jump over navigation bar
Embassy SealBộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Đại sứ quán Hợp chúng quốc Hoa Kỳ - Hanoi, Vietnam flag graphic
Thông tin cập nhật
 
  Trung tâm Hoa Kỳ Các dịch vụ của AC Dịch vụ Reference Update Tư liệu dịch Kinh tế & Thương mại An ninh khu vực Các vấn đề toàn cầu Báo chí, truyền thông và công nghệ thông tin Chính trị, xã hội và văn hóa Mỹ Các chương trình trao đổi giáo dục Quan hệ Mỹ-Việt Góc Nghiên cứu Việt Nam-Hoa Kỳ Học tập ở Hoa Kỳ Cơ hội xin viện trợ/học bổng Các hoạt động dành cho công chúng

Tư liệu dịch: CHÍNH TRỊ, XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA MỸ

TÀN TẬT VÀ LÀNH LẶN
Tạp chí Điện tử của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 11/ 2006

XÃ HỘI VÀ LUẬT PHÁP HOA KỲ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TÀN TẬT
Peter Blanck

Peter Blanck là Giáo sư đại học kiêm Chủ tịch Viện Burton Blatt của Trường Đại học Syracuse. Ông đã tham gia soạn thảo và thông qua Luật Bảo vệ người tàn tật Hoa Kỳ, đồng thời đã điều trần về vấn đề này trước Quốc hội Hoa Kỳ. Ông cũng đã bào chữa cho nhiều trường hợp liên quan tới vấn đề này tại Tòa án Tối cao Hoa Kỳ. Peter Blanck đã viết và giảng bài ở nhiều nơi về chủ đề này. 

Ở Hoa Kỳ, sự hiểu biết, những khái niệm pháp lý và thái độ của công chúng trước tật nguyền và những người tàn tật đã thay đổi theo năm tháng. Trước đây, người ta coi tật nguyền là tàn phế, khiến người ta không thể tham gia những hoạt động bình thường trong cuộc sống. Có thể đó là những dị tật về thể xác hoặc tinh thần, có thể là bẩm sinh hoặc có thể do bị tai nạn hoặc bị ốm. Thái độ của công chúng rất đa dạng, từ lòng mong mỏi bảo vệ những người tàn tật đến những mối quan ngại cho rằng khả năng cũng như quan niệm sống của ai đó sẽ hẹp hòi tới xem thường và đổ lỗi cho người tàn tật và gia đình họ. Có nhiều trường hợp người tàn tật đã bị cách ly trong gia đình hoặc ở nơi công sở, và hầu như không được tiếp xúc với xã hội. Gần như trong mọi trường hợp, tàn tật bị coi là tàn phế suốt đời, chứ không phải là một tình trạng nào đó có thể được cải thiện nhờ chữa trị hoặc có thể giảm bớt nhờ trợ giúp và chăm sóc.

Ở Hoa Kỳ, khái niệm “tàn tật” trong luật pháp có từ rất sớm, do có rất nhiều binh lính bị thương trở về sau cuộc Nội chiến (1861-1865). Theo các đạo luật về hưu trí sau Nội chiến, những cựu chiến binh bị tàn tật thuộc quân đội Liên bang (miền Bắc) được hưởng lương hưu do “mất khả năng lao động thủ công”. Về cơ bản, luật pháp thời đó đã xác định tàn tật là thiểu năng, không thể tham gia bình đẳng vào đời sống xã hội. Tuy vậy, không phải tất cả các loại tàn tật đều được coi là bình đẳng giống nhau. Đôi khi động kinh, tâm thần và các bệnh truyền nhiễm đã bị coi là không xứng đáng được trợ giúp, và vì vậy những người tàn tật đã bị phân biệt đối xử.

Một trăm năm sau, vào thập niên 1960, Chương trình phúc lợi xã hội đã cố gắng hỗ trợ nhiều người nghèo và người tàn tật hơn. Song những chương trình này vẫn tiếp tục làm theo cách cũ, chỉ tập trung đánh giá khả năng của người tàn tật tự thích nghi với thế giới dành cho những con người lành lặn, và cách ly những người không thể tham gia vào các hoạt động bình thường. Các chương trình này vẫn cứ tiếp tục đánh giá năng lực của những người được hưởng phúc lợi hoặc các dịch vụ.

Những thay đổi về thái độ

Song chỉ một vài năm sau, vào thập niên 1970, người tàn tật đã bắt đầu được coi là một nhóm thiểu số trong xã hội – một nhóm có đầy đủ quyền lợi được bảo vệ tương tự như của các nhóm dân tộc thiểu số khác đang đấu tranh đòi sự công bằng. Mô hình căn cứ vào quyền lợi như vậy đã đặt nền tảng cho mới cho nhãn quan về tàn tật – một nền tảng dựa trên sự bao dung, đảm bảo quyền lợi và độc lập kinh tế. Những người ủng hộ quan điểm mới này đã sớm nhận thấy rằng cần phải có những đạo luật mới, đề cập tới và giải quyết những tâm tư và quyền lợi của nhóm người tàn tật. Mô hình mới đó đã thúc đẩy việc thông qua nhiều đạo luật đảm bảo khả năng dễ dàng đi lại khi bầu cử, đi lại bằng máy bay, độc lập trong giáo dục và nhà ở. Tiêu biểu nhất trong số đó là Đạo luật Bảo vệ người tàn tật Hoa Kỳ (ADA). ADA vừa phản ánh những thay đổi trong quan niệm vừa giúp thúc đẩy những thay đổi như vậy diễn ra nhanh hơn bởi đây chính là nền tảng pháp lý để thảo luận các vấn đề và các trường hợp xảy ra.

Nhờ có ADA, người ta đã không chỉ bắt đầu chú ý tới việc tạo điều kiện dễ dàng đi lại trong các tòa nhà mà còn đề ra các biện pháp giúp người tàn tật hòa nhập với những người khác và tham gia đầy đủ vào mọi mặt xã hội. Với những ảnh hưởng sâu, rộng của mình, ADA đã tác động tới các trường học, các doanh nghiệp, các cộng đồng, cơ sở vật chất nơi công cộng, tới tất cả các nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp của chính phủ, cũng như các dịch vụ y tế và xã hội. Nổi bật lên trong số những thói quen mới nhờ nhận thức thay đổi là cách sử dụng từ ngữ: ví dụ, người ta gọi là một cá nhân nào đó là người tàn tật chứ không phải là kẻ tật nguyền; đề cập tới các khả năng khác nhau chứ không phải cứ lấy chuẩn mực của người bình thường. Người ta nói là học sinh/sinh viên có học lực khác nhau chứ không nói thiểu năng trí tuệ. Đồng thời, người ta cũng đã chủ động mở rộng khái niệm tàn tật để bao hàm cả những khác biệt về khả năng học tập hoặc xử lý thông tin, những hạn chế về thể chất và những biểu hiện khác cản trở một ai đó tham gia vào những sự kiện lớn trong đời.

Nhiều nhóm và cá nhân đã nỗ lực trong nhiều năm để dự thảo và vận động thông qua dự luật. Phần mở đầu của ADA đã xác định mục tiêu của Hoa Kỳ liên quan tới người tàn tật: đảm bảo “bình đẳng về cơ hội, tham gia đầy đủ, sống độc lập và tự chủ về kinh tế”. Khi Tổng thống George H. W. Bush ký ban hành luật vào tháng 7/1990, ông đã gọi đạo luật này là “bước đổi mới có tính đột phá không chỉ với những người tàn tật mà còn với tất cả chúng ta; bởi cùng với niềm vinh hạnh lớn lao là một công dân Hoa Kỳ còn là bổn phận cao đẹp, đảm bảo quyền của bất kỳ người Mỹ nào cũng được bảo vệ”.

Toàn văn của luật được chia thành các các nhóm quyền. Mỗi quyền đều được đánh số và tập trung vào một vấn đề hoặc nhóm đối tượng cụ thể nào đó, cũng như những bảo vệ dành cho họ.

ADA trên thực tế

Điều I của ADA đã quy định các công ty tư nhân sẽ là phạm luật nếu phân biệt đối xử với một người bị tàn tật trong bất kỳ khía cạnh nào của tuyển dụng hoặc sử dụng lao động. Điều II đề cập tới sự phân biệt đối xử của các chính quyền tiểu bang hoặc các địa phương. Điều III cấm phân biệt đối xử tại những nơi công cộng – khách sạn, nhà hàng, cửa hiệu, v.v… Điều IV yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông cần phải đảm bảo các dịch vụ của họ dễ dàng tiếp cận với người tàn tật. Tôi đã có vinh dự cùng vận động ủng hộ các quyền này với những người tiên phong trong phong trào bảo vệ quyền của người tàn tật. Những câu chuyện mà tôi sẽ kể dưới đây sẽ đề cập tới những con người đấu tranh không mệt mỏi để mọi người tham gia bình đẳng trong xã hội.

Tôi đã gặp Don P. và gia đình anh năm 1999 trong một lớp học tình thương tổ chức ở Wisconsin. Lớp học tình thương giúp những người thiểu năng trí tuệ và thể chất được học những kỹ năng nghề nghiệp và kinh nghiệm làm việc. Don đã bước sang độ tuổi 50 với trí tuệ chậm phát triển. Don đã làm người trông coi một nhà hàng. Anh đã hoàn thành công việc một cách xuất sắc và được đồng nghiệp yêu mến. Một hôm, ông giám đốc khu vực đã đến thăm nhà hàng, nhìn thấy Don đang làm việc và đã chỉ trích người phụ trách vì đã thuê một “trong những kẻ như vậy”. Sau khi quay trở lại nhà hàng, vị giám đốc khu vực kia đã sa thải Don khi người phụ trách ở địa phương từ chối làm như vậy. Cả người quản lý và những nhân viên trong nhà hàng đã bỏ việc để phản đối.

Trong phiên xét xử với các lập luận dựa vào Điều I của ADA, luật sư bào chữa cho bị đơn đã cho rằng Don không đáp ứng đủ các điều kiện của công việc và công ty hoàn toàn không phân biệt đối xử với anh. Trong bài bào chữa cho Don, tôi đã đề cập tới sự kỳ thị vô hình đang bao trùm lên những con người như Don trong công việc. Hoàn toàn không có bất kỳ điều gì là kém cỏi trong công việc của Don. Trái lại, khiếm khuyết ở đây lại chính là thái độ của các nhà quản lý. Hội đồng xét xử đã kết luận rằng công ty đã vi phạm luật ADA và phải trả Don 70.000 đô-la tiền lương trả chậm và bồi thường thiệt hại. Khi tuyên bố sự kỳ thị đối với người tàn tật là không thể dung thứ, hội đồng xét xử đã ra phán quyết yêu cầu bên bị đơn phải bồi thường thêm cho Don 13 triệu đô-la cho những thiệt hại mang tính trừng phạt đã gây ra với anh. Tính đến thời điểm đó, đây là khoản tiền bồi thường lớn nhất mà hội đồng xét xử đã quyết định trong một vụ kiện lao động trong khuôn khổ đạo luật ADA.

Điều II của ADA quy định chính quyền các tiểu bang và các địa phương phải cung cấp các dịch vụ công cho người tàn tật. Một trong những nội dung của Điều II quy định các cơ quan nhà nước phải quản lý và điều hành các chương trình trên cơ sở tái hòa nhập người tàn tật. Trong vụ Olmstead kiện Zimring (1999), Tòa án Tối cao đã xem xét mức độ hòa nhập bắt buộc như vậy. Hai phụ nữ chậm phát triển trí tuệ đã khởi kiện trên cơ sở Điều II, cho rằng tiểu bang Georgia đã phân biệt đối xử đối với họ do đã cung cấp dịch vụ cho họ theo thể chế chứ không phải cho cộng đồng bình thường. Các chuyên gia của tiểu bang đã quyết định việc khám chữa bệnh tại tuyến cơ sở (tức là chữa bệnh ở một cơ sở y tế địa phương chứ không phải ở một cơ sở y tế ngoại tuyến, đòi hỏi phụ nữ phải rời khỏi nhà, gia đình và cộng đồng của họ) là phù hợp với các điều kiện cụ thể của họ, nhưng trên thực tế lại không có dịch vụ chữa trị tại tuyến cơ sở. Tòa án Tối cao đã phán quyết rằng, chiểu theo đạo luật ADA, việc làm đó là phân biệt đối xử, và yêu cầu tiểu bang phải cung cấp các dịch vụ chữa trị như vậy ngay tại địa phương.

Vào đầu thập niên 1990, cũng giống như nhiều người khác, tôi đã tham gia vào các vụ tranh chấp để cải thiện các điều kiện cơ sở vật chất nơi công cộng ở các tiểu bang cho người tàn tật, và nếu có thể, sẽ giúp cho các công dân như vậy có cơ hội được sống trong cộng đồng của chính họ. Tôi đã gặp Sara K. năm 1991 khi cô phải sống thường trú tại cơ sở chăm sóc y tế của Trường Đào tạo thuộc tiểu bang Wyoming. Sara gần như đã phải sống hết những năm tháng trẻ nhất của cuộc đời tại cơ sở y tế của trường đào tạo. Đó là cô bé 10 tuổi, thông minh, có đôi mắt sáng, nhưng bị bại liệt và tình trạng sức khỏe rất yếu. Phán quyết trong vụ kiện này đã yêu cầu Sara phải là một trong những người đầu tiên được sống trong điều kiện bình thường của cộng đồng. Lẽ dĩ nhiên, phụ huynh của Sara đã tỏ ra quan ngại, nhưng họ nhất trí để con gái xuất viện và về sống ở gia đình. Ngay sau đó là một câu chuyện đầy kỳ diệu. Sara đã thích nghi với cuộc sống trong gia đình và phát triển nhanh chóng qua những lớp học dành cho trẻ bình thường. Chỉ trước đó vài năm, lẽ ra Sara đã phải sống cả đời bên giường bệnh tại trường huấn luyện y tế ở một vùng đất xa xôi thuộc tiểu bang Wyoming. Song nhờ có sự thay đổi, Sara đã quay trở lại với cuộc sống bình thường như bao đứa trẻ khác, lại gắn bó với gia đình, bạn bè, cộng đồng và có thể vươn tới một tương lai sáng lạn hơn.

Tháng 1/2001, Sara đã qua đời lúc mới 15 tuổi. Bob Clabby, Giám đốc phụ trách các chương trình cộng đồng của tiểu bang Wyoming, đã viết thư cho tôi: "Tôi tin chắc rằng toàn bộ thời gian chúng ta sống trên trái đất này cũng không quan trọng bằng chúng ta đã làm được gì trong quãng thời gian mà chúng ta có. Sara là tấm gương khích lệ nhiều người, mà theo tôi, ít nhất cũng là ông và bản thân cá nhân tôi".

Tương lai

Mô hình bảo vệ quyền của người tàn tật trong đạo luật ADA đang đạt được những thành công. Trên thực tế, cách tiếp cận như vậy đang đoàn kết các quốc gia trên thế giới trong quá trình thực hiện các chính sách cải thiện cuộc sống của người tàn tật. Công ước của Liên Hợp Quốc về Quyền của Người tàn tật – một điều ước quốc tế về quyền con người của người tàn tật trên toàn thế giới – đã được thông qua vào hè năm 2006.

Ở Hoa Kỳ, đạo luật ADA đang giúp giảm thiểu sự kỳ thị, phân biệt đối xử, và khuyến khích người sử dụng lao động tạo nhiều điều kiện thuận lợi hơn nơi công sở. Cuộc điều tra về người tàn tật Hoa Kỳ được N.O.D ( Tổ chức Bảo vệ người tàn tật quốc gia) tiến hành năm 2004 đã cho thấy tỷ lệ người tàn tật báo cáo tình trạng phân biệt đối xử ở nơi làm việc đã giảm đi rất nhanh trong bốn năm qua. Những lợi ích kinh tế mà các công ty sử dụng và tạo điều kiện thuận lợi cho những người lao động tàn tật đã được thống kê.

Quy định về hòa nhập người tàn tật trong khuôn khổ Điều II của đạo luật ADA đã được áp dụng và đến được với hàng ngàn người. Trong vụ Tennessee kiện Lane (2004), George Lane, một người bị tàn tật về thể chất, là bị đơn trong vụ kiện giao thông. Anh đã phải trườn cầu thang lên hai tầng nhà để dự phiên tòa của mình trong một tòa nhà không có thang máy. Đến phiên xét xử sau anh đã từ chối trườn từng bước trên cầu thang như vậy. Anh đã khởi kiện để đòi quyền được tiếp cận của mình. Trong một phán quyết với phần thắng thuộc về anh, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã tuyên bố Điều II đã quy định các tiểu bang không được phân biệt đối xử với những người tàn tật về quyền được tiếp cận tòa án của họ.

Nội dung của Điều III rất rõ ràng – các trung tâm mua sắm và cửa hàng, các công sở và các cơ sở kinh doanh như khách sạn không được phân biệt đối xử với người tàn tật. Ngày càng có nhiều các công trình công cộng càng dễ tiếp cận hơn. Một vấn đề có hệ lụy rất sâu, rộng hiện nay là áp dụng Điều III để đảm bảo khả năng tiếp cận Internet; ví dụ yêu cầu các trang web phải tương thích với phần mềm đọc nội dung xuất hiện trên màn hình dành cho người tàn tật. Các trang web của các cơ quan nhà nước cho công chúng buộc phải đáp ứng một loạt các tiêu chuẩn để có thể được coi là dễ tiếp cận.

Tôi đã nhấn mạnh đến người tàn tật ở Hoa Kỳ và cuộc đấu tranh bảo vệ quyền lợi của họ - trước đây, hiện tại và trong tương lai. Cho dù một số quan niệm rất khó thay đổi, song có biết bao con người vẫn đang tiếp tục đấu tranh chống lại sự kỳ thị đối với tật nguyền. Những tiếng nói đó không chỉ xuất hiện trong các doanh nghiệp và chính phủ mà còn từ phía bạn bè và người thân trong gia đình của họ.

Tôi đã là luật sư thực hiện thủ tục giám hộ cho phụ huynh của hai cậu bé, Mike và Sam. Mike bị chẩn đoán mắc bệnh rối loạn thần kinh và phải đi học để đáp ứng các nhu cầu học tập và xã hội của cậu bé. Tại phiên tòa có liên quan tới vụ ly hôn của phụ huynh, người cha đã nói với tòa rằng ông tin rằng bệnh rối loạn thần kinh của Mike đang cản trở sự phát triển của Sam. Ông đã yêu cầu được chăm sóc Sam. Thẩm phán đã chấp thuận đề nghị đó và hai đứa trẻ đã được tách ra. Phán quyết của tòa nhằm tách hai anh em Mike và Sam xuất phát từ một giả thuyết chưa được chứng minh về tác động tiêu cực của đứa trẻ bị rối loạn thần kinh với gia đình. Tòa đã không chê trách việc nuôi nấng con cái của người mẹ, nhưng lại không xét đến quyền của hai anh em Mike và Sam được sống cùng nhau.

Chúng tôi đã kháng lại phán quyết của thẩm phán và Tòa Trung thẩm California đã đồng ý với quan điểm của chúng tôi. Việc hai anh em Mike và Sam sau đó được đoàn tụ trở lại đã nhắc nhở chúng ta rằng cuộc đấu tranh bảo vệ quyền của người tàn tật đang phải đối mặt với những định kiến cũng cam go không kém việc vượt qua những rào cản hữu hình trên thế giới này. Tôi tin chắc rằng chúng ta sẽ đạt được những mục tiêu mà đạo luật ADA hướng tới. Việc chúng ta giải quyết những vấn đề này như thế nào sẽ quyết định cuộc sống của những thế hệ trẻ em bị tàn tật trong tương lai. Khác với bất kỳ thế hệ nào trước đây, trẻ em của chúng ta sẽ không biết được một thế giới không có tầm nhìn hướng tới bình đẳng – một thế giới không có đạo luật ADA. [http://bbi.syr.edu]

Những quan điểm trình bày trong bài viết này không nhất thiết phản ánh quan điểm của Chính phủ Hoa Kỳ.

lên đầu trang ^

Công cụ:

Printer_icon.gif In trang này



 

    Trang Web này được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ quản lý.
    Chúng tôi không chịu trách nhiệm về nội dung và tính bảo mật thông tin của các trang Web khác được liên kết đến.


Đại sứ quán Hoa Kỳ