Skip Global Navigation to Main Content
Skip Breadcrumb Navigation
Chính trị, xã hội và văn hóa Mỹ

TÓM LƯỢC BẦU CỬ Ở MỸ

Ấn phẩm của Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 1/2008

Bầu cử quốc hội

Các cuộc bầu cử Quốc hội Hoa Kỳ cũng mang tính cạnh tranh gay gắt và có vai trò quan trọng như các cuộc bầu cử tổng thống. Sở dĩ có điều đó là do vai trò trung tâm của Quốc hội trong việc lập pháp ở nước này.

Không giống như hệ thống nghị viện - nơi mà thủ tướng được bầu lên từ nghị viện, như đã nói ở trên, hệ thống bầu cử ở Hoa Kỳ phân tách rõ rệt cơ quan lập pháp và tổng thống. Tổng thống và các nhà lập pháp được bầu lên thông qua các cuộc bầu cử riêng rẽ. Mặc dù tổng thống đương nhiệm có thể đề xuất luật lên Quốc hội, song những đạo luật này phải được soạn thảo ở Quốc hội, do các đồng minh thuộc đảng của tổng thống soạn thảo, và phải được Quốc hội thông qua trước khi tổng thống ký lệnh ban hành. Thượng viện và Hạ viện có vai trò hoàn toàn độc lập về mặt pháp lý và chính trị đối với ý chí của tổng thống.

Trong hệ thống chính trị của Hoa Kỳ, các quy tắc đảng trong Quốc hội dường như ít được tuân thủ chặt chẽ hơn so với trong các hệ thống nghị viện ở các quốc gia khác. Các nghị sĩ Quốc hội có thể dễ dàng bỏ phiếu cho những chính sách mà họ cho là ưu việt nhất, kể cả những chính sách mà họ cho là có lợi nhất đối với mục đích tái đắc cử của họ. Kết quả là, các thủ lĩnh trong Quốc hội phải tập hợp được liên minh thắng thế hơn là nhờ cậy vào sự ủng hộ tự động từ những đảng phái có kỷ luật nghiêm ngặt. Điều này khiến cho việc đạt được chiến thắng về mặt lập pháp ở Quốc hội là rất khó khăn. Cũng vì vậy mà các cuộc bầu cử Quốc hội có vai trò quan trọng đối với đất nước, vì Quốc hội là một thể chế đầy quyền lực và khó dự báo trước; các nghị sĩ Quốc hội cũng vậy.

Sự khác biệt giữa Thượng viện và Hạ viện

Hạ viện và Thượng viện có quyền lực gần như ngang nhau,nhưng cách thức tuyển cử thì có một vài điểm khác nhau. Những người lập quốc mong muốn rằng các thành viên của Hạ viện phải là những người gần gũi với dân chúng, phản ánh mong muốn và nguyện vọng của dân chúng. Vì vậy, họ đã xâydựng nên mô hình Hạ viện Hoa Kỳ với quy mô tương đối lớn - để có thể phối hợp nhiều thành viên từ các địa hạt lập pháp quy mô nhỏ - và tần suất tuyển cử ngắn (hai năm một lần). Ban đầu, nhiệm kỳ hai năm còn bị một số người coi là quá dài. Trong thời kỳ phương tiện giao thông đường bộ ở Mỹ chủ yếu là xe ngựa, thì nhiệm kỳ hai năm ở Washington có thể khiến cho một đại biểu Hạ viện bị chia cắt với cử tri của mình trong suốt hai năm đó. Ngày nay, mối quan ngại lại là ở chỗ nhiệm kỳ hai năm buộc đại biểu Hạ viện phải công du liên tục tới địa hạt của mình vào tất cả hoặc hầu hết các kỳ nghỉ cuối tuần để củng cố sự ủng hộ chính trị từ phía cử tri.

Mỗi chiếc ghế đại biểu Hạ viện đại diện cho duy nhất một khu vực cử tri có tính địa lý, và như đã nói ở trên, tất cả các đại biểu Hạ viện đều được lựa chọn theo quy tắc đa số phiếu, với tư cách là đại diện duy nhất của địa hạt đó. Mỗi bang trong số 50 bang ở Hoa Kỳ được đảm bảo có ít nhất một ghế đại biểu Hạ viện, số ghế đại biểu Hạ viện được chia cho các bang dựa trên tiêu chí phù hợp với lượng dân số của bang đó. Ví dụ, như bang Alaska chỉ có rất ít dân và vì vậy, bang này chỉ chiếm một ghế trong Hạ viện. California là một trong những bang đông dân nhất, vì vậy, bang này chiếm 53 ghế trong Hạ viện. Theo thống kê có được từ các cuộc điều tra dân số diễn ra 10 năm một lần, số ghế cho mỗi bang cũng được tính toán lại để phù hợp với những thay đổi về dân số của các bang trong 10 năm đó, và cơ quan lập pháp liên bang cũng quy định lại các đường biên giới của các địa hạt bầu cử Quốc hội trong từng bang để phản ánh được những thay đổi về số ghế đại biểu Hạ viện hoặc những thay đổi về dân số của bang.
Thượng viện Hoa Kỳ được xây dựng để các thượng nghị sĩ có thể đại diện cho những khu vực cử tri lớn hơn - toàn bộ bang - và nó tạo cơ hội đại diện ngang bằng cho mỗi bang trong thể chế này, bất kể dân số của bang đó là lớn hay nhỏ. Như vậy, trong Thượng viện, các bang nhỏ cũng có tầm ảnh hưởng (có hai thượng nghị sĩ) tương tự như các bang lớn.

Ban đầu, các thượng nghị sĩ được lựa chọn bởi cơ quan lập pháp liên bang. Mãi cho đến khi Hiến pháp sửa đổi lần thứ mười bảy được ban hành vào năm 1913 thì các thượng nghị sĩ mới do cử tri của bang đó bầu phiếu trực tiếp. Tất cả các bang đều có hai thượng nghị sĩ được tuyển cử với nhiệm kỳ 6 năm, với một phần ba số ghế đại biểu trong Thượng viện được bầu cử lại hai năm một lần. Một thượng nghị sĩ đắc cử khi chiếm đa số phiếu bầu của Cử tri đoàn của bang.
Trung thành với Đảng chính trị hay với cá nhân

Trước kia, các cuộc bầu cử Quốc hội có xu hướng tập trung vào đảng phái, vì nhiều cử tri luôn kiên định ủng hộ một đảng phái chính trị nào đó, và họ có xu hướng bầu đại biểu Quốc hội theo tiêu chí đại biểu đó thuộc đảng chính trị nào. Các phẩm chất và năng lực cá nhân của đại biểu ra tranh cử thường chỉ mang tính tham khảo và bổ sung cho quyết định bỏ phiếu của cử tri. Trong các thập kỷ gần đây, quan điểm và phẩm chất cá nhân của đại biểu đứng ra tranh cử đã được cử tri chú trọng nhiều hơn so với việc ứng viên đó thuộc đảng chính trị nào. Điều này phần nào đã làm giảm tầm quan trọng của truyền thống kiên định với đảng chính trị đã tồn tại trước kia.

Thật vậy, từ những năm 1960, các cuộc tuyển cử quốc gia ngày càng có xu hướng lấy cá nhân ứng viên làm trọng tâm. Sự bùng nổ của truyền thông và Internet, tầm quan trọng của các chiến dịch tranh cử và kêu gọi tài trợ cho chiến dịch tranh cử, các cuộc thăm dò dư luận và các biểu hiện khác của hình thức tranh cử hiện đại đã làm cho cử tri có nhận thức sâu sắc hơn về vai trò cá nhân của ứng cử viên. Kết quả là, cử tri đã bắt đầu cân nhắc về điểm mạnh và điểm yếu của ứng viên bên cạnh lòng trung thành của họ đối với đảng chính trị trong quá trình quyết định họ sẽ bỏ phiếu cho ứng viên nào. Việc triển khai giáo dục phổ thông trên diện rộng vào đầu thế kỷ XX và giáo dục đại học sau Chiến tranh Thế giới Thứ hai cũng đã khiến các cử tri tin tưởng hơn vào sự đánh giá của mình và họ ít dựa vào tiếng tăm của đảng chính trị hơn trong việc quyết định bỏ phiếu.

Trong bối cảnh các cuộc tuyển cử lấy ứng viên làm trọng tâm này, các thành viên đương nhiệm của Quốc hội luôn làm việc có kết quả tốt, với tỷ lệ tái đắc cử là trên 90%. Có được điều này một phần là do các tin tức truyền thông tốt đẹp về hoạt động của Quốc hội, và đặc biệt là những tin tức liên quan đến mỗi cá nhân đại biểu Quốc hội được truyền thông địa phương đưa ra tại các bang và các địa hạt bầu cử Quốc hội của cá nhân đại biểu đó. Với cơ hội bày tỏ nhìn chung là thuận lợi trước giới truyền thông, với việc tiếp xúc hàng ngày với các vấn đề chính sách công - với những cá nhân và các nhóm đang cố gắng gây tác động đối với việc ra chính sách - các đại biểu Quốc hội đương nhiệm cũng đã tận dụng cơ hội để tìm cách làm tăng nguồn tài chính tài trợ cho chiến dịch tái tranh cử của họ. Vì những lý do này và những lý do khác nữa, các đại biểu Quốc hội đương nhiệm đang chạy đua để tái tranh cử thường có nhiều cơ hội chiến thắng, bất kể họ thuộc đảng phái chính trị nào.