jump over navigation bar
Embassy SealBộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Đại sứ quán Hoa Kỳ - Hanoi, Vietnam flag graphic
 
Thông tin cập nhật
 
  Các dịch vụ của IRC Dịch vụ Reference Update Tư liệu dịch Kinh tế & Thương mại An ninh khu vực Các vấn đề toàn cầu Báo chí, truyền thông và công nghệ thông tin Chính trị, xã hội và văn hóa Mỹ

Tư liệu dịch: Các vấn đề toàn cầu

BÁO CÁO VỀ TÌNH HÌNH NHÂN QUYỀN Ở CÁC NƯỚC, NĂM 2005
Do Cục Dân chủ, Nhân quyền và Lao động, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ phát hành, ngày 8/3/2006

VIỆT NAM

Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nhà nước độc lập do Đảng Cộng sản Việt Nam (Đảng Cộng sản Việt Nam) lãnh đạo và kiểm soát. Dân số của Việt Nam vào khoảng 83,5 triệu người. Đảng Cộng sản Việt Nam được Hiến pháp trao quyền lãnh đạo và việc các Đảng viên chiếm giữ tất cả các vị trí then chốt trong Chính phủ cho phép Đảng này có thể áp đặt những đường lối quan trọng trong chính sách quốc gia. Tuy nhiên, Đảng Cộng sản Việt Nam đã bớt tham gia chính thức vào các hoạt động của Chính phủ và cho phép Chính phủ được thực hiện những định hướng quan trọng trong quá trình thực thi chính sách. Cuộc bầu cử Quốc hội mới đây nhất để bầu ra các đại biểu quốc hội, diễn ra vào năm 2002, vẫn chưa tỏ ra là dân chủ và công bằng, vì tất cả các đại biểu đã được Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN) - một cơ quan của ĐCS và là người điều phối các tổ chức quần chúng của đất nước - lựa chọn và xem xét. Quốc hội vẫn thực hiện những định hướng chủ đạo của ĐCS; tuy nhiên, Chính phủ đã tiếp tục tăng cường năng lực của Quốc hội. Nói chung, trên thực tế, các chính quyền dân sự vẫn chịu sự kiểm soát của các lực lượng an ninh.

Tình hình nhân quyền của Chính phủ vẫn còn yếu kém. Các quan chức chính phủ, đặc biệt ở cấp địa phương, vẫn tiếp tục vi phạm nhân quyền nghiêm trọng, mặc dù đã có sự chuyển biến trong nhiều năm nay. Kinh tế phát triển đã có ảnh hưởng lớn tới tình trạng nhân quyền vì đất nước đang phải đương đầu với quá trình chuyển đổi nhanh chóng từ một nền kinh tế kế hoạch tập trung sang “một nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Các cải cách kinh tế và mức sống đang tăng lên đã làm suy giảm sự kiểm soát và can thiệp của Chính phủ và Đảng Cộng sản vào đời sống hàng ngày. Tuy nhiên, nhiều người tại các vùng nông thôn hẻo lánh và các nhóm dân tộc thiểu số tại Tây Bắc, Tây Nguyên và các vùng duyên hải miền trung vẫn còn tiếp tục sống trong nghèo đói. Chính phủ vẫn đang tiếp tục thiết lập những mối quan hệ (trước tiên là về kinh tế) tốt hơn với các quốc gia khác trên thế giới, và kéo theo đó là đã có những thay đổi trong thái độ đối với nhân quyền. Khi mà phần lớn các khu vực thành thị đã có những chuyển biến tích cực về vấn đề này thì khu vực Tây Bắc và Tây Nguyên vẫn đặt ra những vấn đề mang tính quốc tế. Các vấn đề về nhân quyền sau đây sẽ được báo cáo:

  • công dân không có quyền thay đổi Chính phủ của họ
  • cảnh sát đối xử tệ với người bị tình nghi trong quá trình bắt giữ và xét hỏi
  • các điều kiện sinh hoạt tồi tàn trong các trại giam
  • bắt giữ vô tội vạ và cấm di chuyển đối với những người bày tỏ thái độ chính trị và quan điểm tôn giáo của họ một cách hòa bình
  • vi phạm quyền được xét xử công bằng và công khai
  • bỏ tù các cá nhân có hoạt động chính trị và tôn giáo
  • các quyền riêng tư bị vi phạm
  • cấm tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do lập hội và hội họp
  • cấm tự do tôn giáo
  • cấm tự do đi lại
  • cấm thành lập và không cho các tổ chức nhân quyền hoạt động
  • bạo lực và phân biệt đối xử đối với phụ nữ
  • mại dâm trẻ em
  • buôn lậu phụ nữ và trẻ em
  • phân biệt đối xử chống lại người dân tộc thiểu số
  • quyền lao động bị hạn chế
  • lao động trẻ em

Trong năm nay, Chính phủ đã từng bước cải thiện các vấn đề nhân quyền, trong đó có quyền cho người lao động. Không giống như năm trước, năm nay không có nguồn tin đáng tin cậy nào cho rằng đã có những cuộc giết chóc và mất tích bởi lực lượng an ninh. Chính phủ đã ân xá cho 26 nghìn tù nhân, trong đó có cả một số tù nhân chính trị khá tai tiếng. Chính phủ cũng đã thực hiện cam kết với Campuchia và Cơ quan Cao ủy Liên Hợp Quốc về người tị nạn (UNHCR) nhằm tạo điều kiện cho gần 200 đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên từ Campuchia trở về. Đồng thời, Chính phủ cũng cho phép và tạo điều kiện thuận lợi cho UNHCR và các phái đoàn công tác nước ngoài đến Tây Nguyên nhằm thúc đẩy sự tiến bộ và điều trị cho người hồi hương. Chính phủ đã xây dựng một khung pháp luật mới và tương đối cởi mở đối với quyền tự do tôn giáo, ví dụ như: điều kiện của các Nhà thờ Tin Lành ở miền Bắc và miền Trung đã được cải thiện, nới lỏng những hạn chế trong việc đào tạo tăng lữ đạo Thiên Chúa và đạo Phật, chấp nhận hoạt động của một số giáo đoàn Tin Lành của các đồng bào dân tộc thiểu số trước đây không được công nhận đăng ký lập hội ở vùng núi Tây Bắc, mặc dù nhiều năm qua, các giáo đoàn này không được phép hoạt động.

TÔN TRỌNG NHÂN QUYỀN

Phần 1: Tôn trọng phẩm giá con người, bao gồm quyền tự do không bị:

a. Tước đi cuộc sống một cách tùy tiện và bất hợp pháp

Không có các vụ sát hại vì động cơ chính trị do Chính phủ hay các cơ quan công quyền thực hiện; đồng thời, không giống như năm ngoái, không có tin về các vụ sát hại phi pháp do các lực lượng an ninh tiến hành.

Vào tháng 4 năm 2004, một số nhóm đồng bào thiểu số đã biểu tình tại nhiều địa điểm ở các tỉnh Tây Nguyên như Đắc Nông, Đắc Lắc và Gia Lai. Trong một vài trường hợp, tin cho biết cảnh sát đã đáp trả bằng cách đánh đập và bắn vào những người biểu tình. Chính phủ cho biết có ba người biểu tình thiệt mạng, tất cả đều do những người biểu tình khác gây nên. Các ước tính tin cậy cho rằng số lượng người biểu tình bị công an giết hại là từ 10 đến 12 người; một vài tổ chức quốc tế đưa tin con số có thể cao hơn rất nhiều (Xem phần 2.b). Chính phủ cam đoan rằng đã tăng cường các nỗ lực nhằm hỗ trợ phát triển cho khu vực dân tộc thiểu số Tây Nguyên. Đồng thời cũng nới lỏng các quy định cấm đoán hoạt động của các nhóm đạo Tin Lành.

Không có động thái nào chống lại những cán bộ dính líu vào các vụ giết hại hai tín đồ Tin Lành là Vang Seo Giao và Trần Minh Đức vào năm 2003. Cũng không có tiến triển gì mới về các vụ giết hại Nguyễn Ngọc Châu, Khổng Văn Thôi và Phạm Văn Dũng vào năm 2002.

b. Mất tích

Không giống như năm ngoái, năm nay không có nguồn tin đáng tin cậy nào phản ánh các vụ mất tích vì lý do chính trị.

c. Tra tấn và các hình thức đối xử tàn bạo, phi nhân tính hay hèn hạ hoặc trừng phạt

Luật pháp cấm việc xâm phạm thân thể; tuy nhiên, đôi lúc công an đánh đập người tình nghi trong khi bắt họ hoặc trong khi họ đang ở trong tù. Vào giữa tháng 9 năm nay, một số công an địa phương tại Tỉnh Gia lai thuộc khu vực Tây Nguyên đã đánh đập hai tín đồ Tin Lành người dân tộc Dao khiến những người này phải điều trị tại bệnh viện trong năm ngày. Chính quyền địa phương nói rằng đã điều tra kỹ lưỡng vụ việc nhưng cho đến cuối năm thì không có cán bộ công an nào bị khiển trách. Cũng như năm ngoái, năm nay vẫn có một số luận điệu, đặc biệt tại khu vực Tây Bắc, biện hộ rằng cảnh sát chỉ đánh đập những người bị tình nghi, chủ yếu là các tín đồ Tin Lành người dân tộc thiểu số, buộc họ thực hiện các hành vi chống lại tôn giáo của mình do vô thức hoặc do đã say rượu. Tuy nhiên, một số nguồn tin khác thì không xác nhận và không đồng tình với luận điểm này.

Vào tháng 10 năm 2004, công an và các công tố viên tỉnh Đồng Nai đã ra lệnh cưỡng bức đưa tín đồ Tin Lành Thân Văn Trường vào một bệnh viện tâm thần. Các quan chức đã buộc tội Trường có những hành vi hão huyền về tôn giáo, mặc dù họ công nhận rằng anh ta không có những hành vi đe dọa bạo lực. Hành động chống đối của Trường khiến anh ta bị luật pháp và chính quyền “quan tâm” chính là bức thư mà anh ta đã viết và gửi cho một đảng viên Đảng Cộng sản và cho các quan chức chính phủ để yêu cầu họ từ bỏ hệ tư tưởng Mác xít – Lê nin để theo đạo Tin Lành. Trường đã được thả tự do vào tháng 9 với điều kiện là anh ta phải ký vào một giấy chứng nhận tự công nhận tình trạng tâm thần của mình và như vậy anh ta sẽ bị đưa trở lại bệnh viện tâm thần trong trường hợp “bệnh tái phát”.

Không có tiến triển gì trong vụ việc năm 2003 về một số dân quân và cán bộ địa phương ở làng Nam Nga, tỉnh Lai Châu bị cáo buộc là đã hãm hiếp hai cô gái, phá hủy một số ngôi nhà, giết vật nuôi, phá hàng rào, lùa súc vật ra đồng, giẫm nát cây trồng, nhằm trừng phạt những người trong làng theo đạo Tin Lành.

Điều kiện sinh hoạt trong các nhà tù và các trại giam

Tin cho biết điều kiện nhà tù thường rất khắc nghiệt, nhưng nhìn chung không đe dọa đến mạng sống của tù nhân. Tình trạng quá tải, khẩu phần ăn thiếu thốn và điều kiện vệ sinh tồi tàn tiếp tục là những vấn đề nghiêm trọng tại nhiều nhà tù. Hầu hết tù nhân đều có thể tiếp cận dịch vụ y tế cơ bản. Nhìn chung tù nhân buộc phải lao động, nhưng không có tiền công (Xem phần 6.c.). Trong năm, các cuộc viếng thăm của một số nhà ngoại giao cho thấy tình trạng ảm đạm nhưng nhìn chung có thể chấp nhận được ở hai nhà tù. Có tin là các tù nhân, kể cả tù nhân chính trị bị di lý một cách tùy tiện tới nơi giam giữ cách biệt, ở đó họ bị cấm đọc và viết, trong những khoảng thời gian kéo dài hàng tháng.

Mặc dù các tù nhân chính trị và tôn giáo thường bị giam cầm trong điều kiện khắc nghiệt, nhưng không có bằng chứng nào cho thấy điều kiện của họ là khác biệt cơ bản so với những tù nhân thường khác. Ở một vài nơi, họ đã được hưởng sự đối xử tốt hơn, như có khẩu phần ăn đầy đủ và được nhận đồ tiếp tế của gia đình như những tù nhân bình thường khác.

Trong năm, Chính phủ không cho phép ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế, các Tổ chức phi chính phủ (NGO) và các nhà ngoại giao đến thăm các trại tù.

d. Bắt bớ và giam giữ tùy tiện

Luật pháp cấm việc bắt bớ và giam giữ tùy tiện; tuy nhiên, Chính phủ tiếp tục bắt giữ những công dân đã bày tỏ các quan điểm chính trị và tôn giáo một cách hòa bình.

Vai trò của cảnh sát và lực lượng an ninh

Lực lượng an ninh nội vụ chịu sự quản lý của Bộ Công An; tuy nhiên, ở một số vùng hẻo lánh thì quân đội là cơ quan cai trị cao nhất và thực thi chức năng bảo vệ an ninh công cộng, bao gồm cả việc duy trì trật tự chung trong trường hợp xảy ra bạo động dân sự. Bộ Công An kiểm soát lực lượng cảnh sát, cơ quan đặc nhiệm điều tra an ninh quốc gia, và các đơn vị an ninh nội vụ khác. Bộ này cũng quản lý hệ thống cán bộ đăng ký hộ tịch và công an khu vực nhằm giám sát dân chúng, tập trung theo dõi các đối tượng tham gia hoặc bị tình nghi tham gia các hoạt động chính trị phi pháp; tuy nhiên, hệ thống này cũng đã can thiệp ít hơn vào đời sống hàng ngày của công dân.

Ở cấp tỉnh, quận huyện và xã đều có lực lượng công an và chịu sự chỉ đạo của ủy ban nhân dân cấp tương ứng. Nói chung các lực lượng công an thực thi hiệu quả vai trò duy trì ổn định chính trị và trị an xã hội, nhưng năng lực của lực lượng công an, nhất là năng lực điều tra, còn thấp. Việc huấn luyện đào tạo công an còn chưa phù hợp. Tham nhũng là một vấn đề nghiêm trọng của lực lượng công an các cấp. Các cơ chế giám sát nội bộ ngành công an tồn tại nhưng lại bị chính trị chi phối.

Bắt và giam giữ

Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao (Công tố) ban hành lệnh bắt, thông thường theo yêu cầu của bên công an; tuy nhiên, công an có thể thực hiện vụ bắt mà không cần có lệnh, chỉ cần căn cứ vào khiếu nại của các bên. Trong những trường hợp đó, Viện Kiểm sát phải ban hành lệnh bắt hồi tố.

Sau khi người bị tình nghi bị giam giữ, trong vòng 9 ngày thẩm phán phải ra quyết định chính thức điều tra tội phạm, nếu không người bị tình nghi phải được trả tự do. Theo Bộ Luật Hình sự, quá trình điều tra có thể kéo dài từ ba tháng đối với những tội danh “ít nghiêm trọng” (những tội có thể dẫn đến án tù chưa đầy 3 năm) đến 16 tháng đối với những tội “đặc biệt nghiêm trọng” (những tội có thể dẫn đến án tù trên 15 năm, chung thân, hoặc tử hình) và thêm bốn tháng đối với những vụ liên quan đến an ninh quốc gia. Bộ luật sửa đổi này cho phép Viện Kiểm sát có thêm hai tháng vào giai đoạn kết thúc điều tra để xem xét liệu Viện Kiểm sát có muốn truy tố người bị giam giữ hay trả vụ việc cho bên công an điều tra thêm. Không có giới hạn pháp lý về thời gian cho hội đồng xét xử (một nhóm gồm ít nhất một thẩm phán và hai hội thẩm) xét xử một vụ án (Xem phần 1.e). Thời gian giam giữ chờ xử án sẽ được tính vào thời gian tuyên và thi hành án. Mặc dù Bộ Luật Hình sự cho phép thực hiện hình thức bảo lãnh nhưng trên thực tế thì hình thức này không tồn tại.

Các điều khoản của Bộ Luật Tố tụng Hình sự cho phép luật sư bào chữa có quyền tiếp xúc với thân chủ kể từ khi bị giam giữ; tuy nhiên, sự chậm chễ của các thủ tục hành chính thường cố ý làm hạn chế những cuộc tiếp xúc ban đầu giữa các luật sư và thân chủ của họ. Một vài thân chủ, đặc biệt là các nhà hoạt động chính trị, thậm chí chỉ được phép gặp luật sư của mình ngay trước khi bị đưa ra xét xử. Trong giai đoạn điều tra, luật pháp quy định rằng luật sư bào chữa phải được thông báo về các cuộc thẩm vấn, có thể dự các cuộc thẩm vấn đó, có thể tiếp cận các hồ sơ về vụ án và được phép sao chụp các tài liệu trong hồ sơ. Các chuyên gia pháp luật thì nói rằng luật sư có những quyền trên đây. Tuy nhiên, trước tiên, bị đơn phải tự mình yêu cầu được có luật sư bào chữa, và rõ ràng là không phải lúc nào các nhà chức trách cũng cố vấn cho bị đơn về quyền lợi mới này của họ. Trong các vụ án liên quan đến an ninh quốc gia, các luật sư bào chữa chỉ có thể tiếp xúc với thân chủ sau khi quá trình điều tra kết thúc.

Mặc dù Hiến pháp tạo điều kiện tư vấn pháp lý cho tất cả những người bị buộc tội, nhưng tình trạng khan hiếm các luật sư được đào tạo cơ bản khiến cho quy định này khó có thể thực hiện được. Chỉ những người bị cáo buộc phạm những tội có thể dẫn đến mức án chung thân hoặc tử hình mới được tư vấn pháp lý. Trước khi chính thức bị buộc tội, người bị giam giữ được hưởng quyền do luật quy định là báo cho người thân biết sự việc và trong hầu hết các vụ, công an sẽ thông báo cho gia đình biết địa điểm giam giữ. Tuy nhiên, các thành viên trong gia đình chỉ có thể thăm người bị giam giữ khi được phép của bên điều tra.

Tòa án có thể tuyên phạt giam giữ hành chính tới 5 năm sau khi đã thụ án. Thêm vào đó, công an và các tổ chức đoàn thể có thể yêu cầu Chủ tịch ủy ban Nhân dân các cấp xã, huyện, tỉnh áp dụng năm “biện pháp hành chính” mà không cần xét xử. Các biện pháp này bao gồm các hình phạt như giam giữ từ 6 tháng đến 2 năm trong các trại cải tạo thanh thiếu niên hay các trại giam người lớn và thường áp dụng đối với các đối tượng vi phạm nhiều lần với mức độ vi phạm nhỏ như trộm cắp vặt hay “lăng mạ người khác”. Chủ tịch ủy ban Nhân dân có thể áp đặt các hình phạt “quản chế hành chính” này, thông thường là các lệnh cấm đi xa hoặc thay đổi chỗ ở.

Sau khi được thả tự do vào tháng 2 trong một đợt ân xá, linh mục đạo Thiên Chúa Nguyễn Văn Lý đã nói rằng ông ta đang bị quản thúc hành chính. Tuy nhiên, ông ta được phép di chuyển trong nội bộ lãnh thổ Việt nam nhưng phải được sự cho phép của chính quyền tỉnh Thừa Thiên Huế. Những người cầm đầu của Giáo Hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất phản ảnh rằng trên thực tế, họ đã bị “giam giữ tại chùa”, mặc dù các nhà chức sắc phủ nhận thông tin này. Năm 2004, những người cầm đầu Giáo Hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất và ít nhất là một tín đồ Hòa Hảo đã chính thức bị quản chế hành chính. Một số tăng ni phật tử, giáo sĩ Thiên Chúa giáo và Tin Lành, cũng như một số nhà văn, nhà hoạt động chính trị bị quản thúc tại gia không chính thức, nhưng với mức độ khác nhau (Xem phần 2.c và 2.d). Năm 2003, Chủ tịch ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tuyên án 2 năm quản thúc tại gia đối với bốn hòa thượng thuộc Giáo Hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.

Chính quyền tại Tây Nguyên vẫn tiếp tục truy tố những thành viên người dân tộc thiểu số bị cáo buộc là đã tham gia vào các hoạt động chia rẽ hoặc đã giúp đỡ người khác vượt biên trái phép sang Campuchia. Các tài liệu báo cáo cuả Chính phủ chỉ ra rằng có ít nhất 15 người dân tộc thiểu số đã bị buộc tội và phạt tù từ 2 đến 13 năm. Có nguồn tin đáng tin cậy cho rằng trong năm nay, ít nhất ở hai nơi, một ở Đắc Lắc và một ở Gia Lai, đã có một vài người trong số này bị bắt trong một thời gian dài mà không được xét xử.

Những công dân muốn được thực hành quyền tự do tôn giáo, tự do hội họp và tự do ngôn luận, thỉnh thoảng bị công an bắt giữ một vài ngày. Đặc biệt là, có nhiều báo cáo cho biết các quan chức chính quyền ở hai vùng Tây Nguyên và Tây Bắc thường bắt tạm giam các tín đồ Tin Lành người dân tộc thiểu số. Ví dụ, ở Huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai, các nhà chức trách đã giam giữ mà không hề buộc tội rất nhiều tín đồ Tin Lành người H’Mông tại ít nhất là 8 xã khác nhau trong hai tháng 7 và tháng 8 năm 2004 (Xem phần 2.c.).

Cũng có trường hợp công dân nước ngoài bị giam giữ và thẩm vấn. Trong tháng năm, đã có hai công dân nước ngoài bị các nhà chức sắc địa phương tỉnh Gia Lai bắt giữ, sau đó bị thẩm vấn trong hai ngày rồi được thả tự do sau khi bị phạt vì đã đi vào vùng cấm tham quan du lịch. Vào tháng 7 năm 2004, ông Larry Linh Nguyễn, một công dân ngoại quốc, đã bị bắt trong 7 ngày và bị thẩm vấn về mối quan hệ mà họ cho là ông có với các tổ chức chính trị người Mỹ gốc Việt chống Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông Hoàng Thế Lân, một công dân nước ngoài đã bị công an bắt vào ngày 8/2 tại Sóc Trăng và bị xét hỏi trong bốn ngày trước khi được thả tự do vì bị cho là có dính líu với các nhóm cổ xúy dân chủ ở Việt Nam.
Theo các tổ chức phi chính phủ và các quan chức ngoại giao, tính đến cuối năm, Chính phủ Việt nam đã bắt giữ ít nhất là 8 công dân nước ngoài vì lý do chính trị. Nói chung, Chính phủ đều từ chối không cho các tổ chức quốc tế về nhân quyền tiếp xúc với những người bị bắt giữ vì lý do chính trị.

Ân xá

Trong năm nay, Chính phủ Việt nam đã ân xá cho 26.688 tù nhân, trong ba đợt, tăng hơn nhiều so với số lượng tù nhân được ân xá trong năm ngoái. Một số tù nhân có tiếng được ân xá đợt này là các nhà hoạt động tôn giáo và chính trị như: Tiến sĩ Nguyễn Đan Quế, Cha Lý, và thành viên của Giáo Hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Thích Thiện Minh. (xem phần 1.e.).

e. Không được xét xử công khai và công bằng

Luật pháp trao quyền độc lập cho thẩm phán và hội thẩm; tuy nhiên, trên thực tế, Đảng Cộng sản Việt Nam kiểm soát tòa án mọi cấp thông qua việc lựa chọn thẩm phán, ít ra là căn cứ vào mức độ tin cậy về chính trị của họ. Đảng Cộng sản Việt Nam tác động đến các vụ án tai tiếng và các vụ trong đó có bị cáo bị buộc tội thách thức và gây tổn hại đến Đảng hay Nhà nước. Năm nay, Đảng Cộng sản Việt Nam và các quan chức chính phủ chắc chắn kiểm soát các quyết định của tòa án bằng cách gây áp lực lên thẩm phám và hội thẩm.

Hệ thống bổ nhiệm thẩm phán và hội thẩm góp phần tăng cường kiểm soát của ngành hành pháp đối với tư pháp. Chủ tịch nước trình bổ nhiệm Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao và Quốc hội phê duyệt. Chủ tịch nước trực tiếp bổ nhiệm các thành viên khác của Tòa án Nhân dân theo khuyến nghị của một ủy ban trong đó có Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao, đại diện của các Bộ Nội vụ và Bộ Quốc phòng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Hội Luật gia Việt Nam. Ở cấp tỉnh và huyện hội thẩm đoàn do Chủ tịch Hội đồng Nhân dân (cơ quan lập pháp tỉnh) đứng đầu và có thêm thành viên của Tòa án Nhân dân tỉnh, Phòng Tổ chức Cán bộ tỉnh, Mặt trận Tổ quốc và Hội Luật gia tỉnh. Các thẩm phán được bổ nhiệm theo nhiệm kỳ 5 năm. Chính quyền cấp tỉnh và huyện trả lương cho các thẩm phán tùy theo cấp.

Ngành tư pháp bao gồm Tòa án Nhân dân Tối cao; tòa án nhân dân cấp quận, huyện và cấp tỉnh; tòa án binh; tòa hành chính, kinh tế và lao động và các tòa án khác theo luật định. Mỗi huyện có một tòa án nhân dân đóng vai trò như tòa sơ thẩm xét xử hầu hết các vụ án gia đình, dân sự và hình sự. Mỗi tỉnh có một tòa án nhân dân đóng vai trò như tòa phúc thẩm cho các tòa án huyện và tòa sơ thẩm cho các vụ khác. Tòa án Nhân dân Tối cao là tòa án phúc thẩm và thượng thẩm cao nhất. Tòa án Nhân dân Tối cao báo cáo với Quốc hội. Các tòa hành chính xử lý các đơn khiếu nại của công dân về hiện tượng lạm dụng quyền lực và tham nhũng.

Vẫn còn thiếu các luật sư và thẩm phán được qua đào tạo, và vẫn chưa có hội luật sư độc lập. Mức lương thấp trong ngành tư pháp đã hạn chế các nỗ lực phát triển một hệ thống tư pháp chuyên nghiệp. Một số ít thẩm phán được đào tạo chính quy về luật thường học ở những nước có truyền thống pháp lý Cộng sản. Năm 2004, một tờ báo của Bộ Tư pháp cho biết, tại một vài tòa án, 30 đến 40% các phán quyết là không chính xác và trong qúy I năm nay khoảng 50 người đã bị bỏ tù oan. Tờ báo này cũng cho biết, theo thống kê năm 2001, 31,2 % các phán quyết của các tòa địa phương trong các vụ hình sự cần phải xem xét lại và 46% phán quyết trong các vụ dân sự là sai.

Các chương trình đào tạo của Chính phủ nhằm giải quyết tình trạng yếu kém của đội ngũ thẩm phán và của cán bộ tòa án đang được tiến hành. Các Chính phủ nước ngoài và Chương trình Phát triển Liên Hiệp quốc (UNDP) đã cung cấp nhiều trợ giúp; tuy nhiên, sự thiếu cởi mở trong hệ thống tư pháp hình sự và thiếu tính độc lập của hệ thống tư pháp đã cản trở quá trình này.

Các tòa án sơ thẩm cấp quận và tỉnh bao gồm các thẩm phán và hội thẩm nhưng tòa phúc thẩm cấp tỉnh và Tòa án Nhân dân tối cao chỉ bao gồm thẩm phán. Hội đồng nhân dân bổ nhiệm hội thẩm từ các ứng cử viên do Mặt trận Tổ quốc gợi ý. Các hội thẩm đòi hỏi phải có “tiêu chuẩn đạo đức cao” nhưng “không cần thiết phải có chuyên môn pháp luật”. Một số nhà quan sát quốc tế cho biết việc bổ nhiệm ngắn hạn các thẩm phán và hội thẩm và sự hiện diện đông đảo của quan chức cấp tỉnh tại hội đồng bổ nhiệm thường xuyên khiến cho các thẩm phán và hội thẩm phải chịu sức ép về chính trị.

Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ thiết lập các ủy ban đặc biệt để giúp giải quyết các cuộc tranh chấp địa phương.

Tham nhũng vẫn là một đại dịch trong hệ thống tư pháp. Ông Phan Trung Lý, Phó Chủ tịch Ủy ban Luật pháp Quốc hội đã phát biểu với Báo An ninh Thế giới ra ngày 28 tháng 8 rằng “hiện tượng hối lộ các cán bộ tư pháp, trong đó có các thẩm phán, thư ký tòa án, biện lý và những người đưa ra quyết định của tòa án đang tăng lên và ngày càng trở nên phức tạp khi mà những nhóm thực hiện những hành động đó đã bắt đầu hình thành.” Vào ngày 13 tháng 8, ông Phan Đăng Dũng, thư ký tòa án Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã bị bắt vì tội nhận hối lộ gần 7 nghìn đô-la Mỹ (tương ứng với 110 triệu đồng Việt Nam). Ngày 16 tháng sáu, ông Lê Bảo Quốc, luật sư của Hội luật gia Tỉnh Hà Tĩnh đã bị bắt vì tội nhận hối lộ 30 nghìn đô-la Mỹ (tương đương với 465 triệu đồng Việt nam) của Trần Thị Ngọc, người đã thắng kiện trong quá trình xử án. Theo báo cáo thì ông Quốc đã đòi số tiền trên để “hợp tác” với người ra quyết định của Tòa án nhằm tuyên cho Ngọc được sở hữu hợp pháp vườn cây ăn quả trị giá 392 nghìn đô-la Mỹ (tương đương với 6,2 tỷ đồng Việt Nam) tại huyện Phú Giao, tỉnh Bình Dương (xem phần 3).

Thủ tục xét xử

Các cuộc xét xử thường mở cửa cho dân chúng dự; tuy nhiên, giới chức tư pháp thường tiến hành xử kín hoặc giới hạn nghiêm ngặt lượng người đến dự trong các vụ nhạy cảm. Các bị đơn có quyền hiện diện tại tòa và có luật sư mặc dù không hẳn là luật sư theo lựa chọn của họ. Trên thực tế quyền này nói chung được tôn trọng. Các bị đơn không có khả năng thuê luật sư thường được một luật sư hỗ trợ nhưng chỉ trong các vụ án liên quan đến án chung thân hoặc án tử hình. Bị đơn hoặc luật sư bào chữa có quyền đối chứng với các nhân chứng; tuy nhiên, các nguồn tin tin cậy cho biết bị đơn không được tiếp cận với bằng chứng của phía nhà nước trước khi xét xử, không được đối chất với các nhân chứng hay bác lại các kết luận. Các luật sư cho biết họ có rất ít thời gian trước khi xét xử để xem xét các bằng chứng chống lại thân chủ của họ. Họ cũng nói rằng có sức ép buộc họ phải từ chối không bào chữa cho các thân chủ trong các vụ án tôn giáo hoặc các hoạt động dân chủ. Những người bị tuyên án có quyền kháng án. Các tòa án không công bố quá trình thụ lý và xét xử.

Các công tố viên có trách nhiệm đưa ra lời cáo buộc và đóng vai trò công tố viên trong quá trình xử án. Theo Bộ luật Tố tụng Hình sự sửa đổi có hiệu lực kể từ tháng 7, thủ tục tòa án sẽ chuyển từ hệ thống “xét hỏi” trong đó thẩm phán chỉ đạo việc thẩm vấn sang hệ thống “đối chất” theo đó công tố viên và luật sư bào chữa bảo vệ lý lẽ của mình. Sự thay đổi này là nhằm mục đích bảo vệ cho bị đơn và ngăn không cho thẩm phán ép bị đơn phải nhận tội. Tuy nhiên, mức độ thực hiện thay đổi này trên thực tế vẫn chưa rõ. Mặc dù Hiến pháp quy định rằng công dân là vô tội cho đến khi chứng minh được họ có tội, nhưng một số luật sư phàn nàn rằng thẩm phán thường có xu hướng quy kết tội trước khi xử án.
Tòa án binh, mặc dù được Bộ Quốc phòng tài trợ, nhưng hoạt động theo quy tắc giống như các tòa án khác. Bộ Quốc phòng có đại diện tại các bồi thẩm đoàn và người đứng đầu hệ thống tòa án binh là phó Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao. Thẩm phán và hội thẩm của Tòa án binh là quân nhân do Tòa án Nhân dân Tối cao và Bộ Quốc phòng phối hợp chọn lựa nhưng do Tòa án Nhân dân Tối cao giám sát. Luật pháp cho phép tòa án binh có thẩm quyền giải quyết tất cả vụ án hình sự liên quan đến các đơn vị quân đội, kể cả các doanh nghiệp thuộc sở hữu quân đội. Quân đội có thể chọn các tòa hành chính, kinh tế và lao động để xét xử các vụ án dân sự.

Tù nhân chính trị 

Chính phủ tiếp tục gây áp lực, sách nhiễu và bỏ tù những nhân vật phát biểu hòa bình các quan điểm bất đồng về tôn giáo và chính trị. Trong tháng 2, nhà hoạt động dân chủ bác sỹ Nguyễn Đan Quế đã được ân xá sau khi bị buộc tội “lợi dụng quyền tự do dân chủ để phá hoại nhà nước” và bị kết án 30 tháng tù vào tháng 7/2004. Nhà báo Nguyễn Vũ Bình và bác sỹ Phạm Hồng Sơn vẫn bị bỏ tù sau khi bị kết tội “gián điệp” trong năm 2003 (xem phần 2.a.) 

Tháng 6, các tín đồ Hòa Hảo đã tổ chức kỷ niệm ngày mất của người sáng lập Hòa Hảo và phản đối Chính phủ kiểm soát đạo Hòa Hảo. Tháng 8, công an đã bắt 10 tín đồ Hòa Hảo ở một số địa điểm với lý do gây rối trật tự và kích động bạo lực trong vụ xô xát diễn ra trong tháng 6. Hai tín đồ Hòa Hảo đã tự vẫn để phản đối và một người trong số họ đã chết (xem phần 2.c)


Chính phủ khẳng định không giam giữ bất kỳ tù nhân chính trị và tôn giáo nào và rằng những nhân vật được cho là tù nhân chính trị và tôn giáo bị buộc tội vi phạm các quy định về an ninh quốc gia và các quy định hình sự thông thường. Cùng với các loại tù nhân khác, Chính phủ không cho phép các tổ chức nhân đạo tiếp xúc với tù chính trị.

Không có các con số đáng tin cậy về số lượng tù chính trị vì Chính phủ thường không công khai những vụ bắt giữ như vậy và trong một số trường hợp tiến hành xử và kết án kín. Ít nhất có tám tù nhân được biết là bị giam giữ vì lí do chính trị và một tù nhân bị giam giữ vì những lý do tôn giáo. Tuy nhiên, một số nguồn tin khác đưa ra con số phỏng đoán cao hơn. Trong số những người bị tù này có các nhà hoạt động chính trị Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Khắc Toàn, nhà khoa học và nhà văn Trần Văn Lương và những nhân vật tôn giáo như Trần Văn Hoàng và Mã Văn Bảy.

Trong khuôn khổ chương trình ân xá của Chính phủ, những tù nhân sau đã được phóng thích trong năm qua: bác sỹ Nguyễn Đan Quế; Nguyễn Đình Huy; nhà hoạt động nhân quyền Trần Văn Lương; Cha Nguyễn Văn Lý; anh Nguyễn Thiên Phụng; những tín đồ Tin Lành người Hmong Vang Chin Sang, Vang Mi Ly, Ly Xin Quang và Ly Chin Seng; và nhà sư Thích Thiện Minh. Nguyễn Thị Minh Hoàn đã được phóng thích sau khi mãn hạn 8 tháng tù. Mục sư dòng Menno Nguyễn Hồng Quang đã được ân xá trong tháng 9 mặc dù người cùng bị xét xử - Phạm Ngọc Thạch - vẫn chịu án tù.

Đền bù tài sản

Theo luật định, công dân sẽ được đền bù khi họ bị di dời đến nơi khác để chuẩn bị cho các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, nhưng hiện có rất nhiều lời phàn nàn, kể cả từ phía Quốc hội, cho rằng việc đền bù không công bằng hoặc bị trì hoãn. Có nhiều nguồn tin cho rằng các nhà chức trách cưỡng ép những tín đồ Tin Lành người dân tộc thiểu số rời khỏi nơi ở của họ mà không đền bù thỏa đáng, nhất là ở huyện Sa Pa ở Tây Bắc. Một số người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên tiếp tục kêu than đất của họ bị tịch thu trước đây để dành cho việc trồng cà phê và cao su của nhà nước vẫn chưa được đền bù thỏa đáng. (xem phần 1.f).

f. Can thiệp tùy tiện vào đời sống riêng tư, gia đình, nhà ở và thư tín

Luật quy định quyền cá nhân về nhà ở và thư tín; tuy nhiên, Chính phủ hạn chế đáng kể các quyền này. Việc đăng ký hộ tịch và khu dân cư được thiết lập nhằm giám sát tất cả các công dân; nhưng nhìn chung điều này không gây ảnh hưởng đến hầu hết người dân. Các nhà chức trách chỉ tập trung vào những nhân vật mà Chính phủ cho là bất đồng chính kiến hoặc bị nghi là có dính líu đến các hoạt động chính trị và tôn giáo không được phép.

Dùng vũ lực để đột nhập vào nhà ở là không được phép nếu không có lệnh của công tố viên; tuy nhiên, trên thực tế các lực lượng công an ít khi tuân theo những thủ tục này mà chỉ xin phép vào nhà, ngầm đe dọa nếu gia chủ không có thái độ hợp tác. Một số người từ chối hợp tác với những "lời đề nghị" như vậy. Ở thành phố, công an thường bỏ đi khi gặp phải sự phản đối. 

Chính phủ mở và kiểm duyệt thư từ của một số đối tượng, tịch thu bưu kiện và thư tín và giám sát các cuộc điện đàm, thư điện tử và chuyển fax. Chỉnh phủ cắt đường dây điện thoại và làm gián đoạn dịch vụ điện thoại di động của một số nhà hoạt động chính trị và tôn giáo và một số thành viên trong gia đình của họ.

Chính phủ tìm cách thắt chặt sự kiểm soát đối với Internet, ban hành một quy định yêu cầu các đơn vị sử dụng Internet, chẳng hạn như các quán cà phê Internet, phải đăng ký thông tin cá nhân của khách hàng và lưu hồ sơ các trang Web mà khách hàng truy cập. Chính phủ cũng giám sát thư điện tử, tìm kiếm các từ khóa nhạy cảm và kiểm soát nội dung Internet (Xem phần 2.a.).

Chính phủ không thực hiện chính sách tái định cư có tính cưỡng ép. Chính phủ tái định cư một số công dân để dọn đường cho các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng. Theo luật định, những công dân đó được đền bù, nhưng có rất nhiều lời phàn nàn, kể cả từ phía Quốc hội, rằng công tác đền bù hoặc không công bằng hoặc quá chậm chạp (xem phần 1.e). 

Tư cách Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn là bước đệm trên con đường tiến thân và rất quan trọng cho việc đề bạt lên các chức vụ cao cấp trong Chính quyền và các tổ chức, doanh nghiệp có liên quan tới Chính phủ. Tuy nhiên, quá trình đa đạng hóa kinh tế khiến tư cách Đảng viên trong các tổ chức đoàn thể do Đảng Cộng sản Việt Nam kiểm soát và trong bản thân Đảng Cộng sản Việt Nam không còn thiết yếu đối với việc phát triển tiền tài và sự nghiệp. 

Chính phủ tiếp tục thi hành chính sách kế hoạch hóa gia đình, hối thúc các gia đình chỉ nên dừng lại ở hai con; chính sách này nhấn mạnh kiềm chế hơn là cưỡng chế. Chính phủ có thể không đề bạt và tăng lương đối với công nhân viên chức có hai con trở lên, nhưng vẫn chưa rõ liệu chính sách đó có được thực hiện hay không. Các nhà chức trách ngày càng quan ngại nỗ lực kế hoạch hóa gia đình có thể sẽ bị thất bại. Tháng 6, Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm chỉ đạo giới chức phụ trách dân số tiến hành “những biện pháp quyết liệt hơn” để kiểm soát tình trạng gia tăng dân số và ngăn cản không cho các gia đình có hai con trở lên. Tuy nhiên, dường như chỉ thị này chưa được thực hiện. 

Các nhà chức trách địa phương đã sách nhiễu một số thành viên trong gia đình của những người hoạt động chính trị hoặc tôn giáo. Được biết giới chức ở Thành phố Hồ Chí Minh đã cắt điện thoại nhà riêng của bác sỹ Nguyễn Đan Quế và nhiều nhà hoạt động chính trị khác vào một số dịp trong năm. Được biết nhà riêng của một người thuyết giáo Tin Lành ở một khu vực rất xa xôi của tỉnh Quảng Nam đã bị đốt trụi sau khi ông kiên quyết không từ bỏ tôn giáo của mình vào tháng 8. Ngày 30/3. công an xã Plei Tao Ro, huyện Chu Se, tỉnh Gia Lai đã phá nhà của một phụ nữ kết hôn với một người đàn ông dân tộc thiểu số đã tái định cư ở nước thứ ba. Cũng trong vụ đó, được biết, công an đã đánh đập gia đình người đàn ông đang lẩn trốn chính quyền địa phương từ tháng 4/2004.

Phần 2: Tôn trọng các quyền tự do dân sự, bao gồm:

a. Tự do ngôn luận và tự do báo chí

Hiến pháp quy định quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí; tuy nhiên, trên thực tế Chính phủ hạn chế đáng kể những quyền tự do này, đặc biệt là quyền tự do ngôn luận trong chính trị và tôn giáo. Cả Hiến pháp và Luật Hình sự đều có những điều khoản chung về an ninh quốc gia và chống vu cáo, xuyên tạc mà Chính phủ vin vào để hạn chế tối đa những quyền tự do trên. Bộ luật Hình sự đã quy định tội “phá hoại chế độ Xã hội Chủ nghĩa, chia rẽ giữa người theo đạo và không theo đạo”, và “tuyên truyền chống lại nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” là những tội vi phạm an ninh quốc gia nghiêm trọng. Luật cũng cấm “lợi dụng quyền tự do dân chủ để phá hoại nhà nước và các tổ chức xã hội”.
Năm 2003, tổ chức phi chính phủ Phóng viên Không biên giới cho rằng Chính phủ đã hạn chế nghiêm trọng quyền tự do báo chí. Cuối năm 2004, phóng viên Lan Anh của báo Tuổi trẻ viết bài về những dàn xếp nội bộ trong Bộ Y tế nhằm ấn định giá dược phẩm. Tháng 1, phóng viên này đã bị kết tội tiết lộ “bí mật quốc gia” và bị quản thúc tại gia. Nguy cơ phóng viên Lan Anh bị truy tố đã làm dấy lên làn sóng chỉ trích chưa từng có từ báo Tuổi trẻ và nhiều tờ nhật báo hàng đầu khác, trong đó có Thanh niên và Người Lao động. Tòa án Nhân dân Thành phố Hà Nội cuối cùng tuyên bố Lan Anh sẽ không bị truy tố và những lời cáo buộc phóng viên này đã được khép lại trong tháng 4.

Luật Báo chí yêu cầu các phóng viên bồi thường thiệt hại bằng tiền mặt cho các cá nhân và tổ chức bị hại do bị phóng viên đưa tin, ngay cả khi tin đó là thật. Các nhà quan sát độc lập cho rằng bộ luật này hạn chế hình thức phóng sự điều tra. Một số hãng truyền thông tiếp tục thách thức những giới hạn đối với quyền tự do báo chí bằng cách cho in một số bài báo chỉ trích một số việc làm của các cán bộ Đảng và Chính phủ; trong năm, báo chí có đưa tin về các chủ đề thường được xem là nhạy cảm, chẳng hạn việc truy tố các quan chức cao cấp trong Đảng Cộng sản Việt Nam về tội tham nhũng. Tuy vậy, quyền tự do chỉ trích Đảng Cộng sản Việt Nam và các lãnh đạo cao cấp trong Đảng vẫn còn hạn chế. Đôi khi những bài chỉ trích các quan chức và tổ chức xuất hiện trên báo chí trong nước. Ngày 20/8, tạp chí Tia sáng đã bày tỏ sự bất bình trước cuộc họp của Hội Nhà báo Việt Nam và gọi tổ chức này chỉ là bù nhìn. Tại cuộc họp hơn 300 đại biểu đã được hối thúc thực hiện các chính sách của Đảng và Nhà nước và không đăng tải những bài viết ảnh hưởng tiêu cực tới Đảng.

Chính phủ thực thi việc giám sát thông qua Bộ Văn hoá-Thông tin, với sự hỗ trợ của rất nhiều chỉ thị từ Đảng và các luật an ninh quốc gia đủ mức bao quát để đảm bảo sự tự kiểm duyệt hiệu quả của các cơ quan truyền thông trong nước. Tháng 8, khi một nhà hoạt động tôn giáo cố có ý định tự tử trước một cơ quan đại diện ngoại giao vì quan ngại tự do tôn giáo, nhiều hãng truyền thông nước ngoài đã đưa tin sự kiện này nhưng không có cơ quan báo chí nào trong nước đưa tin.

Luật cho phép công dân công khai phàn nàn về sự yếu kém của Chính phủ, các thủ tục hành chính, nạn tham nhũng và chính sách kinh tế. Nhìn chung, người dân được tự do thực hiện quyền này nhưng Chính phủ lại coi bất kỳ lời chỉ trích chính trị công khai nào xuất phát từ những lời nhận xét như vậy là một tội. Quan chức cao cấp của Chính quyền và các nhà lãnh đạo Đảng đã thăm nhiều tỉnh để giải quyết khiếu nại của dân. Tháng 10/2004, một biên tập viên của báo điện tử VNExpress đã bị sa thải vì đăng tải những lời bình luận của độc giả phê phán việc Chính phủ mua xe hơi sang trọng phục vụ một hội nghị quốc tế tại Hà Nội. Tham nhũng liên quan đến sử dụng đất là một chủ đề đặc biệt được công khai rộng rãi trên báo chí. Năm 2003, Tòa án Nhân dân Thành phố Hà Nội đã kết án bốn người từ 24 đến 42 tháng tù sau khi những người này phát tán những bức thư tố cáo chính sách giải tỏa đất đai tại thành phố. Cũng trong năm 2003, một tòa án ở tỉnh Đồng Nai kết án bốn người với mức án từ 30 đến 42 tháng tù vì tội xúi giục nông dân khiếu nại chính sách sử dụng đất đai của tình.

Chính phủ tiếp tục cấm chất vấn vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam, cấm chỉ trích cá nhân các nhà lãnh đạo Chính phủ, thúc đẩy chủ nghĩa đa nguyên hay dân chủ đa Đảng hay chất vấn các chính sách của Chính phủ về các vấn đề nhạy cảm như nhân quyền hay hiệp định biên giới với Trung Quốc. Ranh giới giữa phát biểu riêng tư và phát biểu chung trong những lĩnh vực trên chưa rõ ràng. Đầu tháng 1, giám đốc Nhà xuất bản Hải Phòng đã bị sa thải vì đã viết lời tựa cho một cuốn sách chỉ trích cựu Tổng Bí thư Đỗ Mười. Tháng 12/2004, các nhà khoa học Trần Văn Lương và Nguyễn Thị Minh Hoan bị kết án 21 và 8 tháng tù vì đã viết các bài chỉ trích chính sách kinh tế của Chính phủ. Ngày 19/10, công an đã bắt Trương Quốc Huy, Trương Quốc Tuấn, Trương Quốc Nghĩa và một người nước ngoài vì đã tham gia vào một diễn đàn trên mạng Internet mang tên “tiếng nói của người dân ở Việt Nam và hải ngoại”. Tháng 7/2004 nhà hoạt động dân chủ bác sĩ Nguyễn Đan Quế bị kết án 30 tháng tù vì đã phát tán một bài viết trên mạng Internet kêu gọi Chính phủ nới lỏng kiểm duyệt. Bác sỹ Quế đã được phóng thích trong tháng 2 những vẫn bị chính quyền giám sát và gây phiền nhiễu. Cũng trong tháng 7, các nhà hoạt động Trần Khuê và Phạm Quế Dương đã bị kết án 19 tháng tù kể cả thời gian đã thụ án (xem phần 2.b).

Năm 2003, nhà hoạt động dân chủ và từng là cán bộ cách mạng Trần Dũng Tiến bị kết án 10 tháng tù sau khi ký vào một lá thư chỉ trích việc bắt giữ hai ông Khuê và Dương. Trần Khuê, Phạm Quế Dương và Trần Dũng Tiến đã thụ án xong và được phóng thích. Cũng trong năm 2003, nhà báo Nguyễn Vũ Bình bị kết tội "gián điệp" sau khi ông chỉ trích hiệp định biên giới với Trung Quốc và gửi bản điều trần về các vấn đề nhân quyền của đất nước cho một Chính phủ nước ngoài. Bình bị kết án 7 năm tù và ba năm quản thúc tại gia. Bản án đã được phúc thẩm. Năm 2003, bác sĩ Phạm Hồng Sơn cũng bị kết tội làm "gián điệp" và bị kết án 13 năm tù và ba năm quản thúc tại gia, sau đó phúc thẩm được giảm xuống còn 5 năm, sau khi dịch một bài báo trên mạng Internet với tiêu đề "Dân chủ là gì".

Tháng 6/2004, Chính phủ giảm mức án 5 năm tù đối với Linh mục Dòng Tên Nguyễn Văn Lý, nhưng tăng thêm 5 năm quản chế hành chính sau khi được thả vào tháng 2. Cha Lý trước đó đã bị kết án 15 năm tù trong năm 2001 vì đã "phá hoại đoàn kết dân tộc", nhưng mức án chỉ dừng lại ở 5 năm tù, sau lần giảm án vào tháng 6/2004 và một lần giảm án tương tự năm 2003. Năm 2001, Cha Lý đã đệ trình bản điều trần chỉ trích Chính phủ tới một tổ chức nước ngoài và thường xuyên phát biểu về đa nguyên chính trị và quyền tự do tôn giáo tuyệt đối. Năm 2003, Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh kết án người cháu gái của cha Lý là cô Nguyễn Thị Hoa và hai người cháu trai khác là Nguyễn Trúc Cường và Nguyễn Vũ Việt với các mức án từ 3 đến 5 năm tù vì đã chuyển thông tin về các hoạt động của cha Lý cho các phóng viên nước ngoài. Năm 2003, Tòa Phúc thẩm Thành phố Hồ Chí Minh đã giảm mức án xuống còn ba năm bằng thời gian chờ xử án.

Một số nhân vật phát biểu một số quan điểm không chính thống về tôn giáo và chính trị không được phép ra nước ngoài (Xem phần 2. d.).

Đảng Cộng sản Việt Nam, Chính phủ và các tổ chức đoàn thể do Đảng kiểm soát tất cả phương tiện truyền thông in ấn và điện tử.

Các báo cáo công khai về nạn tham nhũng ở các cơ quan cấp trên và sai phạm trong quản lý trở nên phổ biến và mạnh mẽ hơn trong mấy năm vừa qua. Chẳng hạn, năm 2004, báo chí trong nước đã tập trung viết nhiều về phiên tòa xét xử tham nhũng cựu quan chức Bộ Nông nghiệp Lã Thị Kim Oanh và việc bãi chức Bộ trưởng Nông nghiệp Lê Huy Ngọ sau đó. Cũng trong năm 2004, Thứ trưởng Thương mại Mai Văn Dâu và con trai là Mai Thanh Hải đã bị bắt vì tội nhận hối lộ hàng chục ngàn đô-la để dàn xếp hạn ngạch cho các doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệt may. Các công tố viên đã tuyên án về tội hối lộ. Tất cả các báo lớn trong nước đều đăng tải chi tiết về tội danh và lối sống xa hoa của hai nhân vật này.
Phóng viên nước ngoài phải được Trung tâm Báo chí của Bộ Ngoại giao cấp phép và phải trú tại Hà Nội. Số lượng phóng viên nước ngoài được phép hoạt động rất hạn chế và những người sở tại làm việc cho các hãng truyền thông nước ngoài phải đăng ký với Bộ Ngoại giao. Các hãng thông tấn nước ngoài cũng rất khó có thể thuê phóng viên ảnh địa phương và xin giấy phép hoạt động cho họ. Chính phủ có thể giữ hoặc rút lại giấy phép đăng ký. Trung tâm Báo chí theo dõi hoạt động của các phóng viên và quyết định trong từng trường hợp về việc chấp thuận đề nghị phỏng vấn, chụp ảnh, quay phim, hoặc đi lại. Về nguyên tắc những đề nghị này phải được gửi trước 5 ngày. Tháng 9, Trung tâm Báo chí từ chối những lời đề nghị của các phóng viên nước ngoài được tới Vườn Quốc gia Cúc Phương để đưa tin về dịch cúm gia cầm và từ chối đề nghị của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) được đến Cúc Phương để lấy mẫu máu. Năm 2004, Trung tâm Báo chí từ chối những đề nghị của các phóng viên nước ngoài được tới Tây Nguyên ngay sau các cuộc biểu tình hôm 10/4 tại khu vực này. Theo luật định, phóng viên nước ngoài đề đạt các câu hỏi đối với các cơ quan thuộc Chính phủ thông qua Bộ Ngoại giao, mặc dù trên thực tế ít khi nguyên tắc này được chấp hành. Thị thực nhập cảnh của các phóng viên nước ngoài thường có giá trị trong sáu tháng. Trong năm 2004, ít nhất có hai phóng viên nước ngoài đã bị đe dọa không được gia hạn thị thực vì hoạt động đưa tin của họ.

Nhìn chung, Chính phủ yêu cầu việc xuất bản các ấn phẩm tôn giáo phải được thực hiện thông qua một nhà xuất bản tôn giáo thuộc sở hữu của Chính phủ; tuy nhiên, một số tổ chức tôn giáo có thể tự in tài liệu hoặc nhập về với sự đồng ý của Chính phủ (Xem phần 2.c.). Trong những trường hợp khác, các tài liệu tôn giáo chưa được cấp phép đã bị tịch thu và chủ sở hữu những tài liệu đó hoặc bị phạt hoặc bị bắt giữ.

Các bản bằng tiếng nước ngoài của những cuốn sách cấm như “Hồi quang của mùa xuân” của Dương Thu Hương được những người hàng rong bán công khai trên đường phố hay cuốn sách bị cấm trước đây Nỗi buồn chiến tranh bằng tiếng Việt của Bảo Ninh cũng được bày bán tại các cửa hàng sách.

Các tạp chí tiếng nước ngoài có mặt rộng rãi tại các thành phố; tuy nhiên, Chính phủ thường kiểm duyệt các bài viết về Việt Nam. Có lúc Chính phủ trì hoãn sự xuất hiện của các tạp chí nước ngoài do có các bài báo viết về những vấn đề nhạy cảm. Chính phủ nhìn chung không hạn chế nghe đài quốc tế, trừ Đài châu Á Tự do và Đài Phát thanh Viễn Đông. Hai đài này tiếp tục thường xuyên bị Chính phủ làm nhiễu.

Luật pháp hạn chế sử dụng truyền hình vệ tinh, ngoại trừ đối với các quan chức cao cấp, người nước ngoài, các khách sạn đắt tiền và báo chí; tuy nhiên, việc cưỡng chế thi hành luật không đồng bộ và ngày càng có nhiều người ở thành thị và một số vùng nông thôn có thể xem các chương trình nước ngoài không qua kiểm duyệt thông qua chảo vệ tinh gia đình hoặc truyền hình cáp. Dân thành phố có thể đăng ký sử dụng truyền hình cáp, bao gồm các kênh nước ngoài, mặc dù Chính phủ hạn chế nhiều thuê bao tiếp cận một số kênh thời sự nhất định, kể cả CNN và BBC. Việc sử dụng chảo vệ tinh thu trộm tín hiệu vệ tinh của Thái Lan và Philipin ngày càng trở nên phổ biến. Suốt chuyến thăm của Thủ tướng tại Hoa Kỳ vào tháng 6, những người đăng ký sử dụng kênh CNN đã không thể xem được một số bản tin của phóng viên CNN đưa tin về những cuộc biểu tình chống Chính phủ trong suốt chuyến thăm đó. Ngoài ra, các nhà chức trách cũng dùng bút xóa những nội dung trong các bài báo đưa tin về chuyến thăm này được đăng tải trên tờ International Herald Tribune khi phát báo cho người nước ngoài.

Chính phủ kiểm duyệt triển lãm nghệ thuật, âm nhạc và các hoạt động văn hóa khác. Tuy nhiên, trong những năm qua nhìn chung Chính phủ cho giới văn nghệ sĩ được tự do hơn trong việc chọn đề tài cho tác phẩm. Nhiều nghệ sĩ đã được phép tổ chức triển lãm ở nước ngoài và có quyền xuất cảnh để dự triển lãm và có giấy phép đưa các tác phẩm của mình ra nước ngoài. Ngoài ra, một số Đại sứ quán và cơ quan lãnh sự nước ngoài cũng có thể tổ chức nhiều hoạt động văn hóa hơn so với trước đây.

Chính phủ chỉ cho phép truy cập Internet thông qua một số lượng hạn chế các nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP), tất cả đều là công ty cổ phần thuộc sở hữu nhà nước. Tháng 1/2004, Bộ Công an ban hành một quyết định cấm truy cập Internet trực tiếp thông qua các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài, yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ trong nước lưu trữ thông tin truyền tải trên Internet trong vòng ít nhất là 15 ngày và tiếp tục yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ phối hợp với Bộ Công an để hỗ trợ kỹ thuật và không gian làm việc cho công an để họ giám sát các hoạt động Internet. Quyết định này cũng yêu cầu các đại lý Internet-chẳng hạn các quán cà phê Internet- đăng ký thông tin của cá nhân khách hàng, lưu trữ thông tin về trang Web mà khách hàng truy cập trong vòng 30 ngày và hợp tác với công an. Chưa rõ trên thực tế quy định này được thực hiện như thế nào, mặc dù nhiều quán cà phê Internet không đăng ký thông tin cá nhân của khách hàng.
Chính phủ sử dụng bức tường lửa để ngăn chặn các trang Web mà họ cho là không phù hợp về chính trị và văn hóa, kể cả các trang web do các nhóm lưu vong quản trị. Trong năm, Chính phủ cũng hạn chế truy cập tới trang web của Đài châu Á Tự do và Đài Tiếng nói Hoa Kỳ, nhưng báo chí trong nước đôi khi vẫn đăng tin dựa trên các bản tin của Đài châu Á Tự do.

Chính phủ yêu cầu tất cả đơn vị sở hữu các trang Web trong nước, kể cả các Web site do các pháp nhân nước ngoài điều hành, phải đăng ký với Chính phủ và đệ trình nội dung trang Web của họ lên để Chính phủ phê duyệt. Trong tháng 7, một nhà ngoại giao cấp cao của nước ngoài đã tổ chức buổi giao lưu trực tuyến không bị kiểm soát với người dân địa phương về các vấn đề quan hệ song phương và trong nước, bao gồm cả những mối quan ngại của cộng đồng quốc tế về nhân quyền và tự do tôn giáo.

Chính phủ hạn chế quyền tự do học thuật, các học giả nghiên cứu thực địa nước ngoài thường xuyên bị chất vấn và theo dõi. Tuy nhiên, so với các năm trước, Chính phủ cho phép trao đổi thông tin cởi mở hơn, kể cả trong hệ thống trường đại học. Thủ thư trong nước ngày càng được đào tạo chuyên nghiệp hơn và phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế hơn, điều này hỗ trợ cho việc nghiên cứu và trao đổi thông tin và nghiệp vụ thư viện rộng hơn trên bình diện quốc tế. Các giáo viên nước ngoài đang dạy tạm thời tại các trường đại học ở trong nước được phép trao đổi các vấn đề phi chính trị một cách rộng rãi và thoải mái trong lớp học; tuy nhiên, người theo dõi của Chính phủ thường xuyên dự giờ do các giáo viên trong và ngoài nước giảng. Nhân viên an ninh thường xuyên chất vấn những người tham dự các chương trình tại các cơ quan đại diện ngoại giao hoặc sử dụng các cơ sở, phương tiện nghiên cứu của nước ngoài. Tuy nhiên, nhu cầu về tài liệu của các cơ sở nghiên cứu nước ngoài ngày càng tăng. Các ấn phẩm học thuật thường phản ánh quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và của Chính phủ.

b. Tự do hội họp hòa bình và lập hội

Tự do hội họp

Quyền hội họp bị luật pháp hạn chế. Chính phủ hạn chế và theo dõi tất cả mọi hình thức phản đối hoặc tụ tập nơi công cộng. Những người muốn lập hội, nhóm phải nộp đơn xin phép, chính quyền địa phương có thể cấp phép hoặc từ chối một cách tùy tiện. Nói chung, Chính phủ không cho phép biểu tình nếu thấy có mục đích chính trị. Người dân thường xuyên tụ tập theo các nhóm mà không bị chính quyền can thiệp; tuy nhiên, Chính phủ hạn chế quyền tụ tập hành lễ của một số nhóm tôn giáo không đăng ký.

Cũng giống như nhiều năm trước, có nhiều báo cáo từ Tây Nguyên và Tây Bắc cho biết các nhà chức trách ngăn cản các cuộc gặp mặt của tín đồ Tin Lành, hoặc giải tán những cuộc họp đó (Xem phần 2.c.). Giữa tháng 9, đơn xin tụ tập hành lễ của một nhóm Tin Lành tại huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai đã bị từ chối. Trong tháng 6, nhóm Tin Lành ở tỉnh Quảng Ninh cũng đã bị từ chối đăng ký để có thể tụ tập hành lễ một cách hợp pháp.

Khác với năm 2004, không có vụ biểu tình nào của người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên được báo cáo. Tháng 4/2004, các nhóm dân tộc thiểu số bất ngờ tiến hành các cuộc biểu tình tại rất nhiều địa điểm ở các tỉnh Tây Nguyên như Đắc Nông, Đắc Lắc và Gia Lai để phản đối tình trạng thiếu cơ hội phát triển kinh tế, mất đất đai và các hạn chế về tôn giáo. Một số người phản đối cũng kêu gọi việc thành lập một nhà nước “Đề ga” độc lập của người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên. Trong một số vụ biểu tình, cảnh sát đã đáp trả các cuộc biểu tình bằng cách đánh đập và nổ súng vào người biểu tình (xem các phần 1.a và 1.c). Chính quyền cho biết hai người đã bị chết trong các cuộc bạo động mặc dù nhiều nguồn tin đáng tin cậy cho biết ít nhất một chục người đã bị chết và nhiều người nữa bị thương. Trong tháng 8/2004, một tòa án ở Buôn Ma Thuột đã kết án 9 người từ 5 đến 12 năm tù vì tội tham gia vào các cuộc biểu tình. Tháng 11/2004, một tòa án ở tỉnh Đắc Nông kết án 17 người dân tộc Êđê từ 3 đến 10 năm tù vì tội tham gia các cuộc biểu tình. Các tổ chức nhân quyền tính toán ít nhất 76 người dân tộc thiểu số đã bị bỏ tù vì tham gia vào các cuộc biểu tình năm 2001 và 2004. Một vài nhà quan sát ước lượng con số có thể cao hơn nhiều.

Theo những diễn biến trong năm, các cuộc biểu tình hòa bình quy mô nhỏ của nông dân yêu cầu chỉnh đốn các vấn đề liên quan đến quyền đất đai thường xuyên diễn ra trước các tòa nhà Chính phủ ở Hà Nội. Cảnh sát giám sát nhưng không giải tán các cuộc biểu tình đó. Những người biểu tình ở Thành phố Hồ Chí Minh đã tìm cách ngăn cản việc phá một số ngôi nhà thuộc quyền sở hữu của Nhà nước. Hơn nữa, các nhà chức trách ở Thành phố Hồ Chí Minh đã yêu cầu phá một phần ngôi nhà đang được sử dụng làm nhà thờ của linh mục dòng Mennon Nguyễn Hồng Quang (xem phần 2.c).

Tự do lập hội

Chính phủ hạn chế quyền tự do lập hội. Các đảng phái chính trị đối lập bị cấm. Chính phủ cấm việc thành lập các tổ chức tư nhân độc lập, và kiên quyết yêu cầu các cá nhân hoạt động trong khuôn khổ các tổ chức đoàn thể đã được thành lập dưới sự kiểm soát của Chính phủ, thông thường dưới sự bảo trợ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Tuy nhiên, một số tổ chức, đặc biệt các nhóm tôn giáo chưa đăng ký, có thể hoạt động ngoài khuôn khổ này với rất ít hoặc thậm chí không có sự can thiệp của Chính phủ (xem phần 2.c.).
Tháng 5/2004, một tòa án ở Thành phố Hồ Chí Minh kết án Nguyễn Thế Hạnh 2 năm tù vì đã dính líu với các nhóm hoạt động chính trị của người Mỹ gốc Việt trong hai năm ông này sống ở nước ngoài.

Cũng trong tháng 5/2004, một nhóm các luật sư và nhà báo tổ chức một lễ kỷ niệm công khai ở Hà Nội để đánh dấu việc thành lập nhóm “Luật sư vì Công lý”, một nhóm cổ động muốn giúp đỡ nạn nhân của sự bất công do luật pháp hoặc công an gây ra. Chủ tịch Đoàn Luật sư Hà Nội đã tuyên bố rằng tổ chức của họ là phi pháp và yêu cầu họ phải tự giải thể hoặc sẽ bị giải tán. Kết quả là nhóm này đã chính thức giải thể mặc dù các thành viên vẫn còn liên lạc với nhau và cùng lập nhóm với các nhà ngoại giao nước ngoài và những đối tượng khác.

c. Tự do tôn giáo

Cả Hiến pháp và các nghị định của Chính phủ đều quy định quyền tự do hành đạo; tuy nhiên, Chính phủ tiếp tục hạn chế đáng kể những hoạt động có tổ chức của các nhóm tôn giáo mà Chính phủ cho là trái với luật pháp và chính sách của nhà nước.

Chính phủ nhìn chung đã cho phép các cá nhân được hành đạo riêng lẻ theo tôn giáo mà họ lựa chọn, nhưng luật điều chỉnh tôn giáo lại yêu cầu Chính phủ chính thức cấp phép tổ chức và các hoạt động của tất cả mọi giáo đoàn. Tháng 3, nghị định hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh về tôn giáo và tín ngưỡng ban hành năm 2004 đã nêu quy định hướng dẫn các tôn giáo đăng ký hoạt động và được công nhận chính thức. Quy định mới thay thế nghị định ban hành năm 1999 về tôn giáo có tính chất hạn chế nhiều hơn đã nới lỏng kiểm soát việc thụ phong và thuyên chuyển các tăng lữ, việc lên kế hoạch cho các hoạt động tôn giáo và và tăng khả năng được làm từ thiện của các nhóm tôn giáo. Quy định mới cũng thiết lập một cơ chế rõ ràng để các nhà thờ chưa đăng ký bình thường hóa các hoạt động của họ, đồng thời bổ sung “Hướng dẫn đạo Tin Lành” được Thủ tướng Chính phủ ban hành vào tháng 2 trước đó. Văn bản này hướng dẫn các nhà chức trách hỗ trợ các giáo đoàn chưa được công nhận đăng ký các hoạt động của mình để họ có thể hành đạo công khai.
Mặc dù có hạn chế đối với hoạt động có tổ chức song việc tham gia các hoạt động tôn giáo vẫn tiếp tục tăng lên đáng kể. Hai tổ chức giáo hội ở Thành phố Hồ Chí Minh đã đăng ký thành công theo quy định mới. Hồ sơ đăng ký của họ và ít nhất của một tổ chức giáo hội khác vẫn còn chờ xử lý ở các tỉnh khác. Một số giáo đoàn thuộc các tín ngưỡng đã được công nhận trước đây đã có thể đăng ký hợp pháp các hoạt động và nơi hành đạo của họ.

Tuy nhiên, quy định mới vẫn duy trì toàn bộ sự kiểm soát của Chính phủ đối với các tổ chức tôn giáo và hạn chế đáng kể công tác từ thiện, y tế và giáo dục của các nhóm tôn giáo. Chính phủ tiếp tục sử dụng thủ tục đăng ký và công nhận để kiểm soát và giám sát các tổ chức giáo hội. Chính phủ đã chính thức công nhận các tổ chức Phật giáo, Thiên Chúa giáo La Mã, Tin Lành, Hòa Hảo, Cao Đài và Hồi giáo. Để được công nhận chính thức, hiến chương, chức sắc và phạm vi hoạt động tổng thể của một nhóm phải được Chính phủ chấp thuận. Cũng cần phải được chấp thuận chính thức nếu muốn mở các địa điểm hành đạo mới, thụ phong cho các tăng lữ, thành lập các viện đào tạo tôn giáo và tuyển sinh cho những cơ sở đào tạo này.

Quá trình Chính phủ thông qua là rất chậm và không minh bạch mặc dù luật đã quy định rằng Chính phủ cần phải giải quyết nhanh chóng và minh bạch. Các giáo đoàn phải đăng ký hoạt động thường niên với Chính phủ, còn những hoạt động nào nằm ngoài lịch trình này cũng đều phải được Chính phủ thông qua một cách rõ ràng. Trên cả nước, các tổ chức tôn giáo được công nhận chính thức có thể tự do hoạt động ở những mức độ khác nhau. Tín đồ của các tổ chức tôn giáo này thường xuyên hành đạo mà không bị Chính phủ sách nhiễu.

Bên cạnh những giáo đoàn được công nhận chính thức còn có rất nhiều giáo đoàn không được công nhận đang hoạt động trên cả nước, trong đó có các tổ chức Phật giáo độc lập, giáo phái dòng Baptist, Menno, Nhân chứng Giêhôva, Moócmon, Baha’i, các nhóm Cao Đài và Hòa Hảo độc lập, các nhóm Hồi giáo dòng Suni độc lập và các nhóm theo đạo Hindu người dân tộc Chàm. Trong những năm gần đây, một số tổ chức tôn giáo Tin Lành, Phật giáo và Hòa Hảo yêu cầu tổ chức của họ được công nhận chính thức, nhưng không được đáp ứng. Hai giáo đoàn Tin Lành, một giáo đoàn dòng Baptist và một giáo đoàn khác thuộc Seventh-day Adventist đã đăng ký hoạt động tại Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định mới. Các nhóm khác như Menno và Nhân chứng Giêhôva đã cố đăng ký và bình thường hóa các hoạt động của họ theo quy định mới về tôn giáo, nhưng đến cuối năm họ vẫn chưa đuợc Chính phủ chấp thuận.

Việc chính thức giám sát các tôn giáo đã được công nhận và việc sách nhiễu hay gây ức chế các tín đồ của những tôn giáo chưa được công nhận cũng khác nhau về mức độ ở từng địa phương, thường là do không nắm rõ chính sách của nhà nước hoặc việc hiểu các chính sách này ở địa phương có khác nhau. Về mặt thủ tục, hoạt động của các nhóm tôn giáo không đăng ký bị Chính phủ cho là bất hợp pháp và những nhóm này đôi khi còn bị sách nhiễu mặc dù mức độ sách nhiễu đã giảm đi, nhất là đối với các giáo đoàn Tin Lành ở miền Trung và miền Nam. Rất nhiều nhà thờ và đền thờ không đăng ký, đặc biệt là ở thành thị hoặc thuộc về các nhóm Hồi giáo và Hindu truyền thống, được phép hoạt động mà không hề bị can thiệp. Chính phủ tích cực ngăn cản sự tiếp xúc giữa Giáo hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam bất hợp pháp với những người ủng hộ ở nước ngoài, và giữa các tổ chức Tin Lành không chính thức với những người ủng hộ ở nước ngoài, mặc dù họ vẫn tiếp tục liên lạc với nhau. Công an thường xuyên thẩm vấn một số người có quan điểm chính trị và tôn giáo bất đồng, chẳng hạn như các hòa thượng của Giáo hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam và một số linh mục Thiên Chúa giáo. Ví dụ, trong suốt năm vừa qua, các hòa thường của Giáo hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam ở Huế và Thành phố Hồ Chí Minh đã bị cấm thăm giáo trưởng của họ ở Bình Định. Theo các báo cáo đáng tin cậy, công an cũng đã tạm giam nhiều người ở Tây Nguyên vì nghi ngờ nhánh Tin Lành của họ đã khuyến khích tư tưởng ly khai của người dân tộc thiểu số.

Chính quyền một số địa phương đã cố gắng ngăn cản không cho các tín đồ Tin Lành thuộc các giáo đoàn không đăng ký được tụ họp hành đạo. Tình trạng này đặc biệt nghiêm trọng ở một số địa phương thuộc Tây Nguyên. Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, một tổ chức phi chính phủ quốc tế cho biết lực lượng an ninh ở tỉnh Kon Tum đã phá nhà thờ của mục sư dòng Mennon Nguyễn Công Chính hai lần trong năm 2004. Có tin là chính quyền làm việc này vì Chính đã mua mảnh đất để xây dựng nhà thờ đó dưới một cái tên giả. Các nhà quan sát khác còn cho biết cách nhà thờ của Chính không xa lắm có ít nhất một nhà thờ Tin Lành khác không đăng ký, đang hoạt động nhưng không hề bị sách nhiễu.

Tại Thành phố Hồ Chí Minh, chức sắc nhà thờ tại gia dòng Menno Nguyễn Hồng Quang là mục tiêu bị sách nhiễu trầm trọng. Tháng 6/2004, sau vụ ẩu đả với công an, Quang đã bị giam giữ và bị kết án 3 năm tù giam. Năm trong số các môn đồ của ông bị kết án tù từ 9 tháng đến 2 năm. Một số nhà quan sát cho rằng vụ bắt giữ Quang có liên quan tới chủ trương hành động xã hội rộng lớn của ông. Trong thời gian Quang bị giam giữ, vợ ông đã tiếp tục điều hành nhà thờ không được công nhận của họ, nhưng liên tục bị công an sách nhiễu. Những lời cáo buộc công an tra tấn một số môn đồ của Quang trong nhà tù không thể chứng thực. Quang đã được thả trong đợt ân xá hồi tháng 9. Kể từ khi được phóng thích, việc sách nhiễu nhằm vào nhà thờ của ông đã giảm đi.

Tháng 10/2004, công an Thành phố Hồ Chí Minh đã giải tán một hội nghị nghiên cứu kinh thánh được tổ chức kín và không đăng ký, bắt giam hai mục sư Tin Lành không được công nhận và 17 chức sắc nhà thờ tại gia người Hmông đến từ Tây Bắc. 17 người Hmông đã bị giam giữ qua đêm và sau đó được đưa trở về Tây Bắc. Các nguồn tin đáng tin cậy cho biết những tín đồ Tin Lành ở Tây Bắc đã bị đánh đập vì những lý do liên quan đến tín ngưỡng của họ (xem phần 1.a). Tháng 3, Thảo A Long ở xã Ca Ngay, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai đã bị bắt và bị công an đánh đập dã man vì là tín đồ của giáo phái Phúc Âm tại Việt Nam. Trong tháng 4, cũng tại địa điểm đó, Vàng A Lo ở xã Lu Khau – là Đảng viên từ năm 1997 – đã bị bắt và di lý tới tỉnh Lai Châu vì anh kiên quyết không từ bỏ đạo Tin Lành của mình. Các nhà chức trách địa phương sau đó đã tịch thu đất của anh một cách bất hợp pháp. Mặc dù thỉnh thoảng có những vụ việc như vậy được báo cáo, song tổng số các báo cáo về tình trạng sách nhiễu các nhóm Tin Lành đã giảm đi trong cả năm (xem phần 2.b). Năm 2003, một số giới chức đã bị cáo buộc đã hãm hiếp hai cô gái ở làng Nam Nga, tỉnh Lai Châu để trừng phạt gia đình họ vì đã theo đạo Tin Lành (xem phần 1.c).

Các quan chức chính phủ bác bỏ những lời cáo buộc cho rằng các nhà thờ tại gia của đạo Tin Lành bị phá hoặc đóng cửa vì không đăng ký và do đó bị coi là bất hợp pháp. Trái lại, các nhà chức trách ở Thành phố Hồ Chí Minh lại tuyên bố họ đã yêu cầu phá một phần ngôi nhà của mục sư dòng Mennon Nguyễn Hồng Quang vì xây dựng mà không xin phép. Mặc dù các nhà chức trách địa phương vẫn cho rằng các công trình xây dựng bất hợp pháp khác trong khu vực cũng đã bị phá song không có ngôi nhà nào gần nhà riêng của Quang dường như bị ảnh hưởng trước biện pháp này của chính quyền.

Ngoại trừ tỉnh Đắc Lắc, nhiều nhà thờ tại gia ở Tây Nguyên thuộc Giáo hội Phúc âm miền Nam Việt Nam (SECV) bị yêu cầu đóng cửa trong năm 2001 đã có thể nối lại hoạt động, một số ít nhưng ngày càng tăng lên đã được chính thức đăng ký. Một số giáo đoàn Tin Lành không đăng ký của nhiều dân tộc thiểu số ở Tây Bắc, nhất là người Hmong, đã bắt đầu tiếp cận chính quyền địa phương để bắt đầu tiến hành các thủ tục đăng ký. Ở một số tỉnh Tây Bắc, các quan chức tỉnh phủ nhận sự tồn tại của bất cứ tín đồ nào mặc dù trong khi đó Chính quyền Trung ương công nhận rằng có hàng nghìn tín đồ Tin Lành không đăng ký cư trú ở đây. Tính đến cuối năm, vài trăm giáo đoàn ở Tây Bắc đã nộp đơn đăng ký nhưng mới chỉ có một nhận được phản hồi của chính quyền địa phương mặc dù có văn bản chính thức của nhà nước yêu cầu trả lời ngay những hồ sơ như vậy. Nhiều giáo đoàn cũng cho biết việc sách nhiễu chính thức đã tăng lên đáng kể sau khi họ cố gắng đăng ký hợp pháp.

Trong tháng 3, SECV đã tổ chức Đại hội lần thứ hai. Theo nhiều nguồn tin đáng tin cậy, Giáo hội đã có thể bầu ban lãnh đạo mới hoàn toàn không bị Chính phủ can thiệp. Tháng 12/2004, Giáo hội Phúc Âm miền Bắc Việt Nam (ECVN) được chính thức công nhận đã tổ chức Đại hội đầu tiên sau 20 năm. Đại hội lúc đầu đã bị trì hoãn vì Chính phủ không cấp phép và do các lãnh đạo ECVN chưa muốn tổ chức đại hội chừng nào họ vẫn còn bị Chính phủ can thiệp. Đại hội đã cho phép ECVN bầu ban lãnh đạo mới, bổ nhiệm các mục sư mới và bắt đầu chương trình đổi mới và mở rộng.

Trong năm qua, các vụ cáo buộc cưỡng bức bỏ đạo cũng đã giảm đi đáng kể. Tháng 8, nhiều báo cáo đáng tin cậy cho biết các quan chức địa phương đã cố gắng buộc một người thuyết giáo không chuyên của SECV phải từ bỏ tín ngưỡng của mình và chấm dứt địa vị mục sư của ông ở bản Hre dân tộc thiểu số ở tỉnh Quảng Ngãi. Được biết nhà riêng của ông đã bị đốt cháy để trả đũa.

Các mục sư của một nhà thờ tại gia ở tỉnh Ninh Thuận cho biết sau khi làm lễ rửa tội cho bảy người dân tộc thiểu số mới trong làng vào tháng 6, công an địa phương đã triệu tập tất cả 33 thành viên trong nhóm đến đồn công an xã. Chỉ có năm hoặc sáu thành viên của nhóm đã đến đồn cảnh sát. Họ đã bị thẩm vấn một nửa ngày và sau đó được thả về nhà. Những thành viên khác không đến nhưng cũng không bị ảnh hưởng gì do không tuân thủ lệnh triệu tập của công an. Đồng thời, công an đã thẩm vấn hai người truyền bá Phúc Âm của nhà thờ tại gia trong ba ngày. Buổi tối họ đều được phép về nhà. Trong tháng 10, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã đã triệu tập các thành viên của cộng động Tin Lành đến nhà riêng của trưởng thôn. Năm người đã có mặt. Trong một cuộc tụ tập công khai, các nhà chức trách địa phương đã đe dọa cắt các khoản trợ cấp và cấp nhà của Chính phủ dành cho năm người này nếu họ không từ bỏ đạo Tin Lành. Bốn người đã từ bỏ còn một người thì không, nhưng sau đó không ai trong số họ cũng như tất cả mọi thành viên khác trong giáo xứ bị ảnh hưởng gì.

Vào tháng 7 và 8 năm 2004, có tin là các nhà chức trách đã giam giữ mà không hề buộc tội hơn 100 tín đồ Tin Lành người Hmông-mỗi gia đình tín đồ Tin Lành một người- ở ít nhất là năm xã khác nhau ở huyện Sapa, tỉnh Lào Cai. Các nhà chức trách ép những người bị giam giữ phải từ bỏ đạo Tin Lành, chỉ thả họ nếu họ hứa sẽ bỏ đạo. Tháng 3/2004, có tin là công an ở tỉnh Kontum đã sách nhiễu các tín đồ Tin Lành tại một nhà thờ tại gia, thu giữ Kinh thánh và phạt người tổ chức nhà thờ. Cũng trong tháng 3/2004 tại những nơi khác ở Kon Tum, có tin là công an ba lần giam giữ một mục sư Tin Lành người dân tộc Gia Rai không đăng ký, đánh đập ông và lần nào cũng ép ông phải bỏ đạo.

Trong năm qua, trước mối đe dọa tịch thu tài sản hoặc lạm dụng thân thể, một số tín đồ Tin Lành người dân tộc thiểu số bị buộc phải ký giấy xin chính thức bỏ đạo hoặc thực hiện nghi thức có tính tượng trưng. Tuy nhiên, chỉ có một báo cáo đáng tin cậy duy nhất về trường hợp như vậy trong năm vừa qua. Cuối tháng 11, một mục sư người dân tộc thiểu số ở tỉnh Hà Giang đã bị ép phải ký giấy xin chính thức bỏ đạo sau khi giáo đoàn của ông cố gắng đăng ký với chính quyền địa phương theo đúng chính sách của nhà nước về tôn giáo.
Khác với những năm trước, không có báo cáo nào về việc các nhà chức trách bịa đặt chứng cớ. Trong một số vụ xảy ra trước đây, đặc biệt liên quan tới các tín đồ Tin Lành người Hmong, khi các nhà chức trách truy tố những người tổ chức các buổi lễ tôn giáo không được cho phép, họ thường viện dẫn các điều khoản của Bộ luật Hình sự cho phép bỏ tù tới ba năm nếu “lạm dụng quyền tự do ngôn luận, báo chí hoặc tôn giáo”, và bỏ tù tới hai năm nếu “gây rối trật tự công cộng”. Bộ luật Hình sự quy định khung hình phạt bỏ tù từ 2 đến 15 năm nếu “cố ý phá hoại sự đoàn kết quốc gia” bằng việc tăng cường “chia rẽ giữa những người theo đạo và không theo đạo”.

Các tín đồ Phật giáo thuộc Hội đồng Điều hành Phật giáo Sangha Việt Nam, một hội đồng điều hành phật giáo chính thức được chấp thuận, nhìn chung được tự do hành đạo. Mặc dù những tín đồ này chiếm đa số trong cộng đồng Phật giáo song Chính phủ vẫn tiếp tục sách nhiễu các thành viên Giáo hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam và ngăn không cho họ tiến hành các hoạt động tôn giáo độc lập bên ngoài phạm vi các chùa của họ. Năm 2003, các chức sắc Giáo hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam đã gặp gỡ tại Bình Định và họ coi cuộc gặp là sự tái thiết trên thực tế cơ cấu và lãnh đạo của Giáo hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam. Các giới chức an ninh đã chặn một số chức sắc Giáo hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam khi họ rời hội nghị và đưa họ trở về chùa. Từ thời điểm đó cho đến cuối năm, một số chức sắc Giáo hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam, kể cả Hòa thượng Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ, vẫn bị quản thúc trong chùa, bị hạn chế đi lại và gặp gỡ các môn đệ. Tháng 11/2004, Thích Quảng Độ đã cố gắng tới tỉnh Quy Nhơn để thăm Thích Huyền Quang, lúc đó đang nằm viện. Thích Quảng Độ đã bị cản trở không cho đi và bị đưa trở lại chùa của ông tại Thành phố Hồ Chí Minh dưới sự áp tải của công an. Các hòa thượng khác thuộc Giáo hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam cũng bị ngăn cản không được thăm Thích Huyền Quang suốt cả năm. Tuy nhiên, các đại sứ nước ngoài đã gặp được Đại hòa thượng Thích Huyền Quang vào tháng 4 và tháng 11/2004, và các quan chức nước ngoài đã có nhiều dịp gặp Thích Quảng Độ và các lãnh đạo khác của Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong năm 2004 và cả năm ngoái. Chính quyền cũng đã tuyên bố việc Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành lập các ban đại diện ở ít nhất chín tỉnh miền Trung và miền Nam hồi giữa năm là bất hợp pháp.

Chính phủ đã nới lỏng hạn chế Giáo hội Thiên Chúa giáo La Mã mặc dù vẫn duy trì quyền phủ quyết trước việc bổ nhiệm các giám mục Thiên Chúa giáo của Vatican. Vatican và Chính phủ đã đạt được sự nhất trí về những ứng cử viên mà cả hai đều có thể chấp nhận được và tất cả các chức giám mục đều đã được bổ nhiệm. Chính phủ cũng nhất trí thành lập một giáo khu mới bằng cách tách đôi giáo khu Xuân Lộc. Chính phủ vẫn hạn chế số lượng trường dòng Thiên Chúa giáo, quy mô và tần suất lớp học mặc dù trong năm 2004 đã cho phép tăng 80% số giáo sinh mới ở ít nhất một trường dòng. Giáo hội Thiên Chúa giáo cho rằng số lượng giáo sĩ không đủ để đáp ứng nhu cầu của các tín đồ và đề nghị cho phép tăng hơn nữa quy mô và tần suất các lớp học. Tháng 11, nhân chuyến thăm của một hồng y giáo chủ Vatican, 57 linh mục đã được thụ phong ở Hà Nội. Theo các quan chức của giáo hội, Chính phủ đang xem xét việc chấp thuận mở một trường dòng mới ở tỉnh Đồng Nai. Theo quy định mới về tôn giáo, Giáo hội được phép tự do bổ nhiệm ứng cử viên vào trường dòng và sau đó có thể phong linh mục cho họ. Một số giáo sĩ cho biết Chính phủ tiếp tục nới lỏng kiểm soát đối với các hoạt động của nhà thờ ở một số giáo khu. Ở một số địa phương, cán bộ chính quyền cho phép các chức sắc Giáo hội Thiên Chúa giáo được mở các lớp học về tôn giáo (bên ngoài giờ học thường xuyên ở trường) và tiến hành một số hoạt động từ thiện; tuy nhiên ở những khu vực khác, cán bộ cấm đoán gắt gao những hoạt động này. Chính phủ tiếp tục thảo luận về việc bình thường hóa quan hệ với Vatican và trong tháng 11 đã đón một hồng y giáo chủ phụ trách công tác truyền giáo của Vatican tới thăm.

Chính phủ đã ân xá cho ba nhà lãnh đạo Hòa Hảo trong năm 2004; tuy nhiên, ít nhất 10 tín đồ Hòa Hảo vẫn bị bỏ tù. Các hòa thượng đạo Hòa Hảo và các tín đồ theo Hội đồng Hành chính đạo Hòa Hảo được Chính phủ công nhận nhìn chung được phép tự do hành đạo. Vào ngày thường, tại ngôi Chùa chính của đạo Hòa Hảo tại tỉnh An Giang có khoảng 100 đến 200 người tới cầu nguyện. Các hòa thượng và các tín đồ thuộc các nhóm bất đồng chính kiến hoặc không công nhận thẩm quyền của Hội đồng Hành chính đạo Hòa Hảo phải chịu nhiều hạn chế hơn. Trong tháng 6, các tín đồ Hòa Hảo đã tổ chức kỷ niệm ngày mất của người sáng lập Nguyễn Hải Hà. Có tin cho hay một số tín đồ đã đụng độ với công an khi họ treo băng rôn phản đối sự kiểm soát của Chính phủ đối với Hòa Hảo. Trong tháng 8, công an đã bắt tám người liên quan đến vụ đụng độ hồi tháng 6. Hai tín đồ khác của Hòa Hảo đã tự sát để phản đối trong quá trình bắt giữ, một người đã chết. Người còn lại vẫn bị tạm giam đến cuối năm.

Tháng 1, Hồng Thiên Hạnh, chức sắc của giáo phái nhỏ Tô Đinh Tân Chiêu Minh ở tỉnh Tiền Giang, đã bị kết án 8 năm tù vì tham gia vào các hoạt động tôn giáo bất hợp pháp và lừa gạt các tín đồ.

Các thành viên Hiệp hội Hồi giáo có thể hành đạo, kể cả việc cầu nguyện hàng ngày và ăn chay trong tháng Ramadan.

Việc công khai theo một tín ngưỡng tôn giáo nhìn chung không ảnh hưởng tới đời sống dân sự, kinh tế và cuộc sống thế tục của người dân, mặc dù việc này có thể cản trở việc thăng tiến lên những chức vụ cao nhất trong chính quyền và quân đội. Tuy nhiên, có một số báo cáo cho biết các trường nội trú dân tộc đã phân biệt đối xử với những học sinh có gia đình theo đạo, nhất là đạo Tin Lành. Theo đạo không cản trở việc trở thành Đảng viên Đảng Cộng sản. Một số quan chức Đảng và Chính phủ thừa nhận rằng họ theo các nghi thức truyền thống và đạo Phật.

Chính phủ hạn chế và kiểm soát tất cả các hình thức hội họp công cộng, kể cả hội họp để tổ chức các hoạt động tôn giáo. Các buổi hội họp tôn giáo lớn theo lịch được phép tổ chức, chẳng hạn như các buổi lễ Thiên Chúa giáo tại La Vang tại Quảng Trị và các buổi lễ kỷ niệm của đạo Cao Đài ở tỉnh Tây Ninh. Đạo Hòa Hảo được cho phép tổ chức các buổi tụ họp công cộng lớn để kỷ niệm các ngày lễ truyền thống, còn những hoạt động khác thì không.

Các nhà truyền giáo nước ngoài có thể không được hoạt động với tư cách là các nhà hoạt động tôn giáo, mặc dù nhiều người tiến hành các hoạt động vì mục đích nhân đạo hoặc phát triển và được Chính phủ cho phép.

Một nhà xuất bản của Chính phủ quản lý việc xuất bản tất cả các tài liệu tôn giáo. Nhiều cuốn kinh quan trọng của đạo Phật, Kinh thánh, các văn bản và các ấn phẩm tôn giáo khác, kể cả một số ấn phẩm bằng tiếng dân tộc đều do các tổ chức được Chính phủ cho phép xuất bản.

Chính phủ cho phép một số tín đồ được đi lại vì mục đích tôn giáo. Các tín đồ Hồi giáo có thể đi dự lễ Hajj, và ngày càng có thêm nhiều chức sắc Phật giáo, Thiên Chúa giáo và Tin Lành được ra nước ngoài và học tập ở nước ngoài. Chính phủ cho phép nhiều giám mục và giáo sĩ được đi lại tự do trong giáo khu của họ. Tuy vẫn còn hạn chế, nhưng họ đã được đi lại thoải mái hơn bên ngoài những khu vực này, đặc biệt là ở vùng dân tộc thiểu số. Trong năm, nhiều chức sắc nhà thờ Tin Lành tại gia được ra nước ngoài. Cán bộ chính quyền ngăn không cho giới tăng lữ được công nhận chính thức được tới tỉnh Sơn La, Lai Châu và một số tỉnh biên giới vùng cao có dân tộc thiểu số “nhạy cảm” khác; tuy nhiên, một số chức sắc đạo Tin Lành cho biết chính sách này đã nới lỏng đáng kể trong năm vừa qua.
Những người hành đạo trong một nhóm không được nhà nước công nhận không được phép ra nước ngoài.

Phân biệt đối xử và lạm dụng trong xã hội

Nhìn chung, quan hệ giữa các cộng đồng tôn giáo vẫn tiếp tục hòa thuận và chưa thấy có trường hợp phân biệt đối xử hay bạo lực trong xã hội vì lý do tôn giáo. Giữa Giáo hội Công giáo và Hội đồng Điều hành Phật giáo Sangha Việt Nam được Chính phủ công nhận có sự hợp tác trong các hoạt động từ thiện, chẳng hạn phòng chống HIV/AIDS. Không có báo cáo nào về các trường hợp bài chống Do Thái.

Để có thêm chi tiết, xem Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế 2005.

d. Tự do đi lại trong nước, ra nước ngoài, nhập cư và hồi hương

Hiến pháp quy định rằng công dân “được tự do đi lại và cư trú trong nước…(và) tự do ra nước ngoài và về nước…phù hợp với những quy định của luật pháp”; tuy nhiên Chính phủ vẫn áp dụng một số hạn chế đối với việc tự do đi lại. Một số nhà chức trách địa phương yêu cầu thành viên các nhóm dân tộc thiểu số phải xin phép khi ra ngoài một số khu vực, thậm chí trong một số trường hợp ra khỏi làng cũng phải xin phép.

Tháng 9/2004, Văn phòng Thủ tướng ra quyết định yêu cầu công dân và những người nước ngoài cư trú phải xin phép nếu muốn đến thăm các khu vực vùng biên, các cơ sở quốc phòng, các khu công nghiệp có liên quan đến quốc phòng, những khu vực “dự trữ chiến lược quốc gia” và “các công trình cực kỳ quan trọng vì mục đích chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội”.

Có tin là cán bộ địa phương ngầm ngăn cản một số tăng lữ không cho họ đi lại trong nước, thậm chí ngay trong phạm vi tỉnh, nhất là khi đi đến các khu vực có người dân tộc thiểu số (xem phần 2.c).

Về nguyên tắc, công dân phải xin phép nếu muốn thay đổi chỗ ở. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều người tiếp tục chuyển đi nơi khác mà không hề được chấp thuận, đặc biệt là những người di cư hoặc những người lao động lưu động, từ nông thôn ra thành phố tìm việc làm. Việc dời đi mà không được phép gây cản trở cho người dân khi xin phép cư trú hợp pháp. Theo luật pháp, những người nước ngoài có hộ chiếu phải đăng ký ở riêng; và các nhà chức trách địa phương đôi khi không cho phép du khách nước ngoài được ở cùng bạn bè và gia đình. Công dân phải đăng ký với công an địa phương nếu muốn ở qua đêm tại bất cứ ở đâu ngoài nhà riêng của họ; Chính phủ có vẻ như cưỡng chế thi hành những quy định này gắt gao hơn ở một số huyện ở Tây Nguyên và Tây Bắc. Trong tháng 5, hai công dân nước ngoài đã bị nhà chức trách địa phương bắt giữ tại tỉnh Gia Lai hai ngày và sau đó bị phạt vì đã có mặt ở khu vực cấm và sau đó được thả. Công an ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, dựa trên quy định này, giam giữ nhóm các chức sắc nhà thờ tại gia người Hmông tham gia vào hội nghị nghiên cứu kinh thánh bí mật và đưa họ trở về tỉnh nhà (Xem phần 2.c).

Khác với những năm trước đây, Chính phủ đã cho phép các chuyến thăm tìm hiểu thực tế của Cao ủy Liên Hợp Quốc về người Tị nạn (UNHCR) và nhân viên các phái đoàn ngoại giao nước ngoài đến Tây Nguyên. Nhìn chung, những chuyến thăm này đều bị giám sát chặt chẽ nhưng không bị các nhà chức trách địa phương gây trở ngại. Chính quyền đã cho phép UNHCR và nhân viên các phái đoàn ngoại giao tiếp cận những người dân địa phương mà họ quan tâm.

Mặc dù Chính phủ không còn yêu cầu công dân ra nước ngoài phải xin thị thực xuất nhập cảnh, song đôi khi Chính phủ vẫn từ chối, không cấp hộ chiếu. Trước đây, Chính phủ không cho một số người ra nước ngoài nếu công khai hoặc bày tỏ ý kiến chỉ trích của cá nhân về những vấn đề chính trị hoặc tôn giáo; tuy nhiên, trong năm qua, người bất đồng chính kiến Hoàng Minh Chính đã được ra nước ngoài chữa bệnh, và nhà văn bất đồng chính kiến Dương Thu Hương cũng đã đi nước ngoài. Sau khi trở về Hà Nội tháng 12, ông Chính đã bị sách nhiễu và tài sản của ông đã bị nhiều nhóm bất đồng về những lời nhận xét chống Chính phủ đập phá trong khi ông ở nước ngoài. Có tin cho hay các nhà chức trách đã ngăn cản nhà hoạt động chính trị Trần Khuê sang châu Âu và Hoa Kỳ.

Việc công dân xin cấp hộ chiếu đôi lúc bị cản trở bởi những nhân tố như hối lộ và tham nhũng. Những người xin visa nhập cư hoặc tị nạn đôi khi gặp phải các cán bộ địa phương tùy tiện trì hoãn hoặc từ chối cấp hộ chiếu vì tư thù, vì cho rằng người xin cấp hộ chiếu không đáp ứng đủ tiêu chuẩn, hoặc để đòi hối lộ. Một số thành viên gia đình người dân tộc thiểu số được hưởng quy chế tị nạn ở nước ngoài được cấp lại giấy đăng ký hộ tịch trong đó không có tên của thành viên đã ra đi, một bước tiến cho phép những thành viên còn lại trong gia đình được cấp hộ chiếu. Trong những trường hợp khác, thành viên các gia đình tị nạn không thể xin được hộ chiếu để đoàn tụ ở nước ngoài. Các tỉnh Tây Nguyên ngoại trừ Đắc Lắc nhìn chung đã có nhiều tiến bộ trong việc giải quyết các trường hợp đoàn tụ gia đình liên quan đến người dân tộc thiểu số.

Hiến pháp không quy định về việc bị cưỡng ép lưu đày trong nước hoặc ở nước ngoài; tuy nhiên trên thực tế có những trường hợp chẳng khác gì lưu đày. Năm 2003, một số chức sắc Giáo hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam bị buộc phải trở lại chùa của họ và bị quản thúc chính thức hoặc không chính thức ở đó (Xem phần 2.c.). Mục sư Tin Lành Nguyễn Lập Ma bị buộc phải cư trú tại một ngôi làng xa xôi hẻo lánh ở tỉnh Cần Thơ từ năm 1982, tuy nhiên các nhà chức trách đã cho phép ông được tới Thành phố Hồ Chí Minh để kiểm tra sức khoẻ hàng tháng kể từ khi ông bị đột quỵ năm 1998. Một mục sư Tin Lành khác, Nguyễn Nhất Thông, bị buộc phải cư trú tại một ngôi làng xa xôi hẻo lánh ở tỉnh Bình Thuận từ năm 1979. Ông đã được phép đi lại bên ngoài ngôi làng từ năm 1986, nhưng lần nào cũng phải xin phép các nhà chức trách địa phương. Tháng 1, mục sư Tin Lành Trần Đình Ái, một công dân Việt Nam và là một người thường xuyên phê bình Chính phủ, hiện đang sinh sống ở nước ngoài, đã không được nhập cảnh. Khi ông cố gắng về nước trong tháng 12, ông đã bị khước từ nhập cảnh và quay trở lại Singapore nơi ông đã xuất phát.

Hoa Kỳ tiếp tục giải quyết các đơn xin tiếp nhận và tái định cư cho những người nhập cư và xin tị nạn, bao gồm người Mỹ gốc Á, những người từng bị giam giữ trong các trại cải tạo, những người từng là nhân viên trong chính quyền Mỹ, các trường hợp đoàn tụ gia đình, và những người trở về từ các trại tị nạn đầu tiên ở những nơi khác trong khu vực (theo chương trình Cơ hội Định cư cho những người Việt Nam trở về). Khoảng một thập kỷ trước đây, hầu hết những chương trình này đã ngừng tiếp nhận những đơn mới, với số lượng các trường hợp trong một số loại hình hiện nay chỉ còn đếm được trên đầu ngón tay. (Chương trình người Mỹ gốc Á là một ngoại lệ, hiện chương trình vẫn tiếp nhận những đơn mới; mặc dù vậy vẫn phải chờ cho đến khi có những hướng dẫn mới).

Nhìn chung, Chính phủ cho phép công dân đã di cư ra nước ngoài được trở về thăm quê hương. Về nguyên tắc, Chính phủ coi tất cả những người sinh ra trên lãnh thổ đều là công dân, ngay cả khi họ mang quốc tịch nước khác, trừ khi việc thôi quốc tịch chính thức được Chủ tịch nước chấp thuận. Tuy nhiên trên thực tế, Chính phủ thường coi người Việt Nam ở nước ngoài là công dân của nước tiếp nhận họ. Những người di cư không được phép dùng hộ chiếu Việt Nam sau khi đã nhập quốc tịch khác. Nhìn chung Chính phủ khuyến khích những người này trở về thăm quê hương, nhưng đôi khi cũng theo dõi họ rất sát sao.
Sau những vụ biểu tình tháng 4/2004 ở Tây Nguyên, một số người Thượng đã trốn trong rừng và các đồn điền cao su, một số cố vượt biên giới sang Cămpuchia. Công an Việt Nam cố chặn những người có khả năng trở thành người tị nạn này và có tin là họ đã vượt biên giới sang Cămpuchia. Cao ủy Liên Hợp Quốc về người Tị nạn (UNHCR) ước tính cho khoảng 775 người dân tộc thiểu số tị nạn trong các trại ở Cămpuchia. 13 người có khả năng trở thành người tị nạn được UNHCR ở Phnom Penh bảo vệ đã trở về Việt Nam một cách độc lập hồi tháng 10. Theo các nhà chức trách Việt Nam, 13 người này đã trở về nhà an toàn. Tuy nhiên, báo chí sau đó đã đưa ra những bằng chứng rõ ràng là 13 người này đã bị các nhà chức trách xét hỏi rất kỹ khi trở về.

Ngày 25/1, Chính phủ đã ký Biên bản Ghi nhớ ba bên về việc giải quyết các vấn đề liên quan đến người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên tại Cămpuchia với Chính phủ Cămpuchia và UNHCR nhằm tạo điều kiện hồi hương tất cả những người dân tộc thiểu số còn lại ở Cămpuchia sau khi không đủ điều kiện tái định cư ở nước thứ ba. Sau khi có văn bản này, hơn 140 người dân tộc thiểu số đã trở về Việt Nam. Ngày 20/7, 94 cá nhân không được quy chế tị nạn đã bị trục xuất về Việt Nam. Chính điều đó đã khiến cộng đồng quốc tế ngày càng kêu gọi cho phép tiếp cận để theo dõi ở Tây Nguyên. Sau khi đến Tây Nguyên, UNHCR và nhiều nhà ngoại giao nước ngoài đã được phép thăm những người trở về. Trong tháng 9, UNHCR đã được phép đi cùng một số cá nhân khi từ biên giới trở về Tây Nguyên và tiến hành theo dõi bổ sung. Các nhà chức trách ở trung ương và địa phương đã nhấn mạnh rằng họ đã cố gắng tái hòa nhập những người hồi hương một cách hòa bình. Tuy nhiên, có vài tỉnh đã không cho phép một số nhà quan sát nước ngoài được tiếp cận những người hồi hương để xem xét những bản báo cáo riêng lẻ về tình trạng lạm dụng hoặc phân biệt đối xử đối với người hồi hương. Đã có thêm 400 người dân tộc thiểu số ở Cămpuchia nhận được quy chế tái định cư ở nước thứ ba.

Bảo vệ người tị nạn

Việt Nam không tham gia Công ước của Liên Hợp Quốc năm 1951 về Quy chế người Tị nạn hay Nghị định thư của Công ước này năm 1967. Tháng 7/2004, Chính phủ cho phép hơn 450 người Bắc Triều Tiên có mặt bất hợp pháp ở Việt Nam được sang Hàn Quốc. Các báo cáo chưa được khẳng định từ các tổ chức phi chính phủ quốc tế trong tháng 8/2004 cho biết có khoảng 100 người tị nạn Bắc Triều Tiên đã bị buộc phải quay trở lại Trung Quốc. Trong các vụ việc diễn ra tháng 12/2004 và tháng 7/2005, một vài người Bắc Triều Tiên xin tị nạn đã vào một số cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài tại Hà Nội. Chính phủ đã cho phép các cơ quan ngoại giao nêu trên tạo điều kiện cho những người Bắc Triều Tiên nêu trên sang nước thứ ba. Tuy nhiên, sau vụ việc diễn ra trong tháng 7, Chính phủ đã ra thông tư gửi các cơ quan đại diện ngoại giao và tổ chức quốc tế kêu gọi họ trao trả cho các nhà chức trách địa phương bất kỳ công dân của nước thứ ba nào đột nhập vào cơ quan và là những đối tượng mà Chính phủ coi là vi phạm luật xuất nhập cảnh. Đến cuối năm vừa qua không có báo cáo nào về việc Chính phủ viện dẫn chính sách mới này.

Phần 3: Tôn trọng các quyền chính trị: Quyền của công dân được thay đổi Chính phủ của họ

Hiến pháp không quy định công dân có quyền thay đổi Chính phủ của mình một cách hòa bình. Công dân không được tự do lựa chọn và thay đổi pháp luật và các nhà chức trách quản lý họ. Tất cả thẩm quyền và quyền lực chính trị thuộc về Đảng Cộng sản, và Hiến pháp quy định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Các phong trào phản đối chính trị và các đảng phái chính trị khác là bất hợp pháp. Bộ Chính trị, dưới sự lãnh đạo của bộ ba gồm Tổng Bí thư Đảng Nông Đức Mạnh, Chủ tịch nước Trần Đức Lương và Thủ tướng Phan Văn Khải, là cơ quan hoạch định quyết sách tối cao, mặc dù về mặt pháp lý cơ quan này phải báo cáo với Trung ương Đảng.

Chính phủ tiếp tục hạn chế việc phê phán và tranh luận công khai về một số khía cạnh liên quan tới hiệu quả làm việc của cá nhân, nhà nước hoặc của đảng do chính Đảng Cộng sản quyết định. Không ai được phép công khai thách thức tính hợp pháp của Nhà nước đơn đảng; tuy nhiên đã có một số trường hợp công dân, kể cả những người từng là thành viên cao cấp của đảng, viết những lá thư không được cho phép để chỉ trích Chính phủ, những lá thư này được phát tán công khai.

Bầu cử và tham gia chính trị

Các cuộc bầu cử gần đây nhất nhằm lựa chọn đại biểu Quốc hội đã được tổ chức năm 2002. Các cuộc bầu cử này không tự do và cũng không công bằng vì tất cả các ứng cử viên đều đã được lựa chọn và được Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thuộc Đảng Cộng sản Việt Nam - một tổ chức giám sát tất cả các tổ chức đoàn thể ở Việt Nam - kiểm tra lý lịch. Do đó, 90% các đại biểu Quốc hội là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Những người không phải là đảng viên thì chỉ độc lập trên danh nghĩa.

Những sửa đổi trong Luật bầu cử Đại biểu Hội đồng Nhân dân, được Quốc hội thông qua năm 2003, làm tăng thêm số ứng cử viên là nữ và người dân tộc thiểu số, nhiều ứng cử viên hơn vào các chức vụ, và bớt số ghế đảng viên trong các cuộc bầu cử hội đồng nhân dân ở tất cả các cấp. Tuy nhiên, đối với cuộc bầu cử hội đồng nhân dân năm 2004, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam do đảng kiểm soát lại thông qua danh sách tất cả các ứng cử viên, như đã làm với các cuộc bầu cử Quốc hội và Hội đồng Nhân dân cấp tỉnh. Mặc dù bỏ phiếu không phải là bắt buộc, nhưng các cán bộ phụ trách công tác bầu cử áp dụng rất nhiều biện pháp để thuyết phục công dân đi bỏ phiếu, kể cả sử dụng hệ thống loa phát thanh công cộng để yêu cầu đích danh những công dân đi bỏ phiếu muộn tới các địa điểm bỏ phiếu. Chính phủ khẳng định 99,7% cử tri đi bỏ phiếu trong cuộc bầu cử hội đồng nhân dân hồi tháng 4/2004. Bỏ phiếu thay, mặc dù là bất hợp pháp, song dường như rất phổ biến. Bên cạnh đó, hầu hết việc bỏ phiếu kết thúc vào lúc 10h sáng, mặc dù các địa điểm bỏ phiếu được yêu cầu phải mở tới 7 giờ tối.

Quốc hội, mặc dù chịu sự kiểm soát của Đảng Cộng sản (tất cả thành viên cao cấp của Quốc hội và 90% thành viên là Đảng viên), ngày càng trở thành diễn đàn để bày tỏ các mối quan tâm của địa phương và các tỉnh và là cơ quan chỉ trích tình trạng tham nhũng và không hiệu quả; đồng thời cũng là diễn đàn để tranh luận về tiến độ cải thiện tính minh bạch trong hệ thống luật pháp. Trước đây, Quốc hội không tự xây dựng và thông qua được những luật mà Đảng phản đối; tuy nhiên, lần đầu tiên, Quốc hội đã dự thảo dự luật độc lập trong năm qua. Các quan chức Đảng Cộng sản nắm giữ hầu hết các vị trí then chốt trong Chính phủ và Quốc hội và tiếp tục có tiếng nói quyết định đối với các vấn đề chủ chốt. Các đại biểu Quốc hội tiếp tục chất vấn và chỉ trích các bộ trưởng, và lần đầu tiên bao gồm cả Thủ tướng, trong các kỳ họp của Quốc hội được tiến hành hai lần trong năm và được truyền hình trực tiếp.

Luật pháp quy định phụ nữ và người dân tộc thiểu số được tham gia bình đẳng vào chính trị. Phụ nữ đã nắm giữ một số chức vụ quan trọng trong chính quyền, kể cả chức Phó Chủ tịch nước. Trong số 498 ghế ở Quốc hội, phụ nữ chiếm 136 ghế; có ba phụ nữ nắm giữ chức bộ trưởng; tuy nhiên trong Bộ Chính trị lại không có thành viên nữ nào. Ở cấp tỉnh chỉ có vài phụ nữ được nắm giữ các chức vụ lãnh đạo.

Các thành viên người dân tộc thiểu số chiếm 87 ghế trong Quốc hội và có hai người dân tộc thiểu số đang nắm giữ chức vụ trong nội các. Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam là người dân tộc Tày; tuy nhiên số lượng người thiểu số trong ngành hành pháp hoặc trong đảng không phản ánh chính xác tỉ lệ (15%) của họ trong dân số.

Tình trạng tham nhũng và tính minh bạch trong Chính phủ

Tham nhũng tiếp tục là một vấn đề lớn. Chính phủ công khai những nỗ lực chống tham nhũng, kể cả công khai ngân sách ở các cấp chính quyền và làm cho các biện pháp giám sát chính quyền có hiệu quả hơn. Trường hợp cán bộ bị cáo buộc tham nhũng được đưa tin rộng rãi. Ví dụ, trong tháng 7, các phương tiện thông tin đại chúng đã ráo riết đưa tin về quyết định chính thức điều tra Thứ trưởng Thương mại Mai Văn Dâu bị bắt tháng 11/2004 vì bị cáo buộc nhận hối lộ để cấp hạn ngạch cho một số công ty dệt may. Trong tháng 10, Bộ Công an đã yêu cầu Tòa án công khai kết tội tham nhũng đối với Nguyễn Quang Thường và năm cựu quan chức cao cấp khác của Petro Việt Nam và Vietsopetro, do “cố tình vi phạm các quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” và “thiếu tinh thần trách nhiệm, gây hậu quả nghiêm trọng” (xem phần 1.e). Nguyễn Quang Thường, Phó Tổng giám đốc Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam, đã bị bắt tháng 6/2004 vì bị cáo buộc nhận hối lộ 400.000 đô-la để chấp thuận một hợp đồng thiết bị giả mạo có trị giá 17 triệu đô-la cho một giàn khoan ở ngoài khơi thuộc Vietsopetro – liên doanh dầu khí hàng đầu giữa Việt Nam và Nga.

Theo Luật Ban hành Văn bản Quy phạm Pháp luật sửa đổi, Công báo đăng tải hầu hết các văn bản pháp lý trên các số ra hàng ngày. Các văn bản của Đảng như Nghị quyết của Bộ Chính trị không được đăng tải trên Công báo.

Phần 4 Thái độ của Chính phủ trước sự điều tra của các tổ chức quốc tế và phi chính phủ về những vụ bị cáo buộc là vi phạm nhân quyền

Chính phủ không cho phép thành lập và đưa vào hoạt động các tổ chức nhân quyền của địa phương, hoặc của cá nhân. Chính phủ nhìn chung không dung thứ cho những tổ chức hoặc cá nhân nào muốn phê bình công khai về tình hình nhân quyền và sử dụng rất nhiều biện pháp để trấn áp việc phê phán ở trong nước về các chính sách nhân quyền của Chính phủ, kể cả theo dõi, hạn chế quyền tự do hội họp, can thiệp vào các cuộc tiếp xúc cá nhân và giam giữ.

Nhìn chung, Chính phủ cấm công dân không được tiếp xúc với các tổ chức nhân quyền quốc tế, mặc dù một số nhà hoạt động đã tiếp xúc với họ. Chính phủ thường không cho phép các nhà giám sát nhân quyền của các tổ chức phi chính phủ quốc tế được tới thăm Việt Nam; tuy nhiên vào tháng 8, tháng 9 và tháng 11 Chính phủ đã cho phép đại diện giới báo chí, Cao ủy Liên Hợp Quốc về người tỵ nạn, các Chính phủ nước ngoài, các tổ chức phát triển quốc tế và các tổ chức phi chính phủ làm công việc cứu trợ được tới thăm Tây Nguyên. Chính phủ chỉ trích hầu hết những tuyên bố công khai về các vấn đề nhân quyền của các tổ chức phi chính phủ quốc tế và các Chính phủ nước ngoài. Tuy nhiên vào ngày 18/8 thì lần đầu tiên Chính phủ đã công khai phản ứng trước phê bình của thế giới về báo cáo nhân quyền của Việt Nam bằng cách xuất bản một cáo bạch nói rõ những nỗ lực của Việt Nam trong việc cải thiện tình hình nhân quyền nói chung.

Nhìn chung, Chính phủ sẵn sàng thảo luận song phương với các Chính phủ nước ngoài về các vấn đề nhân quyền và trong năm vừa qua, một số Chính phủ nước ngoài đã tổ chức các cuộc đàm phán chính thức về nhân quyền với Chính phủ Việt Nam.

Phần 5: Phân biệt đối xử, ngược đãi về mặt xã hội và nạn buôn người

Luật pháp cấm phân biệt đối xử vì lý do giới tính, sắc tộc, tôn giáo hoặc tầng lớp xã hội; tuy nhiên việc cưỡng chế thi hành những quy định này không đồng đều. Một số người trước đây bị đi trại cải tạo vì có quan hệ với chính quyền trước năm 1975 tiếp tục cho biết có tình trạng phân biệt đối xử ở những mức độ khác nhau khi họ và gia đình muốn mua nhà cửa, muốn được học hành và có việc làm. Một số cựu chiến binh của chính quyền thời kỳ trước 1975 vẫn gặp khó khăn về kinh tế do những hạn chế về việc làm trước đây và bị phân biệt đối xử, tuy nhiên chúng ta đều biết rằng không ai còn bị giam giữ vì những hoạt động trước năm 1975. Những cựu chiến binh này và gia đình của họ nhìn chung không có khả năng tìm được công ăn việc làm trong Chính phủ. Quy định cấm này đã được nới lỏng hơn so với những năm trước vì sự gia tăng cơ hội việc làm trong khu vực tư nhân.

Phụ nữ

Bộ luật Hình sự quy định khung hình phạt từ cảnh cáo tới bỏ tù hai năm đối với “những người đối xử tàn bạo với những người phụ thuộc vào họ”; tuy nhiên, công an và hệ thống luật pháp nhìn chung không được trang bị để xử lý những vụ bạo lực trong gia đình. Các quan chức ngày càng thừa nhận tình trạng bạo lực trong gia đình và vấn đề này cũng được thảo luận ngày càng công khai trên các phương tiện truyền thông. Theo báo cáo thì bạo lực gia đình đối với phụ nữ diễn ra phổ biến nhưng không có con số thống kê chắc chắn nào cho chúng ta biết mức độ của vấn đề này. Những đường dây nóng dành cho các nạn nhân của tình trạng bạo lực gia đình do các tổ chức phi chính phủ trong nước thiết lập hiện đã có ở một số thành phố lớn. Không có báo cáo nào cho thấy công an hay cơ quan tư pháp thờ ơ trước những vụ bạo lực gia đình. Trong năm qua Chính phủ đã không có những hành động đặc biệt gì chống lại tội cưỡng hiếp. Có nguồn tin cho rằng khoảng 2/3 số vụ ly hôn một phần là do bạo lực trong gia đình. Tỷ lệ ly hôn gia tăng trong những năm vừa qua, tuy nhiên nhiều phụ nữ thà chịu đựng tình trạng hôn nhân bị lạm dụng hơn là phải đối mặt với nỗi nhục của gia đình và xã hội và những bất ổn về kinh tế sau khi ly hôn.
Sử dụng bạo lực, đe dọa bạo lực, lợi dụng người khác khi họ không có khả năng tự vệ, hoặc dùng các mánh khóe để xâm hại tình dục người khác khi họ không đồng ý được coi là một tội danh. Quy định này có vẻ như hình sự hóa việc hiếp dâm, cưỡng dâm vợ và trong một số trường hợp là quấy rối tình dục; tuy nhiên không có trường hợp nào được biết là đã bị truy tố vì cưỡng dâm vợ hay quấy rối tình dục.

Theo luật thì mại dâm bị coi là bất hợp pháp nhưng việc thực thi quy định định này không giống nhau ở các địa phương. Các con số ước tính khác nhau rất nhiều, tuy nhiên một số tổ chức phi chính phủ ước tính có khoảng 300.000 người hành nghề mại dâm trên cả nước, kể cả những người hành nghề mại dâm theo mùa hoặc không chuyên nghiệp. Cũng như báo cáo của các năm trước, một số phụ nữ bị ép làm gái mại dâm và thường là nạn nhân của những lời hứa hão về những công việc béo bở (xem phần 5, Buôn người). Nhiều phụ nữ khác cảm thấy họ bị buộc phải làm gái bán dâm vì nghèo đói và không có cơ hội kiếm việc làm khác. Năm 2003 có những báo cáo cho biết một số người ở Thành phố Hồ Chí Minh đã đẩy những phụ nữ trẻ vào con đường nghiện ngập ma túy và buộc họ phải bán dâm để lấy tiền mua thuốc (xem phần 5, Trẻ em). Cũng có những báo cáo cho biết một số bậc cha mẹ còn ép buộc con gái làm mại dâm hoặc bắt họ phải kiếm thật nhiều tiền, từ đó đẩy họ vào con đường bán dâm do cha mẹ thường cho rằng con gái lớn của họ phải gánh vác phần lớn trách nhiệm kiếm tiền cho gia đình. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam cũng như các tổ chức phi chính phủ quốc tế tích cực tham gia vào các chương trình giáo dục và hồi phục nhân phẩm để đấu tranh chống lại những vụ lạm dụng này.

Mặc dù không có phân biệt đối xử về luật pháp nhưng phụ nữ luôn phải chịu đựng sự phân biệt đối xử trong xã hội. Mặc dù các cơ quan lập pháp và các quy định đều bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong hôn nhân cũng như tại nơi làm việc và luật lao động quy định đối xử ưu tiên với phụ nữ nhưng phụ nữ không phải lúc nào cũng được đối xử bình đẳng. Tuy vậy, phụ nữ đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế và đã tham gia rất nhiều vào công việc kinh doanh cũng như trong các tổ chức xã hội và giáo dục. Cơ hội dành cho phụ nữ trẻ có chuyên môn đã gia tăng đáng kể trong vài năm qua, với số lượng đông đảo hơn phụ nữ vào làm việc và học tập trong các trường đại học, khu vực tư nhân và hành chính công.

Hội Liên hiệp Phụ nữ do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quản lý có chương trình nghị sự rộng lớn nhằm thúc đẩy quyền của phụ nữ, bao gồm quyền bình đẳng về chính trị, kinh tế, và pháp lý, và được bảo vệ nếu bị chồng lạm dụng. Hội Liên hiệp Phụ nữ đã có những chương trình cho vay tín dụng quy mô nhỏ và các chương trình khác nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của phụ nữ. Các tổ chức phi chính phủ quốc tế và các tổ chức quốc tế khác xem hoạt động của Hội Liên hiệp là rất có hiệu quả, tuy nhiên các tổ chức này và đại diện của Hội Liên hiệp Phụ nữ cho rằng cần phải có thời gian để thay đổi quan niệm xã hội cho rằng phụ nữ có địa vị thấp hơn nam giới. Chính phủ cũng có một ủy ban phụ trách vấn đề tiến bộ của phụ nữ, và cơ quan này điều phối các chương trình liên bộ về phụ nữ.

Trẻ em

Các tổ chức quốc tế và các cơ quan chính phủ báo cáo rằng, mặc dù Chính phủ tăng cường việc bảo vệ và chăm sóc trẻ em, nhưng trẻ em vẫn có nguy cơ bị bóc lột vì mục đích kinh tế. Mặc dù giáo dục là bắt buộc đối với trẻ em đến tuổi 14, nhưng các nhà chức trách không thực hiện yêu cầu này, đặc biệt là ở những vùng nông thôn nơi mà ngân sách của chính quyền và gia đình giành cho giáo dục rất eo hẹp và trẻ em cần cho lao động nhà nông. Hầu hết các trường phải học hai ca, trẻ em có thể phải đi học buổi sáng hoặc buổi chiều. Một số trẻ em lang thang trên đường phố ở Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội được tham gia các lớp học ban đêm. Sự coi trọng giáo dục của nền văn hóa Việt Nam đã buộc các bậc phụ huynh, những người có thể đưa con đến trường, phải làm như vậy, còn hơn là cho chúng đi làm. Hệ thống trường công gồm 12 lớp. Hơn 90% trẻ em học tiểu học; tuy nhiên tỉ lệ học sinh khối trung học phổ thông và trung học thấp hơn nhiều. Mặc dù tuyển sinh trung học đã gia tăng đáng kể nhưng số học sinh trung học cơ sở đủ điều kiện vẫn chỉ dừng ở con số chưa đầy 75%, còn số học sinh trung học phổ thông là chưa đầy 50%. Ở các khu vực miền núi xa xôi hẻo lánh số lượng tuyển sinh ở tất cả các cấp học còn thấp hơn, mặc dù Chính phủ đã xây dựng hệ thống trường dân tộc nội trú dành cho học sinh trung học xuất sắc người dân tộc thiểu số. Chính phủ cũng có chương trình cử tuyển đặc biệt để cho người dân tộc thiểu số được học đại học. Mặc dù bị Chính phủ cấm nhưng các nhóm tôn giáo vẫn mở các trại trẻ mồ côi, và hàng ngày đưa trẻ em tới các trường công.
Chính phủ tiếp tục thực hiện chiến dịch tiêm chủng miễn phí trên toàn quốc. Giới báo chí do Chính phủ kiểm soát thường nhấn mạnh tầm quan trọng về sức khoẻ và giáo dục của trẻ em. Mặc dù các báo cáo từ các nguồn tin trong nước cho thấy dù cán bộ có trách nhiệm thực hiện nghiêm chỉnh những mục tiêu này, song những hành động cụ thể đã bị hạn chế do thiếu ngân sách nghiêm trọng. Theo Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF), mặc dù thu nhập có tăng lên trong thập kỷ qua, nhưng tình trạng suy dinh dưỡng nghiêm trọng vẫn là một vấn đề; trong giai đoạn 1995-2000 khoảng 39% trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng.

Không có thông tin về những vụ lạm dụng trẻ em.

Nghèo đói trên diện rộng dẫn đến tình trạng mại dâm trẻ em tiếp tục diễn ra ở những thành phố lớn, đặc biệt là các bé gái, và cả các bé trai. Rất nhiều người hành nghề mại dâm ở Thành phố Hồ Chí Minh dưới 18 tuổi. Một số mại dâm trẻ em, chẳng hạn như những đứa trẻ bị ngược đãi trong gia đình, bị buộc phải hành nghề mại dâm vì những lý do kinh tế.
Một số trẻ em bị bán trong nước còn một số khác bị bán ra nước ngoài vì mục đích bóc lột tình dục (xem phần 5, Buôn người).

Theo Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội cho đến tháng 2/2003 trên cả nước có khoảng 21.869 trẻ em lang thang. Trẻ em lang thang rất dễ bị lạm dụng và đôi khi bị cảnh sát lạm dụng và sách nhiễu. Các tổ chức phi chính phủ quốc tế dẫn chứng bằng tài liệu về nhiều trường hợp trẻ em Cămpuchia bị bán sang Thành phố Hồ Chí Minh để làm việc ngắn hạn trong các nhóm ăn xin.

Buôn người

Bộ luật Hình sự cấm buôn bán phụ nữ và trẻ em; tuy nhiên tình trạng buôn bán phụ nữ và trẻ em vì mục đích bóc lột tình dục là một vấn đề nghiêm trọng. Trong năm không có trường hợp nào được biết tới là buôn người vì mục đích lao động. Mặc dù không có những thống kê đáng tin cậy về số công dân bị bán, song có những bằng chứng cho thấy con số này đã gia tăng trong những năm gần đây. Vụ các Vấn đề Xã hội của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội và Cục Cảnh sát Hình sự, Bộ Công an là những cơ quan chính của Chính phủ đấu tranh chống nạn buôn người, với sự hợp tác của Bộ Tư pháp, Hội Liên hiệp Phụ nữ và Bộ đội Biên phòng. Trong năm, công an đóng vai trò ngày càng tích cực trong việc điều tra tình hình buôn người, kể cả việc thành lập một lực lượng đặc nhiệm chống buôn người và xây dựng hệ thống hồ sơ tội phạm.

Trong năm, Chính phủ đã tăng cường nỗ lực truy tố những kẻ buôn người. Luật pháp quy định mức tù từ 2 đến 20 năm cho mỗi tội danh đối với những kẻ bị phát hiện buôn bán phụ nữ, và từ 3 năm đến chung thân cho mỗi tội danh đối với những kẻ bị phát hiện buôn bán trẻ em. Hàng trăm kẻ buôn người đã bị kết án và bỏ tù. Chính phủ hợp tác với các tổ chức phi chính phủ quốc tế để hỗ trợ các biện pháp cưỡng chế thi hành luật và hợp tác với các Chính phủ khác nhằm ngăn chặn tình trạng buôn người. Chính phủ cũng hợp tác chặt chẽ với các quốc gia khác trong khuôn khổ của INTERPOL và các đối tác châu Á khác.

Việt Nam là xuất phát điểm của nạn buôn người. Phụ nữ chủ yếu bị bán sang Cămpuchia và Trung Quốc để khai thác mại dâm và bị ép vào cuộc hôn nhân đã được sắp đặt. Theo một báo cáo từ năm 1990 đến 2000, khoảng 20.000 phụ nữ trẻ và trẻ em gái đã bị đưa sang Trung Quốc để làm vợ, làm người giúp việc trong gia đình hoặc làm gái mại dâm; tuy nhiên, không rõ bao nhiêu người là nạn nhân của nạn buôn người. Cảnh sát Trung Quốc cho biết họ đã giải cứu hơn 1.800 nạn nhân tại biên giới Trung-Việt từ năm 2001 tới nay. Từ năm 1995 đến 2000, có khoảng 5.000 phụ nữ và trẻ em bị bán sang và đã trốn khỏi Cămpuchia. Một số phụ nữ cũng bị bán sang Singapore, Hồng Kông, Macao, Thái Lan, Đài Loan, Anh và Mỹ. Cũng có những báo cáo cho biết một số phụ nữ tới Đài Loan, Hồng Kông, Macao và Trung Quốc vì những cuộc hôn nhân đã được sắp đặt trước là nạn nhân của nạn buôn người. Chính phủ ước tính khoảng 10% phụ nữ có hôn nhân sắp đặt trước với những người đàn ông Trung Quốc có thể cũng là nạn nhân của nạn buôn người. Phụ nữ và trẻ em cũng bị buôn bán trong nước, thường là từ nông thôn ra thành thị. Trong năm, không có báo cáo nào về vụ buôn bán nam giới trưởng thành.

Một số trẻ em bị bán ở trong nước, những đứa trẻ khác thì bị bán ra nước ngoài vì mục đích mại dâm. Một nhân viên của tổ chức phi chính phủ ước tính độ tuổi trung bình của những bé gái bị bán là khoảng từ 15 đến 17. Một số báo cáo cho thấy những bé gái bị bán sang Cămpuchia thậm chí còn nhỏ tuổi hơn nữa.

Một số cá nhân cũng bị kết tội trong trường hợp cha mẹ nhận tiền và cho con mình đi làm con nuôi. Ngoài ra, có chứng cứ cho thấy rằng trẻ nhỏ và trẻ sơ sinh bị bắt cóc và bán cho bọn buôn người bên Trung Quốc. Trẻ em cũng bị bán sang các nước khác; vào tháng 9 báo chí cho biết trẻ em Việt Nam tới Anh bất hợp pháp đã trở thành nạn nhân của bọn tội phạm và bị lạm dụng, trong đó có cả việc bị ép phải làm việc trong nhà chứa, làm ăn xin, tham gia vào các băng nhóm tội phạm hay đi bán ma túy (xem phần 5, Trẻ em). Các tổ chức xã hội và tổ chức phi chính phủ vẫn có những chương trình hạn chế nhằm tái hòa nhập cộng đồng những trẻ em bị buôn bán. Trong năm qua, các chương trình nhằm bảo vệ và hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng các nạn nhân bị buôn bán thông qua hỗ trợ tâm lý xã hội và đào tạo nghề, các chương trình hỗ trợ nỗ lực phòng chống của quốc gia và khu vực đối với những người có nguy cơ cao vẫn tiếp tục được tổ chức tại miền Bắc Việt Nam.
Có những báo cáo cho biết một số phụ nữ từ Thành phố Hồ Chí Minh và đồng bằng sông Cửu Long kết hôn với người Đài Loan đã bị ép phải hành nghề mại dâm sau khi họ tới Đài Loan. Cũng có báo cáo về tình trạng buôn bán phụ nữ sang Đặc khu Hành chính Macao của Trung Quốc với sự hỗ trợ của các tổ chức ở Trung Quốc, những tổ chức này núp dưới vỏ bề ngoài là các trung tâm dịch vụ môi giới kết hôn, các tổ chức lao động quốc tế, và các đại lý du lịch. Sau khi đến nơi, phụ nữ bị đẩy vào tình trạng giống như nô lệ bị cưỡng ép; một số người bị buộc phải hành nghề mại dâm. Năm 2002, Chính phủ đã ngừng cấp giấy phép cho các dịch vụ môi giới hôn nhân và chuyển chức năng này cho Hội Liên hiệp Phụ nữ. Những dịch vụ này đã giúp sắp đặt hôn nhân giữa phụ nữ và người nước ngoài, chủ yếu là người Đài Loan. Các cán bộ chính quyền vẫn nói rằng khó có thể có được thông tin từ phía các quan chức Đài Loan về những trường hợp bị cáo buộc là buôn người ở Đài Loan.

Những phụ nữ nghèo và trẻ em gái tuổi vị thành niên, đặc biệt là ở nông thôn, là những đối tượng dễ bị bán nhất. Nghiên cứu của Bộ Công an và UNICEF cho thấy những nạn nhân của nạn buôn người có thể ở khắp mọi nơi trên cả nước, tuy nhiên tập trung chủ yếu ở các tỉnh biên giới phía bắc và phía nam cũng như ở tỉnh miền trung Thanh Hóa. Một số bị gia đình bán đi làm người giúp việc hoặc để khai thác mại dâm. Trong một số trường hợp, những kẻ buôn người trả cho gia đình vài trăm đô-la để cho con cái họ sang Cămpuchia “làm việc”. Nhiều nạn nhân phải chịu áp lực lớn, phải đóng góp nhiều vào thu nhập của gia đình. Những người khác được người quen chào mời làm những công việc béo bở. Lừa phỉnh, vòng nợ nần, tịch thu giấy tờ và đe dọa trục xuất là những biện pháp khác mà những kẻ buôn người, người chồng và các chủ lao động thường sử dụng.

Những kẻ cơ hội và những mạng lưới ngầm, cũng như một số nhóm có tổ chức đã lôi kéo những phụ nữ nghèo thường là ở nông thôn bằng những lời hứa về việc làm hoặc hôn nhân và ép họ phải làm gái bán dâm (Xem phần 5, Phụ nữ). Chính phủ khẳng định rằng các nhóm tội phạm có tổ chức có dính líu đến việc tuyển chọn, trung chuyển và các hoạt động liên quan đến buôn người khác.

Không có trường hợp nào cho thấy các cơ quan chính phủ và lực lượng an ninh hỗ trợ hay bỏ qua nạn buôn người. Tuy nhiên, Chính phủ vẫn chịu vấn nạn tham nhũng triền miên và vấn nạn này đặc biệt nghiêm trọng trong lực lượng cảnh sát tuần tra đường phố và canh giữ biên giới.

Các tổ chức chính quyền, kể cả Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn thanh niên và ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em, đã có những chương trình tích cực nhằm ngăn chặn và bảo vệ nạn nhân. Những chương trình này bao gồm cảnh báo cho phụ nữ và trẻ em gái những nguy cơ này, các chương trình hồi hương và đào tạo phổ thông cho trẻ em gái tuổi vị thành niên trong các cộng đồng được xem là đối tượng của nạn buôn người. Các cơ quan chính phủ hợp tác chặt chẽ với Tổ chức Di cư Quốc tế và các tổ chức phi chính phủ quốc tế khác để cung cấp chỗ ở tạm thời, một số dịch vụ y tế, giáo dục, tín dụng, tư vấn và phục hồi nhân phẩm cho những nạn nhân của nạn buôn người đã trở về. Trong năm qua, các cơ quan an ninh có trách nhiệm kiểm tra biên giới cũng đã được đào tạo các kỹ năng điều tra để có thể áp dụng trong việc ngăn chặn nạn buôn người.

Người khuyết tật

Luật pháp quy định Nhà nước phải bảo vệ quyền lợi và khuyến khích tạo công ăn việc làm cho người khuyết tật; tuy nhiên quy định về những dịch vụ dành cho người khuyết tật lại rất hạn chế. Các cơ quan chính phủ đã hợp tác với các tổ chức trong nước và nước ngoài để bảo vệ, hỗ trợ, tiếp cận, giáo dục và cung cấp việc làm. Chính phủ điều hành một mạng lưới nhỏ các trung tâm phục hồi chức năng để chữa bệnh nội trú lâu dài bằng liệu pháp vật lý.

Trẻ em tàn tật có rất ít cơ hội học hành, tuy nhiên tình hình cũng đang được cải thiện. Chỉ có trên 10% trẻ em tàn tật được tuyển vào trường học. Trong năm, Chính phủ hợp tác với các quốc gia tài trợ và các tổ chức phi chính phủ quốc tế đào tạo giáo viên bổ sung để dạy trẻ em khuyết tật.

Luật pháp quy định dành ưu tiên cho các công ty tuyển dụng người khuyết tật để đào tạo hoặc học nghề và phạt những công ty nào không giành số lượng tối thiểu từ 2 đến 3% lực lượng lao động của họ cho công nhân là người khuyết tật; tuy nhiên Chính phủ thực hiện những quy định này không đồng bộ. Những công ty nào có 51% nhân công là người khuyết tật sẽ nhận được vốn vay đặc biệt do Chính phủ trợ cấp. Trong năm qua, Chính phủ đã dành 750.000 đô-la Mỹ (12 tỷ đồng) cho việc đào tạo nghề cho người khuyết tật. Năm 2002, Bộ Xây dựng đã ban hành Bộ luật thiết kế và xây dựng không cản trở và “những tiêu chuẩn về lối đi dành cho người khuyết tật”, yêu cầu việc xây dựng hoặc trùng tu những tòa nhà mới của Chính phủ và những tòa nhà công cộng lớn phải có lối đi riêng dành cho người khuyết tật. Bộ Xây dựng đã truyền đạt cho các kiến trúc sư và các kỹ sư những quy định mới. Trong năm qua Chính phủ cũng đã thành lập hai cơ quan thực thi cấp tỉnh để giám sát hỗ trợ việc thực thi những quy định mới này.

Các nhóm quốc tế cũng trợ giúp Chính phủ thực hiện các chương trình để những người khuyết tật có thể tiếp cận nhiều hơn nữa với giáo dục và việc làm.

Các dân tộc thiểu số/sắc tộc/dân tộc

Mặc dù Chính phủ chính thức cấm phân biệt đối xử với các dân tộc thiểu số, nhưng tình trạng phân biệt đối xử với người dân tộc thiểu số từ lâu vẫn phổ biến trong xã hội. Chính phủ tiếp tục thực hiện các chính sách thu hẹp khoảng cách mức sống giữa các nhóm thiểu số ở vùng cao và nhóm đa số người Kinh ở vùng đồng bằng, bằng cách ưu tiên cho các công ty trong nước và nước ngoài đầu tư vào vùng cao. Chính phủ cũng có những chương trình phát triển cơ sở hạ tầng cho các vùng dân tộc thiểu số rộng lớn và nghèo và thiết lập các chương trình mở rộng nông nghiệp cho những vùng nông thôn xa xôi hẻo lánh. Ở nhiều tỉnh Chính phủ có các trường học đặc biệt giành cho người dân tộc thiểu số, bao gồm các trường dân tộc nội trú được trợ cấp dành cho cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông, và các chương trình dự bị và tiếp nhận đặc biệt cũng như học bổng dành cho cấp đại học.

Chính phủ đã tái định cư một số dân tộc thiểu số, đưa họ ra khỏi những khu vực đi lại khó khăn, tới những địa điểm có các dịch vụ tối thiểu dễ dàng hơn; tuy nhiên, việc tái định cư đôi khi làm giảm bớt sự gắn kết về chính trị và xã hội của các nhóm này. Chính phủ thừa nhận rằng một trong những mục tiêu của việc tái định cư là bắt các dân tộc thiểu số thay đổi phương thức canh tác du canh du cư truyền thống, chuyển sang phương thức canh tác tại chỗ. Việc này cũng làm cho những nông trường quốc doanh và người Kinh thuộc nhóm đa số di cư tới các vùng miền núi có nhiều đất sản xuất hơn. Tháng 8 năm 2004, Chính phủ thông báo ngừng chương trình di cư do nhà nước tài trợ nhằm đưa người định cư tới Tây Nguyên, và tuyên bố hạn chế tình trạng di cư liên tục tới khu vực này. Tình trạng di cư quy mô lớn của người Kinh tới Tây Nguyên trong những năm qua đã gây ra rất nhiều vụ tranh chấp đất đai giữa họ và các hộ gia đình người dân tộc thiểu số. Việc đất đai truyền thống của người dân tộc thiểu số mất vào tay người Kinh di cư (thường là thông qua việc mua bán) là một nhân tố quan trọng đằng sau các vụ bạo động ở Tây Nguyên năm 2001 và năm 2004.

Một số người dân tộc thiểu số vẫn trốn sang Campuchia nhằm tìm kiếm cơ hội kinh tế tốt hơn và tránh căng thẳng sắc tộc và tôn giáo tại Tây Nguyên. Quan chức Chính phủ vẫn tiếp tục giám sát chặt chẽ một số dân tộc thiểu sốvùng cao, đặc biệt là dân tộc ở Tây Nguyên, do quan ngại rằng việc hình thành đạo Tin Lành mà họ đang theo sẽ kích thích ly khai. Người Hmong theo đạo Tin Lành ở các tỉnh Tây Bắc cũng được quan tâm đặc biệt và bị làm phiền khi theo đạo mà không được phép chính thức (xem mục 2.c.).

Chính phủ tiếp tục thực hiện một chương trình mở các lớp học bằng tiếng dân tộc cho đến lớp 5. Chính phủ hợp tác với cán bộ địa phương để xây dựng một chương trình giảng dạy bằng tiếng địa phương. Ở Tây Nguyên, chương trình này có vẻ được thực hiện một cách toàn diện hơn so với các tỉnh miền núi phía bắc khác. Ở một số khu vực Chính phủ cho phát sóng các chương trình phát thanh và truyền hình bằng tiếng dân tộc. Chính phủ cũng chỉ thị cho cán bộ người Kinh học tiếng địa phương nơi họ làm việc; tuy nhiên việc này không được tiến hành trên diện rộng. Chính phủ các tỉnh thực hiện các sáng kiến nhằm tăng công ăn việc làm, giảm khoảng cách thu nhập giữa các dân tộc thiểu số và người Kinh, Chính phủ cũng quan tâm và chấp nhận các truyền thống và văn hóa của dân tộc thiểu số.

Phân biệt đối xử và những ngược đãi xã hội khác

Không có bằng chứng về tình trạng phân biệt đối xử chính thức nào đối với người nhiễm HIV/AIDS; tuy nhiên, vẫn còn tình trạng phân biệt đối xử trong xã hội đối với những người này. Có nhiều báo cáo tin cậy cho biết người bị nhiễm HIV/AIDS bị mất việc hay bị phân biệt đối xử tại nơi làm việc hay bị phân biệt khi đi tìm nhà. Một số trường hợp trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS không được tới trường học.

Phần 6: Quyền của người lao động

a. Quyền lập hội

Người lao động không được tự do tham gia hoặc thành lập công đoàn. Công đoàn bị Đảng Cộng sản kiểm soát. Tất cả các công đoàn phải được Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam - một cơ quan do đảng kiểm soát - chấp thuận và phải là thành viên của Tổng Liên đoàn. Vào tháng 6, Tổng Liên đoàn công bố số lượng thành viên khoảng 5,2 triệu người, trong đó 71,9% làm trong các cơ quan nhà nước, 34,9% làm việc cho các doanh nghiệp nhà nước và 28,1% làm việc cho khu vực kinh tế tư nhân. Tổng Liên đoàn khẳng định rằng họ đại diện cho 95% cán bộ cơ quan nhà nước và 90% lao động trong các doanh nghiệp nhà nước. Khoảng 1,5 triệu công đoàn viên làm việc trong khu vực tư nhân, kể cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (hơn 600 ngàn người). Đa số lực lượng lao động sinh sống ở nông thôn, làm trang trại quy mô nhỏ, và không tham gia công đoàn. Số công đoàn viên chỉ chiếm 12% tổng số lực lượng lao động.

Lãnh đạo công đoàn có ảnh hưởng tới các quyết định chủ chốt, chẳng hạn như sửa đổi luật lao động, hình thành mạng lưới an sinh xã hội, quy định các tiêu chuẩn y tế, an toàn và mức lương tối thiểu. Tuy nhiên, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam khẳng định rằng các nhà chức trách không truy tố những vụ vi phạm Luật Lao động. Chẳng hạn như vào ngày 14/3, Liên hiệp Xí nghiệp Ô-tô (UMV) tại Hà Nội sa thải 80 công nhân tham gia đình công. Bộ Lao động-Thương binh-Xã hội và ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội đã chỉ thị Sở Lao động-Thương binh-Xã hội Hà Nội lập đoàn thanh tra UMV. Thanh tra kết luận rằng công ty đã vi phạm nhiều quy định của luật lao động như ký kết hợp đồng, bảo hiểm xã hội, quy định về làm việc, an toàn lao động, giảm lương sai luật và sa thải 80 công nhân. Ngoài ra UMV đã thuê 103 công nhân nước ngoài, chiếm khoảng 8% tổng số lao động, cao hơn 5% so với mức cho phép. Tất cả số công nhân nước ngoài đều không có giấy phép lao động. Do những sai phạm lao động này, Sở Lao động-Thương binh-Xã hội Hà Nội đã khuyến nghị phạt hành chính UMV và rút giấy phép đầu tư. Tuy nhiên, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội chỉ quyết định xử phạt hành chính 1.930 đô-la Mỹ (30 triệu đồng) và bỏ qua việc thuê nhân công nước ngoài và sa thải nhân công trái luật.

Mặc dù Bộ Luật Lao động khẳng định rằng tất cả công đoàn cấp doanh nghiệp và cơ quan chuyên môn đều là thành viên của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, nhưng trên thực tế hàng trăm “hiệp hội lao động” không phải là hội viên đã được hình thành tại rất nhiều doanh nghiệp tư nhân và trong các ngành nghề như lái xe tắc-xi, lái xe máy chở khách và lái xe xích-lô, những người nấu ăn và khuân vác ở chợ. ILO và UNDP đã hợp tác thực hiện một chương trình lớn kéo dài nhiều năm nhằm hỗ trợ kỹ thuật tăng cường thực thi luật lao động. Đây là các dự án khuyến khích sự thăng tiến của phụ nữ trẻ và cải thiện sức khoẻ và an toàn nghề nghiệp và các mục tiêu khác. ILO cũng đang thực hiện hai dự án nhằm xóa bỏ tình trạng lao động trẻ em và cải thiện quan hệ lao động, bao gồm đàm phán tập thể và giải quyết tranh chấp. Vào tháng 9, Bộ Lao động, Tổng Liên đoàn Lao động, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã lần đầu tiên cùng tổ chức buổi tọa đàm về quan hệ lao động. Vào cuối năm, VCCI đã xuất bản báo cáo đầu tiên của mình về quan hệ lao động ở Việt Nam. Các thành viên của VCCI và Chính phủ đã rất đồng ý với bản báo cáo này. Nhiều phần của báo cáo được dùng làm tài liệu giảng dạy cho giới chủ doanh nghiệp về quan hệ lao động và làm kiến nghị tới các cơ quan hoạch định chính sách. VCCI công bố dự định trong tương lai sẽ làm báo cáo này thường niên.

Về mặt pháp lý, các công đoàn tư nhân không được tự do trở thành hội viên, gia nhập hoặc tham gia vào các tổ chức lao động quốc tế, tuy nhiên Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam có quan hệ với 140 tổ chức lao động ở 91 nước và 20 Liên đoàn nghề nghiệp khu vực và quốc tế.

Luật Lao động cấm chủ lao động phân biệt đối xử đối với người lao động nếu người lao động muốn thành lập công đoàn. Các doanh nghiệp được yêu cầu phải hỗ trợ người lao động gia nhập công đoàn.

b. Quyền được tổ chức và đàm phán tập thể

Theo luật pháp, chi nhánh của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam ở các tỉnh, thành có trách nhiệm thành lập công đoàn trong vòng sáu tháng sau khi các doanh nghiệp mới được thành lập, và việc quản lý đòi hỏi phải có sự hợp tác với công đoàn. Bộ Luật Lao động quy định các công đoàn thành viên của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam được quyền đàm phán tập thể nhân danh người lao động.

Bộ Luật Lao động quy định quyền được đình công nếu công nhân tuân theo quy trình hòa giải và trọng tài đã được quy định. Luật pháp quy định người quản lý và người lao động trước hết phải cố gắng giải quyết những tranh chấp về lao động thông qua hội đồng hòa giải của chính doanh nghiệp. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp không có hội đồng hòa giải về lao động. Trong trường hợp không có hội đồng hòa giải hoặc hội đồng không giải quyết được vụ tranh chấp lao động thì vụ việc sẽ được chuyển tới trọng tài cấp quận và tỉnh để giải quyết. Cá nhân người lao động có thể trực tiếp đưa vụ việc ra tòa án nhân dân, tuy nhiên trong hầu hết các trường hợp, việc này chỉ diễn ra sau khi hòa giải được tiến hành nhưng thất bại. Công đoàn có quyền chống lại các quyết định của hội đồng trọng tài lao động tỉnh và đưa ra tòa án nhân dân tỉnh hoặc đình công. Do quá trình này kéo dài và các cơ quan giải quyết tranh chấp cần thiết ở nhiều tỉnh và địa phương chưa bao giờ được thành lập nên hầu hết các vụ đình công xét theo thủ tục pháp lý là bất hợp pháp. Theo Bộ Lao động-Thương binh-Xã hội, trong năm 1995 có gần một nghìn vụ đình công đã xảy ra trên khắp cả nước. Hầu hết các vụ đình công đều bị coi là bất hợp pháp theo luật đình công.

Theo Bộ Lao động, 147 vụ đình công đã xảy ra, tăng 22 vụ so với năm 2004. Trong số các vụ đình công thì 100 vụ ở các công ty có vốn đầu tư nước ngoài, 39 vụ ở các công ty tư nhân trong nước và 8 vụ ở công ty nhà nước. Vào tháng 5, gần 10 ngàn công nhân đã tổ chức một cuộc đình công 2 ngày tại Công ty Keyhing Toys chống lại việc phải làm 12 giờ/ngày mà không được hưởng tiền làm thêm giờ. Công nhân cũng phàn nàn rằng họ không có nước uống và chỉ được nghỉ ăn trưa 45 phút và tiền lương của họ sẽ bị trừ nếu họ đi vệ sinh quá hai lần một ngày và đi khám bệnh quá hai tiếng. Vào tháng 11 năm 2004, hàng trăm công nhân công ty may mặc King Ken ở Thành phố Hồ Chí Minh đã đình công do ông chủ người nước ngoài thay đổi cách trả lương. Theo báo cáo cuối năm 2004 của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, có tới 95% số vụ đình công trong năm là do chủ sử dụng lao động vi phạm luật.

Các cuộc đình công thường không tuân thủ quá trình bắt buộc về thương lượng và trọng tài và vì vậy thường có vấn đề về tính hợp pháp; tuy nhiên, Chính phủ thường khoan dung và không có hành động nào đối với những người đình công. Mặc dù Tổng Liên đoàn Lao động và các Liên đoàn Lao động trực thuộc không chính thức ủng hộ các cuộc đình công này nhưng Liên đoàn lao đông cấp tỉnh và địa phương ngầm ủng hộ. Luật lao động cấm trừng phạt người đình công và cũng chưa thấy có báo cáo nào về sự trừng phạt này. Trong một số trường hợp, Chính phủ kỷ luật người sử dụng lao động vì những hành động phi pháp của họ là nguyên nhân dẫn tới đình công. Chẳng hạn như vào ngày 3 tháng 5, chính quyền tỉnh Bình Dương đã xử phạt hành chính một doanh nghiệp nước ngoài 4.400 đô-la Mỹ (70 triệu đồng) do doanh nghiệp này nợ 63 ngàn đô-la Mỹ (1 tỷ đồng) tiền bảo hiểm xã hội của công nhân và chậm nộp số tiền bảo hiểm này.

Luật Lao động cấm đình công trong 54 khu vực kinh doanh và ngành nghề phục vụ nhân dân hoặc được Chính phủ cho là quan trọng đối với nền kinh tế quốc gia và quốc phòng. Một nghị định ra sau đó xác định những doanh nghiệp này là những doanh nghiệp liên quan đến: sản xuất điện, bưu chính viễn thông, giao thông đường sắt, đường thủy và hàng không; ngân hàng, công trình công cộng, công nghiệp dầu khí. Luật cũng trao cho Thủ tướng quyền giải tán một cuộc đình công bị cho là gây thiệt hại cho nền kinh tế quốc gia hoặc an toàn công cộng.

Những quy định lao động tương tự có hiệu lực đối với phần còn lại trên cả nước điều chỉnh số lượng ngày càng gia tăng các khu chế xuất và các khu công nghiệp. Cũng có bằng chứng cho thấy trong phạm vi các khu vực này Chính phủ thực thi các quy định về lao động một cách tích cực hơn so với bên ngoài.

c. Cấm lao động bắt buộc và cưỡng ép lao động

Luật Lao động cấm tất cả các hình thức lao động bắt buộc và cưỡng ép, kể cả lao động trẻ em; tuy nhiên có những báo cáo cho biết hàng nghìn trẻ em đã làm việc trong môi trường có tính chất bóc lột (Xem phần 6.d.). Một số phụ nữ bị ép phải hành nghề mại dâm (Xem phần 5).

Tù nhân luôn phải lao động nhưng được trả công rất ít hoặc không được trả gì cả. Họ sản xuất thực phẩm và những hàng hóa khác để sử dụng trực tiếp trong nhà tù hoặc đem bán ở các chợ địa phương, có tin là để mua các vật phẩm cho tù nhân.

Một nghị định của Chính phủ yêu cầu tất cả công dân nam từ 18 đến 45 tuổi và phụ nữ từ 18 đến 35 tuổi hàng năm phải tham gia lao động công ích 10 ngày; tuy nhiên nghị định này hiếm khi được thực hiện. Nghị định cũng cho phép công dân có thể làm việc gì đó thay thế hoặc trả một khoản phí nhỏ thay vì phải lao động.

Vào tháng 12, một đoàn công tác của Chính phủ đã hoàn thành cuộc điều tra kéo dài cả năm về lao động ép buộc và đang xem xét lại những quy định pháp lý liên quan tới lao động ép buộc.

d. Cấm lao động trẻ em và độ tuổi lao động tối thiếu

Lao động trẻ em là một vấn đề. Bộ Luật Lao động cấm hầu hết lao động trẻ em, nhưng cho phép có những ngoại lệ đối với một số loại công việc. Luật quy định độ tuổi lao động tối thiểu là 18 tuổi, tuy nhiên các doanh nghiệp có thể thuê trẻ em từ 15 đến 18 tuổi nếu công ty được các bậc cha mẹ và Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội cho phép. Tháng 3, Chính phủ báo cáo rằng khoảng 23.000 trẻ em ở độ tuổi từ 8 đến 14 đã làm việc bán thời gian hoặc làm trọn ngày, vi phạm Luật Lao động. Con số ước tính đó có thể thấp vì còn nhiều trẻ em nữa làm việc trong các khu vực không chính thức, thường là ở các trang trại của gia đình hoặc trong các doanh nghiệp của gia đình không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Lao động. Theo cuộc điều tra mức sống năm 2002-2003, khoảng 18% trẻ em tham gia vào các hoạt động kinh tế và trong số này thì 63% không đi học. Cuộc điều tra này cũng cho thấy 20,4% trẻ em nông thôn lao động so với 7,3% trẻ em thành thị lao động.

Theo luật, chủ lao động phải đảm bảo rằng công nhân dưới 18 tuổi không được làm những công việc nguy hiểm hoặc những công việc ảnh hưởng tới sự phát triển thể chất và trí tuệ của họ. Những ngành nghề bị cấm được quy định cụ thể trong Luật Lao động. Luật Lao động cho phép trẻ em từ 13 tuổi được đăng ký học tại các trung tâm đào tạo, một hình thức đào tạo hướng nghiệp. Trẻ em có thể làm việc tối đa là 7 tiếng/ngày và 42 giờ/tuần và phải được chăm sóc sức khoẻ đặc biệt.

Ở các vùng nông thôn, trẻ em chủ yếu lao động trong các trang trại của gia đình và những hoạt động nông nghiệp khác. Trong một số trường hợp chúng bắt đầu làm việc khi mới 6 tuổi và ở độ tuổi 15 chúng phải làm việc như người lớn. Ở thành thị, trẻ em cũng phải làm việc trong các doanh nghiệp nhỏ của gia đình. Theo điều tra mức sống năm 2002-2003, tỷ lệ trẻ em tham gia tham gia lao động tại gia đình hay cơ sở kinh doanh cá thể là 88,5%, còn tỷ lệ trẻ lao động có thu nhập là 11,5%. Di cư từ nông thôn ra thành thị khiến vấn đề lao động trẻ em trầm trọng hơn do dân di cư trái phép không thể đăng ký hộ khẩu tại thành phố. Điều này có nghĩa là con cái của họ không thể đi học tại các trường công lập và gia đình họ ít có cơ hội được vay vốn. Quan chức nói rằng trẻ em vị thành niên ở các Trung tâm Giáo dưỡng, những trung tâm giống các trường cải tạo hoặc các trung tâm giam giữ trẻ em vị thành niên, hoạt động vì “mục đích giáo dục”.

Một nghiên cứu năm 2004 về lao động trẻ em ở Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy những trường hợp những gia đình nghèo cha mẹ ký “hợp đồng miệng” với người sử dụng lao động và sau đó đưa con mình đi làm. Một cuộc điều tra do Bộ Lao động và ILO đồng tài trợ do Trung tâm Nghiên cứu Phụ nữ-Đại học Quốc gia Hà Nội tiến hành với bốn nhóm trẻ em lao động cho thấy rằng lương của bọn trẻ được gửi trực tiếp cho cha mẹ chúng. Hầu hết bọn trẻ được điều tra tiêu rất ít tiền cho bản thân chúng, mặc dù một số em có thể trả được học phí từ một phần thu nhập của mình. Nghiên cứu cũng cho thấy giờ lao động và thu nhập của bọn trẻ làm công việc nhặt than và câu cá cũng phần nào bị gia đình quản lý.
Các quan chức trong Chính phủ có quyền xử phạt và trong các trường hợp vi phạm Bộ luật Hình sự, truy tố các chủ lao động nào vi phạm các quy định về lao động trẻ em. Mặc dù Chính phủ không có đủ nguồn lực để thực thi có hiệu quả các quy định về an toàn đối với trẻ em, đặc biệt là trẻ em làm việc ở các hầm mỏ và làm người giúp việc trong gia đình, nhưng Chính phủ đã phát hiện ra một số trường hợp bóc lột trẻ em, đưa trẻ em ra khỏi môi trường làm việc bị bóc lột và phạt các chủ lao động. Tài trợ quốc tế đều chú trọng đến vấn đề lao động trẻ em. Chính phủ cũng tiếp tục các chương trình nhằm chấm dứt tình trạng lao động trẻ em với mục tiêu nhắm vào các gia đình nghèo và trẻ mồ côi.

e. Những điều kiện làm việc có thể chấp nhận được

Bộ Luật Lao động yêu cầu Chính phủ phải quy định một mức lương tối thiểu, mức lương này phải được điều chỉnh trong trường hợp lạm phát hoặc và có những thay đổi về kinh tế khác. Từ năm 1999, mức lương tối thiểu hàng tháng chính thức tại các công ty liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài là 40 đô-la Mỹ (626.000 đồng) ở các quận nội thành ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh; 35,9 đô-la (556.000 đồng) ở các quận ngoại thành ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, và các quận của Hải Phòng, Thành phố Biên Hoà, và Thành phố Vũng Tàu; và 31,4 đô-la (487.000 đồng) ở những nơi khác. Chính phủ có thể tạm thời miễn cho một số công ty liên doanh không phải trả lương tối thiểu trong những tháng đầu doanh nghiệp hoạt động hoặc nếu doanh nghiệp đóng tại khu vực xa xôi hẻo lánh, nhưng mức lương tối thiểu trong những trường hợp này không được thấp hơn 29,9 đô-la (417.000 đồng). Từ mùng 1 tháng 10, lương tối thiểu chính thức của khu vực nhà nước tăng lên đến 22,15 đô-la (350.000 đồng). Mức lương này không đủ mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ. Chính sách lương mới có lợi cho hơn 6 triệu người, trong đó hơn 300 ngàn người là công chức nhà nước trong các đơn vị hành chính, cơ quan đảng và đoàn thể. Tuy nhiên, các doanh nghiệp nhà nước thường xuyên trả lương cao hơn mức lương tối thiểu. Số người lao động được nhận trợ cấp nhà ở của Chính phủ đã giảm xuống. Nhiều người lao động có thu nhập thêm và bổ sung thu nhập bằng việc tham gia vào các hoạt động kinh doanh. Các hộ gia đình thường có nhiều hơn một người đi làm kiếm tiền.
Chính phủ quy định thời gian làm việc trong tuần đối với các cán bộ Chính phủ và nhân viên của các công ty trong khu vực quốc doanh là 40 giờ và khuyến khích khu vực doanh nghiệp tư nhân và các tổ chức quốc tế và nước ngoài thuê nhân công ở địa phương giảm giờ làm trong một tuần xuống 40 giờ, tuy nhiên điều này không bắt buộc.

Bộ Luật Lao động quy định giờ làm việc bình thường là 8 tiếng một ngày, với thời gian nghỉ 24 giờ mỗi tuần. Làm thêm giờ phải được trả gấp 1,5 lần mức lương bình thường, gấp hai lần mức lương bình thường nếu làm vào ngày nghỉ trong tuần, và gấp ba lần lương bình thường nếu làm vào ngày lễ và ngày nghỉ phép được trả lương. Luật hạn chế thời gian làm thêm bắt buộc tối đa ở mức 4 giờ một tuần và 200 giờ một năm. Những điều sửa đổi của Bộ Luật Lao động năm 2002 quy định ngoại lệ trong các trường hợp đặc biệt trong đó thời lượng tối đa có thể lên tới 300 giờ làm thêm trong một năm, tuân thủ quy định của Chính phủ sau khi đã tư vấn Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và các đại diện của chủ lao động. Luật pháp cũng quy định thời gian nghỉ phép hàng năm vẫn được trả lương đầy đủ đối với rất nhiều loại hình công việc. Không rõ là Chính quyền thực thi những quy định này hiệu quả đến đâu.

Theo luật pháp, một nhân công nữ khi kết hôn, mang thai và nghỉ đẻ hoặc đang nuôi con dưới 1 tuổi thì không bị sa thải trừ khi doanh nghiệp đóng cửa. Nhân công nữ mang thai từ tháng thứ bảy hoặc đang nuôi con dưới 1 tuổi không được làm việc quá giờ, làm việc vào ban đêm hoặc ở những địa điểm xa xôi.

Bộ luật Lao động yêu cầu Chính phủ ban hành các nguyên tắc và quy định đảm bảo an toàn lao động. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội phối hợp với các ủy ban nhân dân địa phương và công đoàn, có trách nhiệm cưỡng chế thi hành những quy định này. Trên thực tế việc cưỡng chế thi hành là chưa có kết quả do thiếu ngân sách và không có đủ các nhân viên đã qua đào tạo. Theo Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam báo cáo có trên cả nước có 300 nhân viên giám sát lao động, tuy nhiên ít nhất phải có 600 người. Tai nạn lao động do sức khoẻ yếu và các điều kiện an toàn ở nơi làm việc cũng là một vấn đề. Phần lớn tai nạn lao động là do máy móc, chẳng hạn như máy cán và máy ép. Ngoài ra 10% số tai nạn lao động là do tai nạn hầm mỏ. Theo thống kê của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, trong 6 tháng đầu năm đã có 2.670 vụ tai nạn lao động và 252 trường hợp tử vong trong số 6.026 vụ tai nạn có liên quan đến lao động (trong một số vụ có nhiều công nhân bị tai nạn), cao hơn 55% so với năm 2003; tuy nhiên, có bằng chứng cho thấy công nhân, thông qua các công đoàn, đã cải thiện được điều kiện làm việc. Một số công ty nước ngoài hoạt động trong nước đã tiến hành giám sát độc lập các vấn đề tại nhà máy của họ. Các công ty báo cáo rằng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội hoặc các cơ quan lao động tỉnh đã tiến hành giám sát về y tế và an toàn lao động và nghề nghiệp tại các doanh nghiệp khi họ biết có các vụ tai nạn nghiêm trọng xảy ra hoặc khi có báo cáo là có tình trạng nguy hiểm.

Bộ Luật Lao động quy định rằng người lao động có thể không làm việc trong các điều kiện nguy hiểm mà không bị mất việc làm; không rõ trên thực tế quy định này được thực hiện tốt đến đâu. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội khẳng định rằng không có công nhân nào khiếu nại về các chủ lao động khi họ không tuân thủ quy định này.

lên đầu trang ^

Công cụ:

Printer_icon.gif In trang này

- Nội dung -

Lời nói đầu

Giới thiệu

Việt Nam

Bản tiếng Anh




 

    Trang Web này được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ quản lý.
    Chúng tôi không chịu trách nhiệm về nội dung và tính bảo mật thông tin của các trang Web khác được liên kết đến.


Đại sứ quán Hoa Kỳ