jump over navigation bar
Embassy SealBộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Đại sứ quán Hoa Kỳ - Hanoi, Vietnam flag graphic
Thông tin cập nhật
 
  Các dịch vụ của IRC Dịch vụ Reference Update Tư liệu dịch Kinh tế & Thương mại An ninh khu vực Các vấn đề toàn cầu Báo chí, truyền thông và công nghệ thông tin Chính trị, xã hội và văn hóa Mỹ

Tư liệu dịch: Chính trị, xã hội và văn hóa Mỹ

CHẶNG ĐƯỜNG DÀI TRANH CỬ: BẦU CỬ Ở HOA KỲ NĂM 2008
Tạp chí Điện tử của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 10/2007

BẦU CỬ QUỐC HỘI
L. Sandy Maisel

Đối với người dân Hoa Kỳ, việc bầu chọn các nghị sỹ cũng có ý nghĩa quan trọng như bầu chọn tổng thống. Bài viết dưới đây sẽ đề cập tới cơ cấu tổ chức của Quốc hội Hoa Kỳ, những nhân tố quan trọng trong các cuộc bầu cử Quốc hội, và dự kiến tác động của cuộc bầu cử năm 2008 đối với chính sách của Chính phủ Hoa Kỳ. L. Sandy Maisel là Giáo sư nghiên cứu chính phủ tại Đại học Colby ở Waterville, bang Maine.

Khi người dân Hoa Kỳ đi bỏ phiếu vào ngày 4/11/2008, họ sẽ không chỉ lựa chọn một vị tổng thống mà còn bầu chọn tất cả 435 hạ nghị sỹ và một phần ba số thượng nghị sỹ tại Quốc hội Hoa Kỳ. Người ta sẽ không chỉ quan tâm tới cuộc bầu cử tổng thống mà còn cả các cuộc bầu cử quốc hội nữa.

Theo quy định của Hiến pháp Hoa Kỳ, ngành hành pháp và lập pháp chia sẻ quyền ra quyết định. Tam quyền phân lập có thể sẽ không còn ý nghĩa nếu một đảng luôn luôn nắm giữ chức tổng thống và kiểm soát Quốc hội và nếu tất cả các đảng viên phải nhất nhất tuân theo những người lãnh đạo của họ. Nhưng cả hai trường hợp đó đều không xảy ra ở Hoa Kỳ. Quyền lãnh đạo không chỉ được phân lập từ góc độ hai nhánh của Chính phủ Liên bang được bầu chọn với các nhân tố khác nhau – tức là không có thượng nghị sỹ hay hạ nghị sỹ nào có thể đồng thời phục vụ trong ngành hành pháp – mà còn từ góc độ những người nắm giữ những chức vụ như vậy được bầu chọn trong các cuộc bầu cử khác nhau, mặc dù các cuộc bầu cử này được tổ chức trong cùng một ngày. Người dân có quyền bầu chọn tổng thống từ một đảng, thượng nghị sỹ từ một đảng khác, và hạ nghị sỹ từ một trong hai đảng đó hoặc từ đảng thứ ba. Trên thực tế, việc một đảng kiểm soát Nhà Trắng còn đảng khác thì kiểm soát một hoặc cả viện của Quốc hội là chuyện hoàn toàn có thể xảy ra, và xảy ra rất phổ biến. Tình huống như vậy được gọi là “chính phủ bị chia rẽ”. Hơn nữa, các thượng nghị sỹ và hạ nghị sỹ có thể tái đắc cử và không phụ thuộc vào các nhà lãnh đạo của đảng. Các nghị sỹ thường xuyên thể hiện sự độc lập như vậy bằng cách bỏ phiếu vì lợi ích của cử tri của họ, ngay cả khi điều đó khác với lập trường của đảng.

Cơ cấu tổ chức của Quốc hội

Quốc hội gồm Hạ viện và Thượng viện. Hạ viện là cơ quan gần gũi với cử tri nhất, được bầu chọn qua phổ thông đầu phiếu từ các quận tương đối nhỏ qua các cuộc bầu cử thường xuyên được tổ chức (hai năm một lần). Hiện nay ở California, bang đông dân nhất, có 53 ghế tại Hạ viện. Bảy tiểu bang có dân số ít nhất, mỗi tiểu bang đều có hai đại diện tại Hạ viện.

Thượng viện được xây dựng để phản ánh lợi ích của tiểu bang. Mỗi tiểu bang, bất kể quy mô dân số, đều có hai thượng nghị sỹ. Các thượng nghị sỹ có nhiệm kỳ sáu năm, được bầu so le để cứ hai năm một lần, một phần ba thượng nghị sỹ sẽ phải ra tái tranh cử. Ngay từ đầu, các thượng nghị sỹ được cơ quan lập pháp của tiểu bang lựa chọn, song kể từ năm 1913 họ được bầu chọn qua phổ thông đầu phiếu. Những người lập quốc cho rằng các thượng nghị sỹ có thể sẽ tránh được những dư luận nhất thời của cử tri bởi vì họ gián tiếp được bầu với nhiệm kỳ dài hơn; song nhiều người đặt câu hỏi liệu điều đó giờ đây còn đúng hay không.

Mặc dù Thượng viện và Hạ viện có quyền lực ngang nhau, song nắm giữ một ghế tại Thượng viện nhìn chung được coi là danh giá hơn nắm giữ một ghế tại Hạ viện: Khu vực cử tri rộng lớn hơn (ngoại trừ bảy bang nhỏ nhất, ở đó khu vực cử tri là bằng nhau); nhiệm kỳ dài hơn, và các thượng nghị sỹ được cả nước quan tâm hơn vì số lượng thượng nghị sỹ ít hơn.

Hạ viện và Thượng viện đều hoạt động theo các quy định chung, chỉ khác biệt một chút theo tiểu bang. Đảng Dân chủ và Cộng hòa và các đảng khác đang hoạt động tại một tiểu bang sẽ đề cử ứng viên thông qua các cuộc bầu cử sơ bộ; các ứng cử viên độc lập sẽ xuất hiện trên lá phiếu thông qua đơn thỉnh cầu. Người thắng cuộc trong cuộc tổng tuyển cử tháng 11 sẽ là ứng cử viên giành được hầu hết lá phiếu; không cần phải chiếm đa số.

Các yếu tố trong bầu chọn nghị sỹ

Có ba nhân tố cơ bản quyết định các cuộc bầu cử quốc hội: tinh thần đảng phái tại địa phương, có hay không một ứng viên đang đương chức, và vấn đề bức xúc đang đặt ra tại thời điểm đó. Hệ thống chính trị của Hoa Kỳ được coi là hệ thống có sự cạnh tranh giữa hai đảng. Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa đã chi phối chính trị Hoa Kỳ từ giữa thế kỷ XIX. Hơn 99% số đại biểu được bầu tại Quốc hội trong những năm gần đây thuộc về một trong hai đảng Dân chủ và Cộng hòa. Một hệ thống với mỗi quận một đại biểu duy nhất và người chiến thắng được đa số ủng hộ đã tạo điều kiện cho sự phát triển của hệ thống hai đảng. Các ứng cử viên của đảng thứ ba hoặc độc lập có thể được hưởng lợi trong chế độ đại diện theo tỷ lệ phiếu, nhưng lại không được hưởng lợi trong một cuộc bầu cử có kết quả sít sao.

Việc cạnh tranh kiểm soát Quốc hội ngày càng trở nên căng thẳng trong những thập niên gần đây – tương tự như đối với bầu cử tổng thống. Tuy nhiên, cuộc cạnh tranh đó không căng thẳng ở cấp quận và ở các tiểu bang. Một số quận và thậm chí một số tiểu bang lại dựa hẳn vào đảng này hay đảng khác. Ví dụ, Đảng Dân chủ thường giành phần thắng ở Massachusetts; còn Đảng Cộng hòa lại hay giành phần thắng ở Wyoming. Nhưng cũng có ngoại lệ, tuy nhiên không có ứng cử viên nào bước vào cuộc bầu cử quốc hội năm 2008 mà không biết tới tinh thần đảng phái thông thường của cử tri tại quận hoặc tiểu bang.

Kết quả bầu cử có thể được lý giải bằng sự hiện diện hay vắng mặt của một ứng cử viên đương chức. Hơn ba thập niên vừa qua, hơn 95% hạ nghị sỹ đang đương chức đã tìm cách tái tranh cử và đã thành công. Các thượng nghị sỹ đương chức cũng thành công khi tái tranh cử. Thậm chí trong các cuộc bầu cử trong đó nhiều ghế sẽ được hoán vị giữa các đảng, số cử tri có tinh thần đảng phái sẽ đi bầu cử cao hơn khi không có ứng cử viên đương chức nào tranh cử. Tác động của những nhân tố đó sẽ được thực hiện khi chúng ta đánh giá các ứng cử viên tiềm năng đang vận động được đảng đề cử để ra tranh cử tại Hạ viện và Thượng viện. Ở những vị trí có thể sẽ có sự cạnh tranh gay gắt – tức là những ghế không có ứng viên đương chức nào ra tranh cử ở quận có số lượng cử tri theo đảng Dân chủ và Cộng hòa gần ngang nhau – thì có thể sẽ có nhiều ứng cử viên cùng ra tranh cử trong cuộc bầu cử sơ bộ của mỗi đảng. Nếu vị trí đó vẫn để ngỏ nhưng một đảng chi phối ở một quận thì cuộc bầu cử sơ bộ của đảng đó có thể sẽ chứng kiến cuộc cạnh tranh quyết liệt, nhưng ở các đảng khác có thể sẽ có rất ít hoặc không có sự cạnh tranh. Cuối cùng, nếu một người đang đương chức ra tranh cử, thì ông ta hoặc bà ta có thể sẽ không phải đương đầu với sự cạnh tranh quyết liệt nào, và trong trường hợp đó lãnh đạo của các đảng khác sẽ rất khó tìm người ra tranh cử. Những nét đặc trưng nêu trên đúng với Hạ viện hơn là Thượng viện, vì các ghế trong Thượng viện được coi là danh giá hơn, do đó khó có thể dự đoán trước được kết quả bầu cử hơn.

Trong năm 2008 sẽ có một vị tân tổng thống được bầu chọn, và các vấn đề hệ trọng của quốc gia – cuộc chiến ở Iraq, khủng bố, chính sách nhập cư, sự phụ thuộc vào năng lượng – sẽ chi phối toàn bộ bức tranh bầu cử. Nếu tỷ lệ ủng hộ của cử tri dành cho Tổng thống Bush vẫn thấp và các vấn đề nêu trên vẫn chưa được giải quyết tại thời điểm bầu cử tháng 11 thì Đảng Dân chủ có thể có lợi thế trong cuộc đua quyết liệt.

Những hàm ý với quản trị và điều hành

Sau cuộc bầu cử quốc hội năm 2006, Washington đã chứng kiến tình trạng chính phủ bị chia rẽ, trong đó Đảng Cộng hòa chi phối Nhà Trắng và ngành hành pháp, còn Đảng Dân chủ kiểm soát cả hai viện của Quốc hội, cho dù với tỷ lệ rất sít sao tại Thượng viện.

Đảng Cộng hòa hiện nắm giữ 22 trong tổng số 34 ghế tại Thượng viện dự kiến sẽ được đua tranh trong năm 2008. Ngay cả khi Đảng Dân chủ chiếm một chút lợi thế thì đảng này cũng sẽ giành được vị trí đa số áp đảo trong Thượng viện. Thượng viện yêu cầu phải có 60 phiếu thuận mới có thể thông qua được một quyết định lớn; Đảng Dân chủ sẽ không thể đạt được con số đó.

Đảng Dân chủ hiện nắm giữ nhiều hơn Đảng Cộng hòa khoảng 30 ghế tại Hạ viện. Mặc dù nhiều ứng cử viên đương chức có kế hoạch tái tranh cử, song vẫn có khoảng 25 hạ nghị sỹ sẽ thôi nắm giữ chức vụ sau khóa này của Quốc hội. Phần lớn các ghế đó – và thêm khoảng 25 ghế nữa, phần lớn là của Đảng Dân chủ sau khi tiếp quản vị trí của Đảng Cộng hòa năm 2006 – sẽ được cạnh tranh quyết liệt trong năm 2008. Đảng Dân chủ dường như có một chút lợi thế trong cuộc chạy đua này và có thể sẽ thêm một số ghế vào vị trí đa số của họ, nhưng vẫn không đủ để rảnh tay tùy ý quyết định.

Trên cơ sở cuộc bầu cử quốc hội sắp tới, nếu một ứng viên của Đảng Cộng hòa đắc cử tổng thống trong năm 2008, vị tổng thống đó có thể sẽ đối mặt với lực lượng đối lập đông đảo kiểm soát cả hai viện của Quốc hội. Nếu một ứng viên của Đảng Dân chủ giành thắng lợi thì vị tổng thống đó có thể sẽ lãnh đạo với Quốc hội nằm trong sự chi phối của đảng mình. Tuy nhiên, đó sẽ là một quốc hội mà ở đó Đảng Cộng hòa vẫn duy trì đủ sức mạnh để cản trở những sáng kiến chính sách lớn.

Một hệ thống quản trị và điều hành đất nước tam quyền phân lập, với nguyên tắc kiểm soát và cân bằng và phần lớn kết quả bầu cử quốc hội tùy thuộc vào thế mạnh của ứng viên đương chức, chứ không phải các xu hướng ở trong nước, sẽ thúc đẩy những thay đổi chậm chạp về chính sách đối nội. Đây chính là điều mà những người xây dựng Hiến pháp mong muốn. Sẽ có nhiều vấn đề hệ trọng chi phối cuộc bầu cử năm 2008. Mặc dù vị tổng thống mới có thể hành động trong một số vấn đề nào đó mà không cần sự đồng thuận của quốc hội, song trong nhiều khía cạnh khác nữa, các chính sách của chính phủ Hoa Kỳ cũng sẽ chỉ thay đổi rất ít mà thôi - nếu không phải là nói quá.

Các quan điểm trình bày trong bài viết này không nhất thiết phản ánh quan điểm hay chính sách của Chính phủ Hoa Kỳ.

lên đầu trang ^

Công cụ:

Printer_icon.gif In trang này



 

    Trang Web này được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ quản lý.
    Chúng tôi không chịu trách nhiệm về nội dung và tính bảo mật thông tin của các trang Web khác được liên kết đến.


Đại sứ quán Hoa Kỳ