động được nguồn lực hơn 3,7 tỷ đô-la Mỹ từ các đối tác. Nguồn lực của các đối tác không phải hoàn toàn bằng tiền mặt. Công nghệ mới, vốn trí tuệ, xây dựng thị trường và tri thức kinh doanh cũng hết sức quan trọng trong việc giải quyết vấn đề phát triển ngày nay. Nhưng các liên minh sẽ không thể tồn tại nếu tất cả các thành viên tham gia không cùng nhau chia sẻ những lợi thế của mình. Một trong những giá trị lớn nhất mà các bên nhận được từ USAID là sự tiếp cận được các cơ quan chính phủ và quen biết được các đối tác trong nước thông qua sự có mặt của USAID tại hơn 80 quốc gia và các phái đoàn khu vực. Những lợi thế so sánh khác bao gồm kinh nghiệm phát triển, khả năng tập hợp và điều phối, những lựa chọn sẵn có cho danh mục phát triển và khả năng huy động vốn của USAID. Dưới đây là những ví dụ nhỏ nhưng mang tính đại diện cho chúng ta thấy được những cam kết hành động của các cá nhân và tổ chức ở tất cả các lĩnh vực - giảm nghèo và khuyến khích dân chủ, đổi mới kinh tế và xã hội dân sự. TẠO RA NHIỀU KHẢ NĂNG TIẾP CẬN DỊCH VỤ TÀI CHÍNH HƠN Người nhập cư Mê-xi-cô và người Mỹ gốc Mê-xi-xô gửi hơn 16 tỷ đô-la Mỹ về Mê-xi-cô trong năm 2004, một con số lớn hơn rất nhiều so với tổng số tiền Mỹ viện trợ cho Mê-xi-cô. Nhưng chi phí giao dịch cao đã làm cản trở tiềm năng sử dụng kiều hối phục vụ phát triển bền vững cũng như hỗ trợ gia đình. Thậm chí chỉ cần giảm 1% chi phí giao dịch cũng sẽ có thể khuyến khích thêm hàng trăm triệu đô-la gửi về Mê-xi-cô. Dịch vụ tài chính dành cho người nghèo có khát vọng làm giàu cũng còn rất hạn chế: Ước chừng khoảng 40% người Mê-xi-cô không tiếp cận được những dịch vụ ngân hàng để gửi tiết kiệm, vay vốn hay có được những cơ hội làm giàu khác. Kiều hối phục vụ Liên minh Tăng trưởng Kinh tế tham gia cùng USAID và cùng với Hội đồng Liên minh Tín dụng Thế giới và mạng lưới tín dụng của Mê-xi-cô để giảm chi phí kiều hối và tạo ra nhiều khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính hơn cho người dân như gửi tiết kiệm, tín dụng và vay tiền có thế chấp. Các đối tác tham gia Liên minh tiến hành đào tạo nhân viên hiệp hội tín dụng của Mê-xi-cô và cung cấp những công nghệ hiện đại nhất cho việc chuyển tiền. Hệ thống này gồm cả hiệp hội tín dụng lớn nhất Mê-xi-cô là Caja Popular Mexicana. GIẢM BỆNH SỐT RÉT THÔNG QUA HỢP TÁC THƯƠNG MẠI Ở vùng cận Sahara của châu Phi hàng năm có hơn 2 triệu người chết vì bệnh sốt rét, hầu hết trong số họ là phụ nữ đang mang thai và trẻ em dưới năm tuổi. Màn chống muỗi là một trong những phương pháp hiệu quả nhằm hạn chế bệnh sốt rét. Việc dùng màn đã làm giảm 45% số người mắc bệnh sốt rét, giảm 42% số ca sinh non và giảm 20% số trẻ em chết vì tất cả các nguyên nhân khác. Liên minh NetMark là ví dụ về một khoản đầu tư trong thời gian ngắn của USAID nhằm làm giảm nạn mắc bệnh sốt rét ở vùng cận Sahara của châu Phi bằng cách tăng cường cung cấp màn và nâng cao ý thức công chúng về việc dùng màn. Liên minh đã làm cầu nối cho các đối tác thương mại châu Phi và quốc tế, các tổ chức phi lợi nhuận, Bộ Y tế các bước để khích lệ nhu cầu mua màn của các nước và đáp ứng nhu cầu của những nước có khả năng thanh toán và sẵn sàng mua màn, từ đó có thể cung cấp các khoản viện trợ eo hẹp cho những quốc gia không có tiền để mua màn dù cho màn được bán ở mức giá thấp đến cỡ nào đi chăng nữa. Chúng ta đạt được điều này là do chiến lược phối hợp phân đoạn thị trường, trong đó bao gồm cả chương trình phát vé giảm giá rầm rộ ở nhiều nước kết hợp với sự trợ giúp của ExxonMobil. Những thành công và bài học từ hoạt động của NetMark nhằm đạt được các mục tiêu y tế bền vững và công bằng hiện nay đã được đưa vào mô hình khoản viện trợ nước ngoài mang tên “Tác động Toàn bộ Thị trường”. XÂY DỰNG NỀN DÂN CHỦ Ở ĐÔNG NAM CHÂU ÂU Những nền tảng cơ bản của một nền dân chủ thực sự bao gồm sự minh bạch, việc điều hành hiệu quả của chính phủ, tôn trọng nhân quyền cũng như là sự tham gia rộng rãi của công dân vào quá trình ra quyết định. Các nhân tố này sẽ góp phần đảm bảo sự ổn định trong khu vực và thúc đẩy quá trình hội nhập của khu vực này vào các thể chế ở châu Âu-Đại Tây Dương như Liên minh châu Âu và Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương. Tổ chức Dân chủ Ban-căng là một sáng kiến lớn nhằm hỗ trợ khả năng quản lý nhà nước của các chính phủ và tăng cường sự tham gia của dân chúng ở các nước Đông Nam Âu. Tổ chức Dân chủ Ban-căng hàng năm cung cấp hơn 2 triệu đô-la Mỹ cho các nhóm dân sự, các tổ chức phi chính phủ địa phương, chính quyền các cấp khu vực và địa phương, các tổ chức hoạch định chiến lược, các tổ chức giáo dục và tổ chức truyền thông ở khu vực Ban-căng. Đầu tư cho các nhóm địa phương và tổ chức xã hội sẽ góp phần củng cố vững chắc hơn các định chế dân chủ và quy trình chính trị, hỗ trợ cho sự phát triển chính trị xã hội của toàn khu vực nhằm đạt được ổn định lâu dài. Ngoài ra, Tổ chức Dân chủ Ban-căng còn giúp nâng cao vị thế của khu vực và thúc đẩy quá trình gia nhập các tổ chức ở châu Âu-Đại Tây Dương. KHÔI PHỤC NỀN KINH TẾ VÀ NÔNG NGHIỆP CỦA ĂNG-GÔ-LA Cuộc nội chiến kéo dài 27 năm ở Ăng-gô-la đã khiến 2 triệu dân bị li tán, hệ thống nông nghiệp bị xáo trộn và nền kinh tế bị tàn phá. Trước chiến tranh là một nước xuất khẩu lương thực, nhưng giờ đây Ăng-gô-la phải dựa vào viện trợ nước ngoài để cứu tế cho dân. Thêm vào đó, khả năng cung cấp hàng hoá và dịch vụ công cộng của chính quyền địa phương rất yếu kém, trong khi các quy định rườm rà lại làm cản trở những nỗ lực khôi phục nền kinh tế thông qua việc thúc đẩy các hoạt động kinh doanh. Sau hiệp ước hòa bình năm 2002, Tổng thống Jos duardo dos Santos đã kêu gọi ông Daver O’Reilly, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc tập đoàn Chevron, tiếp tục phát huy vai trò truyền thống là một tập đoàn đầu tư nhiều nhất và tạo nhiều công ăn việc làm nhất ở Ăng-gô-la. Ông O’Reilly đã đáp lại lời kêu gọi này bằng cách thành lập Liên minh Phát triển Doanh nghiệp, trong đó tập đoàn Chevron và cơ quan USAID mỗi bên cam kết đóng góp tối thiểu 10 triệu đô-la Mỹ nhằm tài trợ cho các sáng kiến phát triển lĩnh vực nông nghiệp; phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ; xây dựng năng lực ngành tài chính đủ để tiếp cận được các dịch vụ tín dụng; dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật và tài chính cho các hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp như nhân giống và thâm canh. Tập đoàn Chevron và cơ quan USAID hiện đang tìm kiếm những cơ hội hợp tác mới để có thể tiếp tục vực dậy nền kinh tế và khai thác tiềm năng của Ăng-gô-la. CUNG CẤP NƯỚC SẠCH CHO TÂY PHI Gần 20% dân số thế giới - 1,2 tỷ người - thiếu nguồn nước sạch để uống và 2,4 tỷ người không được hưởng đầy đủ các dịch vụ vệ sinh. Chỉ tính riêng trong năm 2000, 1,3 triệu trẻ em dưới 5 tuổi đã bị chết do các bệnh đường ruột vì nguồn nước và điều kiện vệ sinh không đảm bảo. Ở các nước đang phát triển, người nghèo bị nhiễm những bệnh liên quan đến nguồn nước có thể phòng chống được, trong đó có các bệnh như giun Ghi-nê, giun chỉ u gây bệnh mù mắt và bệnh đau mắt hột - những bệnh gây mù mắt hàng đầu thế giới và có thể phòng chống được. Tại những vùng nông thôn nghèo khó của Ghana, Niger và Mali thì những vấn đề y tế và sinh kế liên quan tới nguồn nước luôn là những vấn đề nhức nhối. Nguồn nước sạch ổn định dành cho an ninh lương thực và tình trạng môi trường sinh thái - hai yếu tố ảnh hưởng đến cuộc sống của tất cả con người và sinh vật - là rất cần thiết nhưng nhiều người ở những nước phát triển lại coi đó là chuyện đương nhiên. USAID phối hợp với tổ chức Condrad N. Hilton Foundation, World Vision và một vài tổ chức quốc tế khác nữa đưa ra Sáng kiến Nước sạch Tây Phi, một chương trình trị giá 41 triệu đô-la Mỹ nhằm cung cấp nước sạch và các dịch vụ vệ sinh ở Ghana, Mali và Niger. Các bên tham gia Sáng kiến hoạt động trên phạm vi toàn quốc và ở các tỉnh với mục đích tăng cường khả năng tiếp cận nguồn nước sạch đảm bảo vệ sinh ở giếng, ở các nguồn nước khác và xây dựng nhà vệ sinh. Liên minh cũng nâng cao ý thức của người dân về các bệnh liên quan đến nguồn nước và thúc đẩy công tác quản lý nguồn nước bền vững thông qua các chương trình trợ giúp ở địa phương. ĐẢM BẢO TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI TRƯỚC MÙA THU HOẠCH ĐỐI VỚI CÁC NÔNG TRƯỜNG CÀ PHÊ Nhiều nông dân trồng cà phê đặc sản quy mô nhỏ ở Nam Mỹ và Đông Phi phải cạnh tranh vất vả trên thị trường cà phê thế giới bởi họ không thể tiếp cận được nguồn vốn cần thiết từ các ngân hàng sở tại để đầu tư thích đáng vào chu trình sản xuất, những người môi giới trong nước mua cà phê vào vụ thu hoạch với mức giá không đủ cho những người nông dân có thể mở rộng sản xuất và trong nhiều trường hợp thậm chí còn không đủ tiền để trang trải cho sinh hoạt gia đình. Nhưng khi nhu cầu thế giới ngày càng tăng đối với cà phê chất lượng cao ở mức giá cao như cà phê đặc sản thì nông dân trồng cà phê lại có cơ hội nâng cao đáng kể thu nhập của mình thông qua việc tiếp cận được với các khoản tín dụng và các mối liên kết với thị trường quốc tế và những lợi ích thu được việc sản xuất không gây tác hại tới môi trường. Liên minh Tài chính vì Thương mại Bền vững phối hợp với USAID, các công ty tài chính khác như EcoLogic Finance và những nhà nhập khẩu, những người rang cà phê, các tổ chức dán nhãn sinh thái độc lập và các tổ chức kiểm toán có trách nhiệm với xã hội nhằm tăng cường khả năng vay vốn kịp thời của các nông trường có cách gieo trồng, thu hoạch và chế biến không gây hại cho môi trường sinh thái. Các khoản vay được cấp trực tiếp cho các nông trường đã ký hợp đồng với người mua. Sau đó nông trường sẽ sẵn có tiền mặt để thanh toán cho nông dân khi ngay khi nông dân giao nộp sản phẩm vừa thu hoạch. Mô hình kinh doanh này không những tài trợ cho các nông trường mà còn liên kết nông trường với những khách hàng cuối cùng như Starbuck hay Green Mountain Coffee Roaster - những công ty cam kết bảo đảm thu mua đều đặn những mặt hàng nguyên liệu vốn là nguồn sinh nhai của hàng triệu người ở các nước đang phát triển. GIÁO DỤC THANH NIÊN Ả-RẬP Các quốc gia Ả-rập có dân số vào loại trẻ nhất thế giới nhưng tỷ lệ thất nghiệp trong thanh niên cũng vào hàng cao nhất. Tuy khoảng 100 triệu công việc sẽ được tạo ra trong 20 năm tới đây nhưng hệ thống giáo dục quốc gia của các nước không đào tạo kịp nhân lực cần thiết cho nhu cầu hiện tại. Vấn đề này đặc biệt nghiêm trọng ở những quốc gia sản xuất dầu mỏ vốn không đa dạng hóa được hoạt động sản xuất kinh tế của mình. INJAZ-Ảrập là một sáng kiến của khối kinh tế tư nhân nhằm giáo dục và nuôi dưỡng thế hệ lãnh đạo doanh nghiệp tương lai. Các doanh nghiệp hàng đầu, USAID, Sáng kiến Hợp tác Trung Đông và Bộ Giáo dục các nước đã cùng hợp tác gửi các nhà lãnh đạo doanh nghiệp cao cấp tới chia sẻ kinh nghiệm làm việc, bí quyết và kể các ví dụ về sự thành công cho thanh niên Ảrập. Sinh viên học được cách ngân hàng hỗ trợ doanh nghiệp và ngành sản xuất, cách quản lý ngân sách và theo dõi hàng lưu kho, thậm chí kể cả việc làm thế nào để thành lập một mô hình công ty có kế hoạch kinh doanh từ khi mới thành lập cho đến khi đóng cửa. Cả doanh nghiệp trong nước lẫn các công ty đa quốc gia đều ngày càng quan tâm tới việc tham gia vào INJAZ nhằm thể hiện vị thế doanh nghiệp. CUNG CẤP ĐIỆN CHO NGƯỜI HỒI GIÁO TRÊN ĐẢO MINDANAO Vùng phía nam quần đảo Phi-lip-pin từ ba thập kỷ nay đã xảy ra các cuộc bạo động dân sự và nổi loạn. Công cuộc khai thác và sự không quan tâm đến phát triển kinh tế ở vùng này đã làm kích động thêm phong trào du kích ở nơi mà người Hồi giáo chiếm đa số. Năm 1996, hiệp định hòa bình giữa chính phủ và quân nổi dậy đã lập ra Khu tự trị của người theo đạo Hồi trên đảo Mindanao, hứa hẹn đem lại phát triển kinh tế và xã hội cho khu vực này. Tuy nhiên, để có thể phát triển được thì điện chiếu sáng phải rẻ hơn và phải được cung cấp rộng rãi hơn. Quần đảo phía nam Phi-lip-pin này ở quá xa hệ thống đường dây điện lưới quốc gia và do vậy làm cản trở những hoạt động sinh lợi và khiến người dân vùng này phải dùng những chiếc đèn dầu thải ra khí các-bon đi-ô-xít. Liên minh USAID vì nguồn năng lượng tái sinh ngoài mạng lưới điện cho đảo Mindanao (AMORE) đã cung cấp đèn huỳnh quang compact dùng năng lượng mặt trời và đèn đường chiếu sáng cho Khu tự trị Hồi giáo Mindanao. Các nhóm phát triển cộng đồng duy trì bảo dưỡng những hệ thống năng lượng tái sinh này. Những nỗ lực của AMORE giúp tăng cường an ninh công cộng và tăng đáng kể năng suất của doanh nghiệp và cơ sở đào tạo vì có thể kéo dài giờ làm việc và học tập đến tận buổi tối. Những hệ thống điện này cũng cho phép các doanh nhân giàu tham vọng có thể thực hiện các dự án kinh doanh nhỏ như làm chiếu cói hay nghề thủ công địa phương. XÂY DỰNG CỘNG ĐỒNG Những hoạt động thiếu tính bền vững của con người - chẳng đốt nương làm rẫy, du canh du cư - đã tàn phá hàng triệu héc-ta diện tích rừng ở châu Phi. Chặt cây sẽ khiến cho đất có nguy cơ bị mất hết lớp đất thịt màu mỡ do mưa gió. Nông dân lúc đó sẽ lại chuyển đến khu đất mới, chặt cây và lại tiếp tục quy trình tàn phá cho đến khi hệ sinh thái ở khu vực đó bị hủy hoại. Điều này sẽ dẫn đến hạn hán, đói kém và gia tăng nguy cơ mắc bệnh - trong đó có cả bệnh HIV/AIDS - và rốt cuộc là làm sụp đổ những cộng đồng vốn đã từng phát triển bền vững. Hầu như không có cơ hội nào khác cho những vùng bị tàn phá nặng nề theo kiểu như này. Chương trình trồng cây và Nhóm quốc tế nhỏ của USAID (TIST) đã giải quyết những vấn đề nêu trên vào năm 1999 với sự tham gia của những nông dân Tanzania canh tác theo kiểu tự cung tự cấp. Những nông dân này dự những buổi thảo luận nhóm nhỏ với sự trợ giúp của chương trình phát triển thuộc các tổ chức tín ngưỡng. TIST vận động, đào tạo, tổ chức, cung cấp công nghệ và nâng cao tính trách nhiệm của người dân đối với việc trồng cây để tái tạo lại hệ sinh thái và xây dựng vùng nông thôn phát triển bền vững. Thông qua những thành công tại nước sở tại, TIST đã giúp cho các nhóm nông dân nâng cao được đời sống của họ và cải thiện được môi trường sống. Các bên tham gia vào TIST đã tính toán và ghi lại sự phát triển này bằng những hệ thống định vị toàn cầu chạy bằng pin và các công nghệ trợ giúp kỹ thuật số cá nhân.
|
| lên đầu trang ^ |
|
|