Kinh tế & Thương mại
Khái quát nền kinh tế Mỹ
Ấn phẩm của Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 2/2001
Christopher Conte, nguyên biên tập viên và phóng viên
của Wall Street Journal
Albert R. Karr, nguyên phóng viên của Wall
Street Journal
Nước Mỹ bước vào thế kỷ XXI với một
nền kinh tế lớn hơn bao giờ hết và cùng với nhiều số liệu đánh giá là
thành công chưa từng có. Nó không những phải kinh qua hai cuộc chiến
tranh thế giới và sự suy thoái toàn cầu trong nửa đầu thế kỷ XX, mà còn
phải vượt qua những thách thức từ cuộc Chiến tranh Lạnh trong 40 năm với
Liên Xô cho đến những đợt lạm phát sâu sắc, thất nghiệp cao, và thâm
hụt ngân sách nặng nề của chính phủ trong nửa cuối thế kỷ XX. Nước Mỹ
cuối cùng đã có được một giai đoạn ổn định kinh tế vào những năm 1990:
giá cả ổn định, thất nghiệp giảm xuống mức thấp nhất trong vòng gần 30
năm qua, chính phủ công bố thặng dư ngân sách, và thị trường chứng khoán
tăng vọt chưa từng thấy. Năm 1998, tổng sản phẩm quốc nội của Mỹ -
gồm toàn bộ sản lượng hàng hóa và dịch vụ trong nước - đạt trên 8,5
nghìn tỷ USD. Mặc dù chiếm chưa đến 5% dân số thế giới, nhưng nước Mỹ
lại chiếm tới hơn 25% sản lượng kinh tế toàn thế giới. Nhật Bản, nước có
nền kinh tế đứng thứ hai thế giới, cũng chỉ tạo ra gần một nửa sản
lượng trên. Trong khi nền kinh tế Nhật Bản và nhiều nền kinh tế khác vật
lộn với tăng trưởng chậm và các vấn đề khác vào những năm 1990 thì nền
kinh tế Mỹ lại có được thời kỳ phát triển liên tục và kéo dài nhất trong
lịch sử của mình. Tuy nhiên, cũng như các giai đoạn trước đây,
bước vào thế kỷ XXI nền kinh tế Mỹ đang trải qua những biến động lớn
lao. Một làn sóng đổi mới công nghệ trong tin học, truyền thông và sinh
học đã tác động sâu sắc đến cách thức làm việc và nghỉ ngơi của người
Mỹ. Cùng lúc đó, sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản ở Liên Xô và Đông Âu,
sự gia tăng tiềm lực kinh tế của Tây Âu, sự nổi lên của các nền kinh tế
đầy tiềm năng ở châu Á, sự mở rộng các cơ hội phát triển kinh tế ở Mỹ
Latinh và châu Phi và sự hội nhập toàn cầu đang tăng lên về kinh tế và
tài chính đã tạo ra những cơ hội cũng như thách thức mới. Tất cả những
thay đổi đó dẫn người Mỹ đến việc phải kiểm tra lại toàn bộ từ cách thức
bố trí nơi làm việc cho đến vai trò của chính phủ. Có lẽ do vậy, nhiều
người lao động, trong khi bằng lòng với hiện trạng của mình, đã nhìn về
tương lai với một tâm trạng không chắc chắn. Nền kinh tế này cũng
phải đối mặt với những thách thức đang diễn ra liên tục trong dài hạn.
Mặc dù nhiều người Mỹ có sự bảo đảm về kinh tế và một số người tích lũy
được rất nhiều của cải, nhưng còn một số lượng đáng kể - đặc biệt là các
bà mẹ không chồng cùng con cái họ - tiếp tục sống trong cảnh nghèo khó.
Chênh lệch về của cải, tuy không cao như một số nước khác, nhưng cũng
lớn hơn so với rất nhiều nước. Chất lượng môi trường vẫn còn là mối lo
ngại chính. Một số lượng đáng kể người Mỹ chưa có bảo hiểm y tế. Sự già
đi của thế hệ đông đảo những người sinh ra trong giai đoạn bùng nổ dân
số sau Chiến tranh thế giới thứ hai báo trước một gánh nặng đối với các
hệ thống chăm sóc sức khỏe và lương hưu quốc gia vào đầu thế kỷ XXI. Sự
hội nhập kinh tế toàn cầu mang đến những bất ổn nhất định bên cạnh các
lợi thế. Đặc biệt, các ngành công nghiệp chế tạo truyền thống sa sút,
quốc gia bị thâm hụt thương mại lớn và dường như không thể đảo ngược
được trong buôn bán với các nước khác. Xuyên suốt những biến động
liên tục đó, nước Mỹ vẫn triệt để tuân theo một số nguyên tắc cơ bản
trong các hoạt động kinh tế của mình. Thứ nhất, và là điều quan trọng
nhất, nước Mỹ vẫn duy trì một “nền kinh tế thị trường”. Người Mỹ tiếp
tục cho rằng một nền kinh tế nhìn chung vận hành tốt nhất khi các quyết
định về sản xuất cái gì và định giá hàng hóa như thế nào được hình thành
thông qua hoạt động trao đổi qua lại của hàng triệu người mua và người
bán độc lập, chứ không phải bởi chính phủ hay những lợi ích cá nhân có
thế lực nào. Người Mỹ tin rằng trong một hệ thống thị trường tự do, giá
cả gần như phản ánh giá trị thật sự của đồ vật, và bởi vậy nó có thể là
chỉ dẫn tối ưu cho nền kinh tế nên sản xuất cái gì cần thiết nhất. Ngoài
việc tin rằng các thị trường tự do làm gia tăng hiệu quả kinh tế, người
Mỹ còn coi chúng là cách thức nâng cao các giá trị chính trị của mình -
đặc biệt là sự cam kết của họ đối với tự do cá nhân và đa nguyên chính
trị cũng như sự chống đối của họ đối với việc tập trung quyền lực thái
quá. Quả thực, các nhà lãnh đạo chính phủ đã đưa ra một cam kết mới với
các lực lượng thị trường vào các thập kỷ 1970, 1980 và 1990 bằng việc dỡ
bỏ những quy định bảo hộ các ngành hàng không, ngành đường sắt, các
công ty vận tải, các ngân hàng, các tổ chức độc quyền điện thoại, và
ngay cả ngành dịch vụ điện cũng phải xuất phát từ cạnh tranh thị trường.
Họ gây áp lực mãnh liệt với các nước khác nhằm cải cách những nền kinh
tế này vận hành nhiều hơn nữa theo các nguyên lý thị trường. Tuy
nhiên, niềm tin của người Mỹ vào “doanh nghiệp tự do” không loại bỏ vai
trò quan trọng của chính phủ. Đôi khi người Mỹ vẫn trông cậy vào chính
phủ để ngăn chặn hoặc điều tiết các công ty xuất hiện khuynh hướng phát
triển quá nhiều quyền lực đến mức không tuân theo các lực lượng thị
trường. Họ dựa vào chính phủ để giải quyết những vấn đề mà kinh tế tư
nhân bỏ qua, từ giáo dục cho đến bảo vệ môi trường. Và mặc dù ủng hộ
tích cực các nguyên lý thị trường, nhưng thỉnh thoảng họ vẫn sử dụng
chính phủ để nuôi dưỡng các ngành công nghiệp mới, và thậm chí để bảo vệ
các công ty Mỹ trong cạnh tranh. Như có thể thấy từ cách tiếp cận
đôi khi không nhất quán đối với hoạt động điều tiết của chính phủ,
người Mỹ thường bất đồng về vai trò thích hợp của chính phủ trong nền
kinh tế. Nhìn chung, từ những năm 1930 cho đến tận những năm 1970, chính
phủ ngày càng có vai trò lớn hơn và can thiệp mạnh mẽ hơn vào nền kinh
tế. Nhưng các khó khăn về kinh tế trong những năm 1960 và 1970 đã làm
cho người Mỹ trở nên nghi ngờ về khả năng giải quyết nhiều vấn đề kinh
tế và xã hội của chính phủ. Các chương trình xã hội cơ bản của giai đoạn
này - bao gồm An sinh xã hội và Bảo hiểm y tế cung cấp thu nhập hưu trí
và bảo hiểm y tế cho người già - vẫn được duy trì sau cả giai đoạn xem
xét lại này. Nhưng sự phát triển về quy mô của chính phủ liên bang đã
giảm đi vào những năm 1980. Chủ nghĩa thực dụng và tính linh hoạt
của người Mỹ đã tạo ra một nền kinh tế năng động bất thường. Sự thay đổi
- cho dù được tạo ra bởi sự thịnh vượng ngày càng tăng, đổi mới công
nghệ hoặc gia tăng buôn bán với các nước khác - đã diễn ra liên tục
trong lịch sử kinh tế Mỹ. Kết quả là từ một nước nông nghiệp, nước Mỹ
ngày nay được đô thị hóa hơn rất nhiều so với cách đây 100 năm, thậm chí
chỉ 50 năm. Dịch vụ ngày càng trở nên quan trọng so với ngành công
nghiệp truyền thống. Trong một số ngành công nghiệp, sản xuất hàng loạt
đã nhường chỗ cho sản xuất theo phương thức chuyên môn hóa chú trọng đến
tính đa dạng của sản phẩm và thị hiếu thay đổi của khách hàng. Các tập
đoàn lớn hợp nhất lại, tách ra, và tổ chức lại theo nhiều cách khác
nhau. Các công ty và ngành công nghiệp mới chưa tồn tại vào giữa thế kỷ
XX giờ đây đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế của quốc gia.
Người thuê lao động trở nên ít gia trưởng hơn và người làm công được
mong đợi phát huy tính tự chủ cao hơn. Các nhà lãnh đạo chính phủ và
doanh nghiệp ngày càng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc phát triển
lực lượng lao động với tay nghề cao và linh hoạt nhằm bảo đảm thành công
của nền kinh tế đất nước trong tương lai. Cuốn sách này xem xét
cơ chế vận hành và phát triển của nền kinh tế Mỹ. Nó bắt đầu với cái
nhìn khái quát trong chương 2 và mô tả lịch sử phát triển nền kinh tế Mỹ
hiện đại trong chương 3. Tiếp theo, chương 4 bàn về các hình thái khác
nhau của doanh nghiệp kinh doanh, từ các doanh nghiệp nhỏ cho đến tập
đoàn hiện đại. Chương 5 giải thích về vai trò của thị trường chứng khoán
và các thị trường tài chính khác trong nền kinh tế. Hai chương kế tiếp
mô tả vai trò của chính phủ trong nền kinh tế - chương 6 giải thích
nhiều cách thức mà chính phủ định hình và điều tiết các doanh nghiệp tự
do, chương 7 đề cập vấn đề chính phủ bằng cách nào quản lý nhịp độ chung
của hoạt động kinh tế nhằm đạt được các mục tiêu ổn định giá cả, tăng
trưởng và tỷ lệ thất nghiệp thấp. Chương 8 xem xét lĩnh vực nông nghiệp
và sự phát triển chính sách nông nghiệp Mỹ. Chương 9 đề cập vai trò đang
thay đổi của lao động trong nền kinh tế Mỹ. Cuối cùng, chương 10 mô tả
sự phát triển các chính sách hiện tại của Mỹ liên quan đến thương mại và
hoạt động kinh tế quốc tế. Như các chương này sẽ làm sáng tỏ, cam
kết của Mỹ đối với các thị trường tự do vẫn được duy trì vào buổi bình
minh của thế kỷ XXI, ngay cả khi nền kinh tế của Mỹ vẫn còn nhiều việc
đang phải tiến hành.Chương
1: TÍNH LIÊN TỤC VÀ THAY ĐỔI
Nội dung
-
Bản cập nhật năm 2009 (PDF-8.6MB)
- Chương 1: Tính liên tục và thay đổi
- Chương 2: Nền kinh tế Mỹ vận hành như thế nào
- Chương 3: Tóm lược lịch sử nền kinh tế Mỹ
- Chương 4: Doanh nghiệp nhỏ và tập đoàn
- Chương 5: Chứng khoán, hàng hóa và thị trường
- Chương 6: Vai trò của chính phủ trong nền kinh tế
- Chương 7: Chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá
- Chương 8: Ngành nông nghiệp Mỹ: Tầm quan trọng đang thay đổi
- Chương 9: Lao động ở Mỹ: Vai trò của người lao động
- Chương 10: Các chính sách ngoại thương và kinh tế toàn cầu
- Chương 11: Lời kết: Phía sau kinh tế học
- Chương 12: Chú giải các thuật ngữ kinh tế