jump over navigation bar
Embassy SealBộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Đại sứ quán Hoa Kỳ - Hanoi, Vietnam flag graphic
Thông tin cập nhật
 
  Các dịch vụ của IRC Dịch vụ Reference Update Tư liệu dịch Kinh tế & Thương mại An ninh khu vực Các vấn đề toàn cầu Báo chí, truyền thông và công nghệ thông tin Chính trị, xã hội và văn hóa Mỹ

Tư liệu dịch: Chính trị, xã hội và văn hóa Mỹ

CHẶNG ĐƯỜNG DÀI TRANH CỬ: BẦU CỬ Ở HOA KỲ NĂM 2008
Tạp chí Điện tử của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 10/2007

LIỆU CỬ TRI ĐOÀN CÓ CÒN TỎ RA HỮU DỤNG HAY KHÔNG?

Hai học giả tranh luận về các ý kiến tán thành và phản đối Cử tri đoàn - một hệ thống qua đó, mỗi bang bổ nhiệm những người đi dự đại biểu đại hội cử tri để bầu ra Tổng thống Mỹ sau khi cuộc bầu phiếu phổ thông đã kết thúc. Ross K. Baker nêu ra trường hợp duy trì hình thức Cử tri đoàn như Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787 đã quy định. Baker là giáo sư khoa học chính trị ở Đại học Rutgers, New Brunswick, New Jersey. Jamie Raskin thì không ủng hộ việc áp dụng hệ thống Cử tri đoàn vì hệ thống này không bảo đảm các kết quả bầu cử phản ánh được lá phiếu của dân chúng trên toàn quốc. Raskin là Thượng nghị sĩ bang Maryland và là Giáo sư về luật hiến pháp tại Đại học American Washington, D.C. Ông đã đề nghị áp dụng điều luật cho phép Maryland trở thành bang đầu tiên trên lãnh thổ Hoa Kỳ tham gia vào Hiệp ước Tiểu bang bầu phiếu phổ thông quốc gia.

NHỮNG Ý KIẾN TÁN THÀNH
Cử tri đoàn: Vẫn còn hữu dụng trong thế kỷ XXI
Ross K. Baker

Vào một buổi tối ngày 7/11/2000, thượng nghị sĩ mới đắc cử của Đảng Dân chủ từ bang New York, Hillary Rodham Clinton, đã phát biểu trước đám đông cuồng nhiệt những người ủng hộ bà tại Manhattan và tuyên thệ rằng bà sẽ tới Washington và làm việc hết mình nhằm xóa bỏ hình thức Cử tri đoàn "cổ xưa và phi dân chủ" - một hình thức đã thất bại trong việc chọn ra được người thắng cuộc rõ ràng trong cuộc bầu cử tổng thống.

Không một ai nghĩ tới việc chỉ ra cho bà thấy rằng thể chế thông qua đó bà vừa mới đắc cử - Thượng viện Hoa Kỳ - chính là một thể chế vừa cổ xưa (được thành lập từ năm 1789) vừa phi dân chủ (mỗi bang, bất kể dân số của bang đó là bao nhiêu, được đại diện bởi hai thượng nghị sĩ). Nếu chúng ta áp dụng cho Hiến pháp Hoa Kỳ tiêu chuẩn để tất cả các điều khoản trong đó phải hiện đại và dân chủ thì hẳn là trên thực tế, Hiến pháp này đã không thể tồn tại lâu dài và thành công đến như vậy trong các chương trình của chính phủ.

Hiến pháp Hoa Kỳ chứa nhiều nội dung mà một vài lời chỉ trích cho rằng đã lỗi thời, bao gồm cả hệ thống liên bang, trong đó, chính quyền trung ương chia sẻ quyền lực với 50 bang. Có thể sẽ hiệu quả hơn nếu nước Mỹ chỉ vận hành nhờ bộ máy trung ương ở Washington, D.C., nhưng những người đã soạn thảo Hiến pháp thì lại không nghĩ rằng tính hiệu suất này là một ưu tiên. Họ nhấn mạnh giá trị của tự do và cảm thấy an toàn hơn nếu phân tách quyền lực chính trị. Một đặc tính của chế độ phân quyền này là việc chính quyền quốc gia hay chính quyền liên bang chia sẻ quyền lực với các bang.

Một nội dung quan trọng khác của chế độ liên bang Hoa Kỳ là sự tham gia của cả 50 bang, với cương vị là các bang riêng rẽ, vào việc lựa chọn tổng thống. Hệ thống này - Cử tri đoàn - mang lại cho mỗi bang một số phiếu đại cử tri tương ứng với số thành viên của bang này trong Thượng viện và Hạ viện Hoa Kỳ (số đại biểu của các bang tại hai viện này lại tương ứng với số dân của từng bang). Ứng viên tổng thống nào chiếm được đa số phiếu tại một số bang có số phiếu đại cử tri chiếm đa số trong tất cả các phiếu đại cử tri (hiện nay là 270 trên 538) sẽ trở thành tổng thống.

Các quan điểm chỉ trích hệ thống này biện hộ cho tính đơn giản của hình thức bầu cử trực tiếp. Bạn chỉ cần tính số phiếu bầu trên toàn quốc, không cần biết tổng số phiếu bầu của mỗi bang và tuyên bố người đắc cử. Nếu Hoa Kỳ áp dụng hệ thống này, các ứng viên sẽ chỉ có động cơ tổ chức chiến dịch tranh cử tại các bang đông dân nhất và tìm cách có được số phiếu lớn nhất từ các bang này mà không cần quan tâm đến các bang có quy mô dân số nhỏ hơn.

Cử tri đoàn buộc các ứng viên phải tìm sự ủng hộ không chỉ tại các bang đông dân và tổ chức chiến dịch tranh cử tại những nơi mà có thể sẽ bị bỏ qua trong hình thức bầu cử trực tiếp. Ít nhất là trên lý thuyết, các ứng viên có thể chỉ tổ chức chiến dịch tranh cử tại 12 bang đông dân nhất và sẽ đắc cử tổng thống. Điều đó có nghĩa là các ứng viên có thể có mọi lý do để không lưu tâm tới 38 bang còn lại. Ngược lại, trong hệ thống Cử tri đoàn, gần như chắc chắn là không một ứng viên nào có thể chiến thắng nếu chỉ tổ chức chiến dịch tranh cử tại 12 bang đông dân nhất. Một ứng viên tổng thống thuộc đảng Dân chủ có thể sẽ thắng cử ở New York, California và Massachusetts. Và một ứng viên tổng thống thuộc đảng Cộng hòa có thể sẽ thắng cử ở các bang Texas, Bắc Carolina và Georgia. Để có ít nhất 270 phiếu đại cử tri trước khi tới Nhà Trắng, mỗi ứng viên không chỉ phải dẫn đầu tại các bang lớn - ví dụ như Ohio và Florida - mà còn phải chiếm ưu thế tại các bang có số dân ít hơn. Vì tất cả các bang đều được phép có ít nhất ba phiếu đại cử tri nên các ứng viên không thể không chú trọng đến các bang này.

Cử tri đoàn cũng đảm bảo để không một ứng viên nào được lựa chọn bởi một khu vực riêng rẽ (tránh hiện tượng một số khu vực chỉ bỏ phiếu cho ứng viên của mình) vì không một vùng riêng biệt nào trên lãnh thổ Hoa Kỳ lại có đủ số phiếu đại cử tri cho phép chọn ra vị tổng thống mới. Các quan điểm chỉ trích hệ thống Cử tri đoàn nhấn mạnh vào số lượng cử tri; còn những quan điểm ủng hộ hệ thống này lại chỉ ra sự phân bổ lá phiếu theo khu vực tại các bang và các vùng trên toàn quốc.

Trong lịch sử Hoa Kỳ, hệ thống Cử tri đoàn đã gây khó khăn cho các đảng nhỏ và ứng viên của đảng thứ ba trong cuộc chạy đua vào Nhà Trắng. Một số quan điểm chỉ trích hệ thống này coi đây là điểm tiêu cực của hệ thống chính trị Mỹ nhưng hệ thống hai đảng cũng đã phục vụ nước Mỹ một cách tốt đẹp. Nhờ áp đặt một mức độ hòa hợp vừa phải trong chính trị Mỹ, chế độ hai đảng là nhân tố quyết định sự bình ổn chính trị của đất nước. Nó làm nản lòng các phong trào cực đoan, nhưng đồng thời, nếu một đảng nhỏ hoặc một ứng viên đề xuất ý tưởng gần gũi với cử tri thì một trong hai đảng lớn vẫn có thể sẽ thông qua các ý tưởng ấy. Một ứng viên cực đoan có thể giành nhiều phiếu bầu phổ thông và phiếu đại cử tri tại một số ít bang - là điều đã xảy ra với Strom Thurmond và Đảng Quyền lợi các bang, một đảng có chủ trương phân biệt chủng tộc, của ông ta trong cuộc bầu cử năm 1948 - nhưng không thể thắng trong cuộc bầu cử tổng thống. Vẫn còn nhiều vấn đề để có thể chỉ trích chính trị Mỹ trong hệ thống Cử tri đoàn, song điều quan trọng là hệ thống này đã làm nản lòng những phần tử theo chủ nghĩa cực đoan.

Ngoài ra, mặc dù hệ thống Cử tri đoàn đã làm nản lòng những phần tử theo chủ nghĩa cực đoan chính trị nhưng nó lại trao quyền cho các nhóm sắc tộc và dân tộc thiểu số. Ví dụ như người Mỹ gốc Tây Ban Nha chỉ chiếm khoảng 12% dân số Mỹ và thậm chí còn chiếm tỷ lệ nhỏ hơn trong tổng số cử tri. Trong hệ thống bầu cử trực tiếp, ảnh hưởng của họ sẽ bị giảm đi rất nhiều nhưng số phiếu đại cử tri của họ lại đủ lớn để có thể có những ảnh hưởng đáng kể tại một vài bang. Ở bang Arizona - một bang có ảnh hưởng chính trị quan trọng - tỷ lệ người Mỹ gốc Tây Ban Nha là khoảng 25% - có nghĩa là gấp đôi tỷ lệ trung bình trên toàn quốc - điều này khiến nhóm thiểu số này có ảnh hưởng chính trị lớn hơn trong hệ thống Cử tri đoàn. Tương tự như vậy với các bang như Virginia, người Mỹ gốc Phi chiếm gần 20% dân số và vì vậy ảnh hưởng chính trị của bang này có tính cạnh tranh hơn.

Cuối cùng, có một nghi vấn lớn hơn về tiềm lực của hệ thống liên bang. Những nhà soạn thảo ra Hiến Pháp thấy rằng việc phân quyền giữa chính quyền trung ương và chính quyền các bang là hình thức bảo vệ quan trọng cho quyền tự do cá nhân. Trong những năm gần đây, qua quan sát ta thấy rằng chính quyền trung ương ngày càng có nhiều quyền lực hơn trong các lĩnh vực theo truyền thống vẫn thuộc trách nhiệm của chính quyền các bang. Giảm bớt ảnh hưởng của các bang, thậm chí thông qua việc xóa bỏ hệ thống Cử tri đoàn, có nghĩa là đã cắt bỏ một trong các trụ cột chính của một hệ thống chính trị đã đứng vững trước những thách thức mà lịch sử Hoa Kỳ đã phải đối mặt trong suốt hơn 220 năm qua.

Các ý kiến bày tỏ trong cuộc phỏng vấn này không phản ánh quan điểm hoặc chính sách của Chính phủ Hoa Kỳ.

NHỮNG Ý KIẾN PHẢN ĐỐI
Hãy sử dụng Cử tri đoàn để mang lại cho nước Mỹ một cuộc bầu cử phổ thông toàn quốc nhằm lựa chọn tổng thống.
Jamie Raskin

Là công dân Mỹ, đặc tính của chúng ta là thúc đẩy dân chủ và có ảnh hưởng sâu rộng tới các cải cách chính trị trên toàn thế giới.

Trong khi đó, tại chính nước Mỹ, chúng ta lại trở nên trầm lặng hơn. Chúng ta coi các tập quán bầu cử của mình là "dân chủ" mà không cần xem xem chúng có đúng với các nguyên tắc dân chủ của chúng ta hay không, thậm chí chúng còn kém dân chủ hơn rất nhiều so với các tập quán mới được xây dựng tại những quốc gia khác trên thế giới.

Tính tự mãn này thật đáng hổ thẹn vì một số tập quán bầu cử hiện nay của chúng ta đang bắt đầu xa rời nền tảng dân chủ của nước Mỹ.

Ví dụ điển hình nhất là việc chúng ta làm thế nào để chọn ra vị tổng thống Hoa Kỳ. Đây là một tiến trình rối rắm trộn lẫn tất cả các nguyên tắc dân chủ. Chúng ta hãy cùng xem xét các nguyên tắc dân chủ cơ bản này được thể hiện trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ như thế nào:

  • Nguyên tắc đa số - nhưng lại không có trong các cuộc bầu cử tổng thống Mỹ. Nguyên tắc đa số là trung tâm của nền dân chủ chính trị, nhưng ở Hoa Kỳ, ứng viên có đa số phiếu bầu của dân chúng lại không phải là người sẽ trở thành tổng thống. Người thắng cuộc là người được đa số phiếu bầu đại cử tri - thông qua hệ thống Cử tri đoàn, một hệ thống trong đó, mỗi bang chỉ định một số "đại cử tri" là những người sẽ đứng ra lựa chọn tổng thống. Trong cuộc bầu cử rầm rộ năm 2000, Phó Tổng thống Al Gore đã đánh bại Thống đốc George W. Bush với hơn 500.000 phiếu trong cuộc tuyển cử phổ thông nhưng vẫn là người thua cuộc trong cuộc bầu cử Cử tri đoàn do vào phút cuối cùng, ông đã thua Bush 537 phiếu ở bang Florida. Những người thua cuộc trong bầu phiếu phổ thông đã đảo ngược tình thế trong ba cuộc bầu cử Cử tri đoàn khác và có nhiều người nằm trên ranh giới mong manh này khi có một chút thay đổi trong số phiếu đại cử tri mà họ giành được trước khi bước chân vào Nhà Trắng.
  • Dân chúng bỏ phiếu lựa chọn tổng thống của mình - nhưng điều này không đúng trong trường hợp nước Mỹ. Ở đây, dân chúng chỉ bỏ phiếu bầu các đại cử tri và đại cử tri là người bầu ra tổng thống. Tất nhiên là phần lớn dân chúng đều tin rằng họ đang tham gia vào việc bỏ phiếu để chọn ra vị tổng thống mới của mình.
  • Tất cả các lá phiếu đều có giá trị ngang nhau - nhưng điều này không đúng trong hệ thống Cử tri đoàn, khi mà lá phiếu của dân chúng ở bang Delaware hoặc Bắc Dakota được coi là có giá trị toán học (đo lường bằng tỷ lệ giữa số lượng cử tri với số đại cử tri của bang) hơn một lá phiếu đơn lẻ tại các bang lớn hơn như California hoặc Texas hay New York. Nhưng nếu bạn đo đếm lá phiếu sao cho các cử tri có khả năng ảnh hưởng tới việc quyết định cuối cùng ai là người được chọn làm đại cử tri của bang thì mức độ độc đoán sẽ thay đổi và sự chênh lệch này còn lớn hơn, thậm chí trở nên quá lộ liễu. Ví dụ như, trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2004, có sự chênh lệch 365 phiếu ở bang New Mexico nhưng có tới 312.043 phiếu chênh tại bang Utah. Điều này có nghĩa là cử tri ở bang New Mexico có thể ảnh hưởng lớn gấp hàng trăm lần tới việc bổ nhiệm đại cử tri so với cử tri ở Utah.
  • Tất cả các cử tri đều có động cơ như nhau trong việc bỏ phiếu - nhưng ở Hoa Kỳ thì không như vậy. Phần lớn dân chúng sống tại các bang được coi là "an toàn" đối với đảng Cộng hòa hoặc đảng Dân chủ đều có cơ sở để tin cậy vào các đại cử tri của bang mình trong việc lựa chọn tổng thống. Hai phần ba các bang còn lại đã trở thành nơi để các ứng viên lao vào tìm mọi cách để thu hẹp biên độ "dao động". Trong hai cuộc bầu cử gần đây, hai đảng đã tiêu 99% nguồn lực dành cho các chiến dịch tranh cử chỉ trong 16 bang và trong đó, đáng kinh ngạc là họ đã tiêu tới 70% ngân sách chỉ trong 5 bang. Phần lớn chúng ta - bao gồm cả người dân ở Texas, New York và California - 3 trong số 4 bang lớn nhất nước Mỹ - đều chỉ là khán giả cho các chiến dịch tranh cử thực sự diễn ra ở các bang Florida, Ohio hoặc ở một số nơi khác. Chuyến "lưu diễn" trên hầu như khắp đất nước đã làm giảm sự chú ý của dân chúng tại các bang bị bỏ quên. Mức độ chú ý của cử tri trong các cuộc tuyển cử phổ thông chiếm 70% tại các bang có chiến dịch tranh cử song lại thấp hơn 50% ở các bang quan sát từ xa. Điều này đã kéo tỷ lệ quan tâm của dân chúng tới cuộc bầu cử nói chung trên khắp quốc gia xuống thấp hơn cả mức thấp nhất trên thế giới.

Chúng ta có thể làm gì để thay đổi cách bầu cử tổng thống của nước Mỹ? Các cuộc điều tra công luận lâu nay đã chỉ ra rằng hơn 65% dân chúng Mỹ ủng hộ hình thức bầu cử phổ thông trực tiếp để lựa chọn tổng thống, trong đó, tất cả các phiếu bầu của chúng ta đều có giá trị ngang nhau giữa các vùng địa lý. Dân chúng muốn tổng thống phải là người đại diện cho tất cả người dân Mỹ chứ không chỉ là đại diện cho một nhóm các bang có sự vận động hành lang đối với các đại cử tri. Câu hỏi khó trả lời là làm sao có thể điều hòa được mong muốn bản năng về một cuộc bầu cử phổ thông toàn quốc với một cơ chế cổ xưa của hệ thống Cử tri đoàn, một thể chế mà Thomas Jefferson đã gọi là "nhược điểm nguy hại nhất trong Hiến pháp của chúng ta".

Hiện nay bang Maryland đã thực hiện một bước đi lịch sử để chỉ ra cho chúng ta thấy chúng ta có thể sử dụng Cử tri đoàn để giúp ứng viên chiến thắng trong bầu phiếu phổ thông giành được chiếc ghế tổng thống như thế nào. Vào ngày 10/4/2007, Thống đốc Martin O'Malley đã đưa vào luật một kế hoạch để bang này tham gia hiệp ước tiểu bang, trong đó, tất cả các bang thành viên thống nhất bỏ phiếu đại cử tri cho ứng viên thắng cuộc trong cuộc bầu phiếu phổ thông toàn quốc. Hiệp định này sẽ có ảnh hưởng rất lớn khi nó được một số bang đại diện cho đa số phiếu đại cử tri (270) ban hành. Kế hoạch này, đã được Hạ viện và Thượng viện bang Maryland thông qua với số phiếu áp đảo, được thông qua tại cơ quan lập pháp của khoảng 12 bang khác và tại cả hai viện ở California, Hawaii và Illinois. Đây quả thực là dấu hiệu chứng tỏ rằng các cuộc bầu cử tổng thống của chúng ta bắt đầu thực sự bắt nguồn từ một "chính phủ của dân, do dân và vì dân".

Kế hoạch bầu cử phổ thông quốc gia vẫn cho phép các bang thành lập hiệp ước tiểu bang có quyền chỉ định các đại cử tri. Điều II, Phần I trong Hiến pháp Hoa Kỳ đã nêu rõ: "Mỗi bang phải chỉ định một cách hợp pháp các đại cử tri". Quyền này đã được phát triển theo nhiều cách khác nhau bởi các cơ quan lập pháp. Khi nước Mỹ mới thành lập, các cơ quan lập pháp đã trực tiếp chỉ định đại cử tri. Cử tri đoàn hoạt động như một cơ quan tự do và mỗi đại cử tri bỏ phiếu theo lương tâm của họ. Ví dụ như, trong năm 1800 Maryland đã thấy 7 đại cử tri của họ bầu cho Adams và 4 đại cử tri bầu cho Jefferson. Khi các bang bắt đầu chỉ định đại cử tri dựa trên quy mô dân số thì các bang có ít dân số hơn đã phàn nàn rằng hình thức bầu phiếu này làm giảm quyền lực của các bang nhỏ (và họ hoàn toàn có lý). Họ đã kiện ra tòa án và họ đã thua. Trong vụ Delaware kiện New York (1966), Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã bác bỏ đơn kiện vì Tòa cho rằng quyền chỉ định đại cử tri của các bang có thể được tiến hành dưới bất kỳ hình thức nào mà họ cho là hợp lý. Nói chung, quyền lực của các bang là "không có giới hạn".

Như vậy là từ California đến New Jersey, từ Texas đến Utah, các cơ quan lập pháp của chúng ta - dẫn đầu là các bang bị lãng quên trong các chiến dịch tranh cử - nay đã có thể hợp nhất và sử dụng quyền hợp pháp của họ để tặng cho nước Mỹ điều mà chúng ta ủng hộ tại phần còn lại của thế giới nhưng chúng ta lại chưa bao giờ đạt được ở chính đất nước mình: một cuộc bầu cử quốc gia thực sự để lựa chọn tổng thống, dựa trên các nguyên tắc đa số, mỗi người một lá phiếu và tất cả các lá phiếu đều có giá trị ngang nhau. Một cuộc bầu cử như vậy sẽ đánh thức mối quan tâm đang tắt lịm của dân chúng đối với nền dân chủ, tạo động lực cho mười triệu người hiện đang bị đẩy vào vị trí của những cử tri vô dụng. Điều này cũng sẽ khiến cho nước Mỹ tiến gần với các nguyên tắc dân chủ đang được áp dụng để bầu cử tổng thống tại các quốc gia khác trên thế giới hiện nay.

Các ý kiến bày tỏ trong cuộc phỏng vấn này không phản ánh quan điểm hoặc chính sách của Chính phủ Hoa Kỳ.

lên đầu trang ^

Công cụ:

Printer_icon.gif In trang này



 

    Trang Web này được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ quản lý.
    Chúng tôi không chịu trách nhiệm về nội dung và tính bảo mật thông tin của các trang Web khác được liên kết đến.


Đại sứ quán Hoa Kỳ