Tư liệu dịch: Chính trị, xã hội và văn hóa Mỹ
NHỮNG NỖ LỰC CỦA HOA KỲ THAY MẶT CHO PHỤ NỮ TOÀN CẦU
Patricia P. Brister, Đại diện của Hoa Kỳ tại Ủy ban của Liên Hợp Quốc về Địa vị của Phụ nữ
Thông cáo báo chí số 39 của Hoa Kỳ tại Liên Hợp Quốc
Washington, D.C.
Ngày 1 tháng 3 năm 2006
Phát biểu trước Ủy ban của Liên Hợp Quốc về Địa vị của Phụ nữ
của bà Patricia P. Brister, Đại diện của Hoa Kỳ
Xin cảm ơn. Tôi rất vui mừng được có cơ hội phát biểu trước ủy ban với tư cách là người đại diện mới của Hoa Kỳ tại Ủy ban về Địa vị của Phụ nữ và tôi hy vọng được cộng tác với tất cả các bạn. Hoa Kỳ đã và đang hướng các nỗ lực của mình tới việc cải thiện đời sống cho phụ nữ trên toàn cầu thông qua việc thực hiện các chương trình với những kết quả rõ rệt.
Một trong những ưu tiên cao nhất của Tổng thống tại Liên Hợp Quốc là chống lại nạn buôn người. Sự cần thiết tăng cường hành động của Chính phủ chống lại nạn buôn người đã thúc đẩy Quốc hội Hoa Kỳ thông qua Đạo luật Bảo vệ nạn nhân của nạn buôn người (TVPA) vào năm 2000 và đã sửa đổi Luật này vào năm 2003 và 2005. Đạo luật TVPA bảo vệ và giúp đỡ cho các nạn nhân tại Hoa Kỳ và ở nước ngoài; tăng cường cho các đạo luật hình sự liên bang chống những kẻ buôn người; trao quyền cho các cơ quan thực thi pháp luật các bang và cấp địa phương chống lại những hình thức buôn người tàn bạo, đặc biệt là nạn nhân của nạn buôn người vì mục đích tình dục; tăng cường các biện pháp giúp cho các cá nhân tránh được việc bị buôn bán; và trao quyền cho Bộ Ngoại giao làm báo cáo hàng năm về hành động của chính phủ chống lại nạn buôn người. Từ năm 2001, chúng tôi đã cung cấp 375 triệu đô-la hỗ trợ cho các nỗ lực chống buôn người ở hơn 120 quốc gia, trong đó có các dự án thí điểm giải quyết các nhu cầu của nạn nhân nạn buôn người vì mục đích khai thác tình dục. Trong số tiền trên có 25 triệu đô-la thuộc sáng kiến chống buôn người trị giá 50 triệu đô-la, được Tổng thống Bush tuyên bố trước cuộc họp Đại hội đồng Liên Hợp Quốc năm 2003 .
Để đối phó với các hoạt động du lịch vô nhân đạo nhằm khai thác tình dục trẻ em, Đạo luật Bảo vệ của Hoa Kỳ năm 2003 đã tăng cường khả năng thực thi pháp luật của Hoa Kỳ nhằm ngăn chặn, điều tra, truy tố và trừng trị những tội ác mang tính bạo lực chống lại trẻ em, đồng thời quy định những hình phạt nghiêm khắc đối với những người Mỹ đi du lịch tại nước ngoài với mục đích làm dụng tình dục trẻ em.
Năm 2005, tại Ủy ban về Địa vị của Phụ nữ, nghị quyết do Hoa Kỳ đưa ra về “Loại bỏ nhu cầu buôn bán phụ nữ và các em gái dưới bất kỳ hình thức khai thác nào” là nghị quyết đầu tiên của Liên Hợp Quốc tập trung vào việc nêu ra những phương thức mà những nhu cầu này, đặc biệt là nhu cầu khai thác tình dục vì mục đích thương mại, đã làm trầm trọng thêm nạn buôn người như thế nào. Nghị quyết đã được thông qua với hơn 50 quốc gia đồng bảo trợ.
Và vào tháng 10 năm 2005, theo đề nghị của Tổng thống Bush, Thượng viện Mỹ đề nghị và đã phê chuẩn Nghị định thư của Liên Hợp Quốc về ngăn ngừa và trừng trị nạn buôn người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em. Hoa Kỳ rất vui mừng được cùng với 92 quốc gia khác phê chuẩn Nghị định thư Palermo, và chúng tôi kêu gọi các quốc gia khác thực hiện bước đi đó để chấm dứt tình trạng nô lệ thời hiện đại này.
Sáng kiến Trao quyền và Công lý vì Phụ nữ (WJEI) dành cho châu Phi của Tổng thống là một chương trình trị giá 55 triệu đô-la, kéo dài trong ba năm nhằm trợ giúp Benin, Kenya, Nam Phi và Zambia cải thiện các quyền về mặt pháp lý cho phụ nữ. WJEI tăng cường năng lực cho các hệ thống luật pháp nhằm bảo vệ phụ nữ và trừng trị những kẻ vi phạm, thông qua việc đào tạo cảnh sát, công tố viên, và hoạt động xét xử nhằm xử lý những trường hợp lạm dụng và bạo lực tình dục; cải thiện các chương trình tư vấn và bảo vệ phụ nữ; đồng thời sử dụng những hình thức can thiệp ở mức độ cao; các hội nghị, những chiến dịch nâng cao nhận thức và giáo dục nhằm nhấn mạnh nhu cầu trao quyền và công lý cho phụ nữ.
Là sự vi phạm lớn thứ hai đối với những quyền cơ bản của phụ nữ, những tội ác liên quan đến danh dự là những tội ác do những thành viên trong gia đình gây nên, chủ yếu là người đàn ông trong nhà, những người cho rằng người thân (nữ giới) của họ đã hành xử một cách không đúng đắn. Hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia công khai tha thứ cho những kẻ thủ phạm của hành động này hoặc chỉ quy định những hình phạt hạn chế đối với họ. Hàng năm, Hoa Kỳ đưa ra những báo cáo – trong đó có “Các báo cáo quốc gia về tình trạng thực hiện nhân quyền” và “Hỗ trợ nhân quyền và dân chủ: Thành tích của Hoa Kỳ” - tổng hợp về mức độ của vấn đề này cũng như nêu một cách khái quát những gì mà Chính phủ Hoa Kỳ thực hiện thông qua các hoạt động ngoại giao và các chương trình trợ giúp nước ngoài nhằm giải quyết vấn đề bạo lực đối với phụ nữ. Trong đó cũng bao gồm những dự án được Quỹ Dân chủ và Nhân quyền của Bộ Ngoại giao cung cấp tài chính và hoạt động huấn luyện cho các luật sư bảo vệ nhân quyền.
Là một phần không tách rời trong chính sách của Hoa Kỳ trong những công việc tại Liên Hợp Quốc cũng như trên thực địa nhằm chấm dứt sự bạo tàn ở Dafur do những du kích và những kẻ bảo trợ cho chúng trong Chính phủ Sudan gây nên, Hoa Kỳ đã có những cam kết mạnh mẽ nhằm chấm dứt vấn đề bạo lực đối với phụ nữ tại Sudan. Chính phủ Hoa Kỳ đã cung cấp khoảng 16,5 triệu đô-la nhằm xử lý nạn bạo lực có nguồn gốc từ vấn đề giới tại Dafur và bạo lực giữa những người tị nạn tại Cộng hòa Chad - những người là nạn nhân của nạn bạo lực này tại Dafur. Ngày hôm qua 28/2, Hoa Kỳ đã tổ chức một cuộc thảo luận nhóm về “Bạo lực có nguồn gốc từ vấn đề giới tại Sudan” nhằm làm rõ vấn đề lạm dụng tình dục phụ nữ tại Dafur và việc lạm dụng những người phải dời quê hương (IDP) trong các trại tị nạn.
Nhiều phụ nữ tại các quốc gia đang phát triển đang chết dần trong khi sinh nở và vì HIV/AIDS mà không được quan tâm. Tổng thống đã dành nhiều sự chú trọng trong chính sách của Hoa Kỳ nhằm chống lại HIV/AIDS. Hoa Kỳ cam kết cung cấp sự chăm sóc y tế cho phụ nữ, trong đó có chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ và trẻ em. Kế hoạch cứu trợ khẩn cấp dành cho các nạn nhân HIV/AIDS kéo dài 5 năm, trị giá 15 tỉ đô-la (Kế hoạch cứu trợ khẩn cấp hoặc PEPFAR) hỗ trợ cho các chương trình chống HIV/AIDS tại hơn 120 quốc gia trên thế giới, dành sự chú trọng đặc biệt cho 15 quốc gia tại châu Phi, khu vực Ca-ri-bê và Đông Nam Á – nơi có hơn một nửa số người nhiễm HIV trên thế giới. Ngoài ra, thông qua Kế hoạch này, Hoa Kỳ đã cam kết khoảng 2,3 tỉ đô-la cho tới năm 2008 dành cho Quỹ toàn cầu chống AIDS, bện lao và sốt rét – đây là cam kết cung cấp tài chính lớn nhất so với bất kỳ nguồn nào khác.
Kế hoạch Cứu trợ Khẩn cấp đang được thực hiện để bảo đảm rằng những hoạt động mà nó hỗ trợ đáp ứng được những nhu cầu của phụ nữ và các em gái, trong đó có những trẻ mồ côi và nạn nhân của nạn buôn người vì mục đích tình dục, của hãm hiếp, lạm dụng và bóc lột. PEPFAR là chương trình chống HIV/AIDS quốc tế duy nhất yêu cầu báo cáo về những số liệu không được tính đến do vấn đề giới. Khoảng 60% những người được điều trị chống ung thư và AIDS là phụ nữ, và có hơn 3,2 triệu phụ nữ mang thai được tiếp cận những dịch vụ do PEPFAR hỗ trợ nhằm ngăn ngừa sự lây truyền HIV từ mẹ sang con (MTCT). Kế hoạch Cứu trợ Khẩn cấp của Tổng thống cũng gắn kết với những thành quả quan trọng đã đạt được nhờ Sáng kiến Quốc tế ngăn ngừa sự lây truyền HIV từ mẹ sang con trị giá 500 triệu đô-la của Tổng thống.
Chính quyền Mỹ cũng có những thành tích đáng tự hào trong việc hỗ trợ cho các nhu cầu y tế của phụ nữ và trẻ em. Cụ thể là trong vấn đề sức khỏe sinh sản, với sự ủng hộ của Quốc hội, Hoa Kỳ là nhà tài trợ lớn nhất thế giới trong các hỗ trợ song phương về sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình: khoảng 437 triệu đô-la trong năm nay.
Hầu hết những người tị nạn, những người trở lại quê hương, hoặc những người bị buộc phải dời bỏ quê quán nhận được trợ giúp thông qua những đóng góp của Hoa Kỳ cho Cao ủy của Liên Hợp Quốc về người tị nạn và những tổ chức khác là phụ nữ và trẻ em. Những người phụ nữ phải dời quê quán vì chiến tranh hoặc bị đàn áp hoặc là mất đi người thân là nam giới của mình hoặc là những người đó đang phải chiến đấu hoặc bị ở tù. Chúng tôi cố gắng để bảo đảm rằng phụ nữ là người tị nạn được tham gia một cách công bằng trong tất cả những khía cạnh của việc ra quyết định về những trợ giúp mà họ được nhận, và rằng sự bảo vệ và những cách tiếp cận nhạy cảm về giới được áp dụng trong việc xây dựng và thực hiện các chương trình. Hoa Kỳ cung cấp những dịch vụ kéo dài cả đời cho những đối tượng này và cũng hỗ trợ cho những dự án tạo thu nhập cho phụ nữ, việc chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em, giáo dục, dạy đọc, viết, và các chương trình ngăn ngừa và chống lại bạo lực có nguồn gốc từ vấn đề giới.
Chúng tôi tập trung nâng cao việc trao quyền về mặt kinh tế cho phụ nữ, trong đó có các quyền sở hữu và thừa kế của phụ nữ. Trong cuộc họp của CSW năm 2005, chúng tôi đã đưa ra một nghị quyết về “Sự tiến bộ về mặt kinh tế của phụ nữ”. Nghị quyết kêu gọi các quốc gia thành viên có những biện pháp về mặt lập pháp, hành chính và tài chính nhằm tạo lập một môi trường thuận lợi cho tất cả những doanh nhân và công nhân là phụ nữ.
Ngày 30/6/2005, Tổng thống Bush đã quyết định tăng cường 400 triệu đô-la trong vòng 4 năm cho Sáng kiến Giáo dục châu Phi (AEI) nhằm cải thiện giáo dục cơ bản cho 80 triệu trẻ em châu Phi. USAID đã cung cấp hơn 120.000 học bổng cho 40 quốc gia; đào tạo 220.000 giáo viên ở 15 quốc gia và cung cấp hơn 2,5 triệu cuốn sách giáo khoa và những tài liệu học tập khác. AEI có mục đích tăng cường hỗ trợ cho cha mẹ và cộng đồng trong việc giáo dục cho các em cũng như nâng cao nhận thức và giảm thiểu HIV/AIDS. Trong giai đoạn hai của năm tài khóa 2007, những yếu tố mang tính tăng cường cũng sẽ được bổ sung. Trong đó có những cố gắng để đến được những vùng dân cư bị cho là thứ yếu; xây dựng và tái thiết các trường học, và việc sử dụng công nghệ như một phương thức mới.
Trong lĩnh vực các quyền chính trị, nghị quyết của Hoa Kỳ trình Đại hội đồng Liên Hợp Quốc năm 2003 về “Phụ nữ và việc tham gia vào đời sống chính trị” đã đề xuất những biện pháp cụ thể mà chính phủ và những chủ thể trong xã hội dân sự có thể thực hiện nhằm tạo điều kiện cho phụ nữ được trao quyền và tham gia hoạt động chính trị. Đã có 110 quốc gia thành viên tham gia đồng bảo trợ nghị quyết với chúng tôi. Tại cuộc họp của CSW năm 2005, Hoa Kỳ đã tổ chức một cuộc thảo luận nhóm về những nỗ lực để thực hiện nghị quyết với sự góp mặt của các đại diện đến từ Afghanistan, Iraq, Rwanda và Viện Cộng hòa Quốc tế (IRI). Vào thứ hai ngày 6/3 tới, tôi sẽ tham gia một nhóm công tác về ngoại giao công chúng của Hoa Kỳ về “Việc trao quyền về mặt chính trị cho phụ nữ”, trong đó đặc biệt có cựu Thống đốc Bang Utah là Olene Walker.
Đối với những phụ nữ ở các nơi hậu xung đột, Hội đồng Phụ nữ Hoa Kỳ - Afghanistan đã thúc đẩy những mối quan hệ đối tác khu vực công - khu vực tư nhân giữa các tổ chức của Hoa Kỳ và Afghanistan. Bộ Ngoại giao đã cung cấp tài chính cho việc đào tạo các giáo viên nữ, xây dựng trường học tại Afghanistan và xây các trại tị nạn cho người Afghanistan tại Pakistan. Những chương trình này bảo đảm rằng phụ nữ và các em gái nhận được đầy đủ cơ hội để theo đuổi các mục tiêu giáo dục của mình. Đến lượt mình, họ sẽ có nhiều đóng góp cho Afghanistan khi quốc gia này đang tiếp tục công cuộc tái thiết.
Sáng kiến Dân chủ vì Phụ nữ Iraq trị giá 10 triệu đô-la cung cấp tài chính cho các chương trình đào tạo về tổ chức và lãnh đạo chính trị, các kỹ năng trong kinh doanh, đào tạo về pháp lý và quá trình lập hiến, xây dựng liên minh và tiếp xúc với báo giới. Chương trình này cùng với Mạng lưới Phụ nữ Hoa Kỳ - Iraq đã có rất nhiều đóng góp trong việc huy động được một số lượng lớn người đi bỏ phiếu, trong đó có nhiều cử tri là phụ nữ trong cuộc bầu cử dân chủ lịch sử của Iraq tháng 1/2005; hỗ trợ cho các nỗ lực của các nhà lãnh đạo nữ Iraq nhằm bảo vệ các quyền của phụ nữ trong quá trình soạn thảo Hiến pháp; và đào tạo cho các ứng cử viên là nữ trong cuộc vận động tranh cử vào Quốc hội tháng 12/2005. Tại cuộc họp này của ủy ban CSW, Đoàn đại biểu nữ của Iraq sẽ lần đầu tiên tham dự Cuộc họp ủy ban tại New York và sau đó sẽ tới Washington. Tại đó, họ sẽ được đào tạo về tăng cường quyền lực chính trị và gặp gỡ với các đại diện của Chính phủ, Quốc hội và các tổ chức phi chính phủ.
Chúng tôi hy vọng rằng những hoạt động được đề cập tại đây sẽ là những điển hình đối với các quốc gia khác đã tham gia vào những nỗ lực tương tự. Xin cảm ơn.