Các vấn đề toàn cầu
BÁO CÁO VỀ TÌNH HÌNH NHÂN QUYỀN Ở CÁC NƯỚC, NĂM 2007
Do Cục Dân chủ, Nhân quyền và Lao động, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ phát hành, ngày 11/3/2008
VIỆT NAM
Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, với dân số khoảng 84 triệu người, là một nhà nước độc tài do Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) lãnh đạo. Hiến pháp trao quyền lãnh đạo cho Đảng Cộng sản và việc các thành viên của Đảng nắm giữ tất cả các vị trí then chốt trong Chính phủ cho phép Đảng định ra chính sách quốc gia. Tuy nhiên, Đảng cộng sản đã bớt tham gia chính thức vào các hoạt động của Chính phủ và cho phép Chính phủ tự do thực hiện chính sách. Ngoài ra không có bất kỳ đảng phái chính trị hợp pháp nào khác. Cuộc bầu cử Quốc hội gần đây nhất được tổ chức hồi tháng 5 không phải là cuộc bầu tự do và bình đẳng vì tất cả các đại biểu đều đã được Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lựa chọn. Mặt trận là cơ quan của Đảng cộng sản có trách nhiệm giám sát các tổ chức quần chúng cả nước. Nhìn chung, chính quyền dân sự các cấp kiểm soát hữu hiệu các lực lượng an ninh.
Tình hình nhân quyền của Chính phủ vẫn chưa đạt được như mong muốn. Người dân không thể thay đổi chính phủ. Các phong trào chính trị đối lập bị cấm. Chính phủ tiếp tục đàn áp những người bất đồng chính kiến, bắt giữ một số nhà hoạt động chính trị và giải tán các tổ chức đối lập mới hình thành, khiến một số người bất đồng chính kiến phải chạy ra nước ngoài. Công an đôi khi còn ngược đãi nghi can trong các vụ bắt bớ, giam giữ và hỏi cung. Điều kiện nhà tù thì khắc nghiệt. Cá nhân bị giam giữ tùy tiện vì hoạt động chính trị, và còn bị tước quyền được xét xử công bằng và khẩn trương. Chính phủ tăng cường kiểm soát báo chí và Internet và hạn chế quyền riêng tư của công dân và quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, đi lại và lập hội. Quyền tự do tôn giáo được tôn trọng hơn. Tuy nhiên, Chính phủ vẫn áp đặt hạn chế đối với hoạt động chính trị của các nhóm tôn giáo. Chính phủ duy trì lệnh cấm đối với các tổ chức nhân quyền độc lập. Bạo lực và phân biệt đối xử với phụ nữ vẫn diễn ra. Hoạt động buôn bán phụ nữ và trẻ em làm gái mại dâm vẫn xảy ra. Một số nhóm dân tộc thiểu số bị phân biệt đối xử trong xã hội. Chính phủ hạn chế quyền của người lao động, nhất là quyền được có các hội đoàn độc lập, bắt bớ hoặc gây khó khăn cho một số nhà hoạt động trong lĩnh vực lao động.
TÔN TRỌNG NHÂN QUYỀN
Phần 1: Tôn trọng phẩm giá con người, không bị:
Tước đi cuộc sống một cách tùy tiện và bất hợp pháp
Không có báo cáo nào cho thấy Chính phủ hoặc các cơ quan chính phủ gây ra bất kỳ vụ sát hại nào vì động cơ chính trị. Tuy nhiên, vẫn có các báo cáo chưa được xác nhận về những vụ sát hại không được xét xử. Một số nhà hoạt động chính trị và tôn giáo khẳng định rằng các nhà chức trách cho lực lượng dân quân mặc thường phục đánh đập và đôi khi còn sát hại “những người không đáng có”. Tuy nhiên khó có thể xác minh những báo cáo này.
Không có tiến triển nào xung quanh vụ Y Ngo Adrong xảy ra tháng 7/2006 - một người dân tộc Gia-rai được cho là đã tự treo cổ trong phòng giam mặc dù những vết thâm tím trên cơ thể cho thấy nạn nhân đã bị chết vì bị đánh đập.
Mất tích
Hai công dân Việt Nam hoạt động chính trị tích cực là Tim Sakhorn và Lê Trí Tuệ đã mất tích tại Căm-pu-chia hồi tháng 5. Vài tháng sau đó Tim Sakhorn xuất hiện trong một trại giam của Việt Nam tại tỉnh An Giang. Sau đó, vào tháng 11 anh bị xét xử và kết án 1 năm tù. Đến cuối năm, Lê Trí Tuệ vẫn bị mất tích. Có tin đồn rằng anh đã bị nhân viên an ninh của Chính phủ Việt Nam sát hại.
Tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, phi nhân tính hoặc xúc phạm
Luật pháp cấm xâm phạm thân thể; nhưng đôi khi công an vẫn đánh đập nghi can khi họ bị bắt hoặc bị giam trong đồn công an.
Có những báo cáo về các vụ công an địa phương sách nhiễu và đánh đập ở các tỉnh Điện Biên, Quảng Ninh, Hải Phòng, Lạng Sơn, Thanh Hoá và Trà Vinh, thường là liên quan đến việc giải tán các buổi tụ họp “bất hợp pháp” tại các nhà thờ Tin Lành hoặc áp đặt hạn chế đối với các hoạt động kỷ niệm các ngày lễ tôn giáo. Cán bộ tham gia các vụ sách nhiễu và đánh đập ở Thanh Hoá đã bị xử phạt và khiển trách. Tháng 11, ở tỉnh Lạng Sơn, các nhân viên an ninh mặc thường phục bị cáo buộc là đã đánh nhà hoạt động vì dân chủ Nguyễn Phương Anh trong khi ông đang thăm một nhà hoạt động khác. Các nhà chức trách khẳng định rằng ông bị say rượu. Nhiều chi hội Tin lành ở Điện Biên báo cáo về các vụ công an đánh đập và sách nhiễu.
Có những cáo buộc từ các nhóm hoạt động về việc công an sách nhiễu và đánh đập những người thiểu số quay trở về Tây Nguyên, mặc dù hầu hết báo cáo đều không nêu cụ thể vụ việc. Các nhà theo dõi nhận thấy hầu hết các vụ việc đều liên quan đến đất đai, tiền nong hoặc tranh chấp nội bộ.
Hồi tháng 4, công an ngăn không cho vợ của năm nhà hoạt động chính trị được gặp gỡ một nhà ngoại giao và một nghị sĩ quốc hội nước ngoài. Hai trong số những phụ nữ này đã bị nhân viên an ninh mặc thường phục chặn lại và bị đối xử thô bạo. Trong một vụ xảy ra sau đó, cán bộ an ninh cản trở và tạm giam một phụ nữ được mời tới gặp nhà ngoại giao đó. Rất nhiều lần các nhà hoạt động chính trị khác và người nhà của tù nhân bị ngăn không cho gặp gỡ với các nhà ngoại giao nước ngoài. Thủ thuật của các nhà chức trách là dựng lên các rào chắn hoặc cử bảo vệ bên ngoài nhà ở của họ hoặc gọi đến đồn công an để thẩm vấn.
Ngày 11/7, một nhân vật bất đồng chính kiến và là một nhà hoạt động nổi tiếng trong lĩnh vực lao động đã được ra khỏi bệnh viện tâm thần, nơi bà bị ép phải vào điều trị hồi tháng 11/2006. Mặc dù không bị hạn chế hoạt động, nhưng có tin là bà được lệnh hàng tháng phải đi trình diện. Bà vẫn lo ngại vì bị theo dõi và có thể bị bắt lại.
Không có hình thức xử lý nào đối với các nhà chức trách địa phương đã đánh đập hai tín đồ Tin Lành người Dao ở Tỉnh Kon Tum, Tây Nguyên. Nạn nhân cũng không được bồi thường gì.
Điều kiện sinh hoạt trong nhà tù và trại giam
Điều kiện nhà tù có thể khắc nghiệt, nhưng nhìn chung không đe dọa đến mạng sống của tù nhân. Các quan sát viên ngoại giao báo cáo về điều kiện khó khăn nhưng nhìn chung chấp nhận được. Tình trạng quá tải, khẩu phần ăn không đủ, thiếu nước sạch và điều kiện vệ sinh kém vẫn là những vấn đề nghiêm trọng tại nhiều nhà tù. Tù nhân được tiếp cận với các dịch vụ y tế cơ bản và được hưởng thêm các dịch vụ y tế ở các bệnh viện huyện và tỉnh. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp người thân trong gia đình không được gửi thuốc men cho tù nhân. Nhìn chung tù nhân buộc phải lao động, nhưng không có tiền công. Đôi khi tù nhân bị chuyển tới phòng biệt giam. Ở đó họ không được đọc và viết trong khoảng thời gian kéo dài hàng tháng. Thân nhân khẳng định chắc chắn rằng tù nhân được đối xử tốt hơn nếu đút lót cán bộ trại giam.
Có những báo cáo không dẫn chứng về điều kiện nghèo nàn của nhà tù Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai. Đã có cáo buộc về một số vụ tù nhân chết nhưng cộng đồng quốc tế không thể xác minh. Thành viên gia đình của luật sư nhân quyền và nhà hoạt động Tin Lành Nguyễn Văn Đài và nhà hoạt động Công giáo Cha Nguyễn Văn Lý khẳng định rằng hai người không có Kinh thánh, vì các giám thị sợ rằng họ sẽ cải đạo các tù nhân khác sang Cơ đốc giáo. Tháng 10, Nguyễn Văn Đài đã được cho một cuốn Kinh. Có tin là nhà hoạt động khác bị bỏ tù và là tín đồ Thiên chúa giáo Lê Thị Công Nhân được cai tù trả lại cuốn Kinh mà họ đã lấy của cô ở nhà tù tỉnh Thanh Hoá.
Chính phủ nhìn chung không cho phép Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế hoặc các tổ chức phi chính phủ đến thăm các nhà tù. Chính phủ đã chấp thuận yêu cầu của Văn phòng Cao uỷ Liên Hợp Quốc về người tị nạn (UNHCR) đến thăm một tù nhân. Tuy nhiên, đến cuối năm không có đại diện nào của UNHCR đến thăm nhà tù. Tháng 3, một nhà ngoại giao nước ngoài được thăm một nhà tù ở miền bắc. Tháng 10, các quan sát viên nước ngoài được thăm các nhà hoạt động tôn giáo và chính trị tại một nhà tù ngoài Hà Nội. Yêu cầu được thăm tù nhân của các nhà quan sát ngoại giao khác vẫn chưa được chấp thuận.
Bắt bớ và giam giữ tùy tiện
Luật pháp cấm việc bắt bớ và giam giữ tùy tiện; tuy nhiên, Chính phủ tiếp tục bắt giam công dân vì các hoạt động chính trị. Hồi tháng 11, hai công dân Việt Nam và ba công dân nước ngoài đã bị bắt tại TP Hồ Chí Minh khi đang chuẩn bị phát tán tài liệu kêu gọi thay đổi chính phủ một cách dân chủ bằng hành động phản đối phi bạo lực. Chính phủ cáo buộc nhóm này thực hiện “hành động khủng bố”. Đến cuối năm, hai công dân nước ngoài đã được thả. Công dân còn lại - đã liên lạc với nhóm này và bị bắt cùng lúc tại biên giới Căm-pu-chia - vẫn bị giam giữ. Chính phủ cáo buộc công dân nước ngoài nhập cảnh bằng giấy tờ giả nhưng không công bố cáo buộc chính thức nào.
Luật hình sự cho phép Chính phủ giam giữ mà không cáo buộc theo các điều khoản “an ninh quốc gia” mơ hồ. Trong năm, đã có một số cá nhân bị bắt vì vi phạm điều 88 bộ luật hình sự, theo đó cấm “tuyên truyền chống phá nhà nước”. Những người bị cáo buộc vi phạm điều 88 thường bị kết án tù 5 năm.
Vai trò của công an và lực lượng an ninh
Đảm bảo an ninh trong nước là trách nhiệm chính của Bộ Công an; tuy nhiên, ở một số vùng hẻo lánh thì quân đội là cơ quan chủ yếu và thực thi chức năng đảm bảo an ninh công cộng, trong đó có duy trì trật tự công cộng trong trường hợp xảy ra bạo động dân sự. Bộ Công An kiểm soát lực lượng cảnh sát, cơ quan đặc nhiệm điều tra an ninh quốc gia, và các đơn vị an ninh nội vụ khác. Bộ này cũng quản lý hệ thống đăng ký hộ tịch và công an khu vực nhằm giám sát dân cư, tập trung vào các đối tượng tham gia hoặc bị tình nghi tham gia các hoạt động chính trị không được phép. Nhưng hệ thống giám sát này cũng đã bớt can thiệp vào đời sống hàng ngày của công dân. Vẫn có báo cáo đáng tin cậy về các vụ công an địa phương cho lực lượng dân quân sách nhiễu và đánh đập các nhà hoạt động chính trị và những người khác bị cho là “mối đe doạ” đối với an ninh công cộng.
Ở cấp tỉnh, quận huyện và xã đều có lực lượng công an và họ chịu sự chỉ đạo của ủy ban nhân dân cấp tương ứng. Nói chung các lực lượng công an thực thi hiệu quả vai trò duy trì ổn định chính trị và trị an công cộng, nhưng năng lực điều tra của họ còn rất kém. Việc đào tạo công an và ngân sách là chưa đủ. Tham nhũng là một vấn đề nghiêm trọng trong lực lượng công an ở tất cả các cấp. Đôi khi công an còn được tự do hành động mà không bị truy tố. Có tồn tại các cơ chế giám sát nội bộ ngành công an, tuy nhiên chúng bị chính trị chi phối.
Bắt và giam giữ
Bộ luật hình sự quy định trình tự giam giữ và đối xử với các cá nhân cho đến khi họ được đưa ra tòa xét xử. Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao (Văn phòng công tố) ra lệnh bắt, thường là theo yêu cầu của bên công an; tuy nhiên, công an có thể tiến hành bắt giữ mà không cần có lệnh căn cứ dựa trên khiếu nại của bất kỳ ai. Trong những trường hợp đó, Viện Kiểm sát ra lệnh bắt hồi tố. Trong vòng 9 ngày, Viện Kiểm sát phải ra quyết định khởi tố điều tra hình sự đối với người đang bị tạm giam; nếu không công an sẽ phải thả nghi can. Trên thực tế quy định 9 ngày này thường bị bỏ qua.
Quá trình điều tra có thể kéo dài từ ba tháng đối với những tội danh “ít nghiêm trọng” (những tội có án tù 3 năm) đến 16 tháng đối với những tội “đặc biệt nghiêm trọng” (những tội có thể dẫn đến án tù trên 15 năm hoặc tử hình) hoặc 20 tháng đối với những vụ liên quan đến an ninh quốc gia. Trong thời gian điều tra, người bị giam giữ thường không được gặp gỡ luật sư hoặc thân nhân, đặc biệt đối với các vụ liên quan đến an ninh quốc gia. Trong giai đoạn này một số người bị giam giữ bị ép phải nhận tội theo hướng của nhà chức trách. Đôi khi các nhân viên điều tra còn dùng biện pháp cách ly, kéo dài thời gian thẩm vấn, không cho ngủ để buộc người bị giam giữ phải nhận tội.
Bộ luật hành sự cũng cho phép Viện Kiểm sát yêu cầu tạm giam thêm hai tháng sau khi điều tra để xem xét liệu có muốn truy tố người bị giam giữ hay trả vụ việc cho bên công an điều tra thêm. Không có hình thức bảo lãnh hay thả có điều kiện. Thời gian giam giữ chờ xử án sẽ được tính vào thời gian thi hành án được tuyên.
Mặc dù Hiến pháp quy định những người bị buộc tội có quyền được tư vấn pháp lý, nhưng tình trạng khan hiếm luật sư được đào tạo và thiếu quyền bào chữa nên hiếm khi người bị giam giữ được tiếp cận luật sư. Nhìn chung, chỉ những người bị cáo buộc phạm những tội có thể dẫn đến mức án tử hình mới được chỉ định luật sư.
Theo quy định, người bị giam giữ được phép gặp luật sư kể từ khi bị giam giữ. Tuy nhiên, quy định này không được thực thi hiệu quả, do vậy người bị giam giữ không được tiếp cận tự do và công khai dịch vụ tư vấn pháp lý. Chậm trễ trong thủ tục hành chính thường hạn chế tiếp xúc ban đầu của người bị giam giữ với luật sư của họ. Trong các vụ liên quan tới an ninh quốc gia, các nhà chức trách có thể trì hoãn việc gặp gỡ giữa luật sư bào chữa và thân chủ của họ cho đến khi quá trình điều tra kết thúc và nghi can chính thức bị kết tội. Luật sư bào chữa phải được thông báo về các cuộc thẩm vấn và được phép dự các buổi thẩm vấn đó. Luật sư cũng phải được tiếp cận hồ sơ vụ án và được phép sao chụp các hồ sơ. Đôi lúc luật sư được thực hiện đặc quyền này. Tuy nhiên, trong trường hợp thẩm vấn, trước hết bị cáo phải tự mình yêu cầu sự có mặt của luật sư, nhưng không rõ liệu các nhà chức trách có thường thông báo cho bị cáo về quyền lợi này của họ hay không.
Nhìn chung, công an thường thông báo cho gia đình người bị giam giữ về nơi giam giữ họ; tuy nhiên, người nhà chỉ được phép thăm thân nếu được điều tra viên cho phép, nhưng không phải tự động cho phép. Trước khi tuyên án chính thức, những người bị tạm giam cũng có quyền thông báo cho người thân trong gia đình họ. Một số người bị tạm giam để điều tra về các vụ vi phạm an ninh quốc gia không được phép liên hệ với ai. Tính đến cuối năm, một số người bị bắt hồi đầu năm không được gia đình hoặc luật sư tới thăm và cũng chưa chính thức bị cáo buộc tội danh nào.
Tòa án có thể tuyên phạt quản chế hành chính tới 5 năm sau khi đã thụ án. Thêm vào đó, công an và các tổ chức đoàn thể có thể yêu cầu Chủ tịch Ủy ban Nhân dân các cấp huyện và tỉnh áp dụng một trong năm “biện pháp hành chính” mà không cần xét xử. Các biện pháp này bao gồm các hình phạt như giam giữ từ 6 đến 24 tháng trong các trại cải tạo thanh thiếu niên hay các trại giam người lớn và thường áp dụng đối với các đối tượng vi phạm nhiều lần với mức độ vi phạm nhỏ như trộm cắp vặt hay “lăng mạ người khác”. Các chủ tịch Ủy ban Nhân dân cũng có thể áp dụng hình phạt “quản chế hành chính”, thường là hạn chế đi lại. Trong tháng 3, Chính phủ bãi bỏ Nghị định 31 về quản chế hành chính, thường áp dụng đối với những người bị coi là bất đồng chính kiến. Tuy nhiên, các nhà chức trách tiếp tục phạt một số cá nhân theo nghị định 31 sau khi đã được bãi bỏ. Chính phủ còn sử dụng các nghị định và các biện pháp pháp, chẳng hạn điều 88 để giam giữ các nhà hoạt động vì bày tỏ hoà bình những quan điểm chính trị đối lập.
Các vụ giam giữ tùy tiện, đặc biệt đối với các nhà hoạt động chính trị, vẫn là một vấn đề. Chiến dịch đàn áp những người bất đồng chính kiến của Chính phủ từ cuối năm 2006 và tiếp tục đến hết tháng 4 đã khiến khoảng 30 nhà hoạt động bị bắt giam. Mặc dù một số đã được thả, song những người khác vẫn đang bị điều tra và giam giữ mà không chính thức bị cáo buộc tội danh nào hoặc đã được xét xử và kết án tù nhiều năm.
Ngày 8/5, công an đột nhập vào nơi ở của nhà hoạt động dân chủ có tiếng ở TP Hồ Chí Minh ông Trần Khuê và tịch thu máy tính cá nhân và các đồ dùng khác. Ông Khuê bị thẩm vấn và cuối cùng đã được thả. Ngày 26/11 ông Khuê bị cản trở không cho ra Hà Nội để thăm nhà hoạt động dân chủ Hoàng Minh Chính đang hấp hối.
Trong năm cũng có những báo cáo về việc các quan chức chính phủ ở Tây Nguyên và Tây Bắc bắt tạm giam những người dân tộc thiểu số vì đã liên lạc với cộng đồng người thiểu số ở nước ngoài.
Các vụ biểu tình hoà bình đòi đất đai ở TP Hồ Chí Minh và Hà Nội khiến một số nhà hoạt động bị tạm giam và bị an ninh theo dõi, mặc dù Chính phủ đã giải tán những cuộc biểu tình này mà không xảy ra bạo loạn. Các vụ biểu tình hồi tháng 12 trước những hành động của Trung Quốc ở các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa đang tranh chấp cũng làm một số nhà hoạt động bị tạm giam vì biểu tình mà chưa được phép. Một nhà hoạt động ở TP Hồ Chí Minh khẳng định ông đã bị giam giữ thẩm vấn suốt 30 tiếng đồng hồ trước khi được thả.
Tháng 7, Hoà thượng Thích Khổng Thanh thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) bị tạm giam tại Hà Nội vì tham gia vào các cuộc biểu tình đòi đất đai, sau đó đã được đưa về TP Hồ Chí Minh và được thả. Những người khác đi cùng ông cũng bị tạm giam tại Hà Nội. Tháng 11, Hoà thượng Thích Thiện Minh của GHPGVNTN bị tạm giam và thẩm vấn tại TP Hồ Chí Minh, cũng vì đã tham gia vào các cuộc biểu tình đòi đất đai. Ông vẫn bị công an theo dõi.
Các chức sắc của GHPGVNTN vẫn bị quản thúc tại chùa, mặc dù Chính phủ phủ nhận không ban hành lệnh quản thúc đó, nhưng họ vẫn được cho phép đi lại trong nước. Các nhà hoạt động chính trị và tôn giáo khác bị giam giữ không chính thức ở mức độ khác nhau tại nơi họ sinh sống.
Ân xá
Chính phủ không ban hành lệnh ân xá nhân dịp Tết Nguyên đán và hoãn đợt ân xá vào dịp Quốc khánh 2-9 sang tháng 10 do các cuộc bầu cử diễn ra vào tháng 5 và thay đổi một số thành phần trong cơ cấu Chính phủ. Tuy nhiên, hội đồng ân xá ở các tỉnh thành đã có lệnh ân xá cho các tù nhân ở tại địa phương mình nhân dịp Quốc khánh 2-9. Cuối tháng 10, nằm trong kế hoạch ân xá đã hoãn vào dịp Quốc khánh 2-9, chính phủ đã ân xá cho hàng nghìn người trong đó có 11 người bị án tù liên quan đến an ninh quốc gia. 3 trong số 11 người đó là những người hoạt động thuộc đạo Cao Đài, đã bị bắt trước đó vào năm 2004 do đã phát tán các khiếu kiện tại một cuộc hội nghị của ASEAN tại Phnom Penh, và các tù nhân người Thượng bị bắt trong các cuộc biểu tình ở Tây Nguyên năm 2004.
Khá nhiều tù nhân có tiếng đã được ân xá trong các dịp ân xá đặc biệt trong năm, trong đó có những người hoạt động chính trị như Nguyễn Vũ Bình, Phan Văn Bàn, và Lê Quốc Quân. Bình, vừa là một nhà báo và vừa là nhà văn, được phóng thích vào tháng 6, đã bị bắt giam năm 2002 và bị kết án 7 năm tù vào năm 2003 sau khi viết các bài báo kêu gọi tăng cường hơn nữa tự do chính trị. Phan Văn Bàn, bị cầm tù vào năm 1985 sau khi tham gia một tổ chức kêu gọi thay đổi về mặt chính trị, được trả tự do và trục xuất vào ngày 9 tháng 5. Lê Quốc Quân, một luật sư và một người hoạt động vì dân chủ, được ân xá vào ngày 16 tháng 6 nhưng vẫn đang phải chịu sự theo dõi chặt chẽ của cơ quan công an.
Không xét xử công khai và công bằng
Pháp luật quy định sự độc lập của các thẩm phán và các hội thẩm nhân dân. Tuy nhiên, trên thực tế Đảng Cộng sản Việt Nam kiểm soát các tòa án ở mọi cấp thông qua thực quyền bổ nhiệm thẩm phán, chánh án và thường có quyền quyết định mức án. Hầu hết, nếu không muốn nói là tất cả, các chánh án đều là Đảng viên Cộng sản và được bổ nhiệm ít nhất một phần là do sự tin cậy về mặt chính trị của họ. Vẫn như những năm trước đây, hệ thống tư pháp bị bóp méo nghiêm trọng do những ảnh hưởng chính trị, nạn tham nhũng cục bộ và thiếu hiệu quả. Ảnh hưởng của Đảng cộng sản Việt Nam đặc biệt thể hiện rõ trong các vụ án lớn và các trường hợp khác liên quan đến các cá nhân bị buộc tội gây phương hại cho Đảng hoặc nhà nước.
Hệ thống tư pháp bao gồm Tòa án Nhân dân Tối cao; các tòa án nhân dân cấp tỉnh thành và cấp quận huyện; tòa án quân sự; tòa hành chính, kinh tế và lao động; và các tòa án khác do pháp luật quy định. Mỗi quận huyện đều có một tòa án nhân dân với vai trò là các tòa xét xử sơ thẩm đối với hầu hết các vụ án trong nước, hình sự, dân sự. Mỗi tỉnh thành lại cũng có một tòa án nhân dân, với vai trò là các tòa phúc thẩm xét xử các vụ án sơ thẩm từ cấp quận huyện đưa lên, đồng thời là các tòa sơ thẩm đối với các vụ án khác. Chịu trách nhiệm báo cáo trước Quốc hội, Tòa án Nhân dân Tối cao là cơ quan tòa án cấp cao nhất xét xử phúc thẩm và thượng thẩm. Các tòa Hành chính xét xử các khiếu nại của công dân liên quan đến tham nhũng và lạm dụng chức quyền của các cán bộ, quan chức. Ngoài ra còn có các ủy ban đặc biệt giúp giải quyết các tranh chấp tại địa phương.
Vẫn còn tình trạng thiếu các luật sư và thẩm phán, chánh án được đào tạo và vẫn chưa có một hội luật sư độc lập. Lương trong ngành tư pháp thấp đã cản trở những nỗ lực trong việc xây dựng hệ thống tư pháp với nguồn nhân lực được qua đào tạo. Một số ít các chánh án, thẩm phán được đào tạo chính quy trong ngành luật thường lại chỉ học ở những quốc gia có truyền thống pháp luật cộng sản.
Các chương trình đào tạo của Chính phủ nhằm khắc phục tình trạng các chánh án, thẩm phán và các cán bộ tòa án khác được đào tạo chưa phù hợp đã và đang được triển khai. Chính phủ một số nước khác và Chương trình Phát triển của Liên Hợp Quốc UNDP đã có những hỗ trợ, tuy nhiên việc thiếu công khai trong quá trình xét xử các vụ án hình sự và tiếp tục thiếu sự độc lập của hệ thống tư pháp đã làm ảnh hưởng đến tiến trình này.
Các tòa xét xử sơ thẩm ở cấp quận huyện và tỉnh thành có các chánh án, thẩm phán và hội thẩm nhân dân, tuy nhiên các tòa phúc thẩm cấp tỉnh thành và Tòa án Nhân dân Tối cao lại chỉ có các thẩm phán. Hội đồng Nhân dân chỉ định các hội thẩm nhân dân từ một nhóm các ứng viên do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giới thiệu lên. Yêu cầu đối với các hội thẩm nhân dân là phải có “tiêu chuẩn đạo đức cao” nhưng lại không yêu cầu đã được đào tạo trong ngành luật.
Tòa án quân sự mặc dù do Bộ Quốc phòng cấp ngân sách nhưng vẫn hoạt động theo các nguyên tắc như các tòa án khác. Bộ Quốc phòng có đại diện trong các ban tư pháp đặc biệt. Người đứng đầu hệ thống tòa án quân sự (Chánh án Tòa án Quân sự Trung ương) đồng thời là phó chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao. Các chánh án, thẩm phán và hội thẩm viên của Tòa án quân sự là các cán bộ quân đội, do Bộ Quốc phòng và Tòa án Nhân dân Tối cao cùng lựa chọn nhưng chịu sự giám sát của Tòa án Nhân dân Tối cao. Pháp luật cho phép các tòa án quân sự toàn quyền xét xử mọi vụ án hình sự liên quan tới các đơn vị và cá nhân trong lĩnh vực quốc phòng bao gồm cả các doanh nghiệp của quân đội. Quân đội cũng có quyền sử dụng các tòa hành chính, kinh tế và lao động để xét xử các vụ án dân sự.
Thủ tục xét xử
Hiến pháp quy định rằng các công dân đều vô tội cho tới khi nào các cơ quan xét xử chứng minh được là có tội; tuy nhiên nhiều luật sư phản ánh rằng nhìn chung các thẩm phán đều mặc định coi người bị đưa ra xét xử là có tội. Nhìn chung các vụ xét xử đều mở xét xử công khai nhưng những vụ án nhạy cảm thì thẩm phán xử kín hoặc hạn chế người tham dự. Không có ban hội thẩm riêng; các thẩm phán hoặc hội đồng thẩm phán nghe cáo trạng và các lời bào chữa rồi ra phán quyết cuối cùng. Bị đơn có quyền có mặt và có luật sư bào chữa tại phiên xét xử mặc dù không nhất định đó là luật sư họ lựa chọn. Nhìn chung trên thực tế quyền này được tôn trọng. Bị đơn nào không có tiền thuê luật sư riêng thì sẽ có một luật sư được chỉ định để bào chữa chỉ trong những vụ án có khả năng sẽ bị kết án chung thân hoặc tử hình. Bị đơn và luật sư bào chữa có quyền chất vấn các nhân chứng; tuy nhiên, có những vụ án cả bị đơn và luật sư bào chữa đều không được phép tiếp cận với các bằng chứng do Chính phủ nắm giữ trước phiên xét xử, không được đối chất với các nhân chứng hoặc phản biện lại các cáo buộc. Nhìn chung, các luật sư bào chữa có ít thời gian xem xét các bằng chứng chống lại thân chủ của mình trước phiên xét xử. Người bị kết án có quyền kháng cáo. Các tòa án quận huyện và tỉnh thành không xuất bản các tài liệu của các vụ án do mình xét xử. Tòa án Nhân dân Tối cao đã cho xuất bản các tài liệu của tất cả các vụ án mà Tòa án Nhân dân Tối cao đã xem xét từ năm 2003.
Vẫn tiếp tục có những báo cáo đáng tin cậy cho rằng các luật sư bào chữa chịu sức ép không bào chữa cho các khách hàng là những người hoạt động tôn giáo hoặc dân chủ bị đưa ra xét xử.
Công tố viên đưa ra bản cáo trạng đối với người bị cáo buộc và giữ quyền công tố trong các phiên xét xử. Theo Bộ Luật tố tụng hình sự, sự thay đổi về thủ tục xét xử tại phòng xử án là nhằm chuyển từ chế độ “xét hỏi”, theo đó thẩm phán đưa ra câu hỏi chất vấn, sang chế độ “tranh tụng”, theo đó các công tố viên và luật sư bào chữa tranh luận để bảo vệ quan điểm của mình. Sự thay đổi này là nhằm tăng cường khả năng bảo vệ đối với bị cáo và ngăn ngừa việc các thẩm phán ép bị cáo nhận tội; tuy nhiên, tình thình triển khai hình thức này hiện ở mỗi địa phương mỗi khác.
Ngày 30 tháng 3, các quan chức chính phủ đã cho phép các nhà ngoại giao nước ngoài theo dõi phiên xét xử linh mục Nguyễn Văn Lý tại Huế qua hệ thống truyền hình cáp. Sau đó Chính phủ cũng cho phép các nhà ngoại giao nước ngoài theo dõi qua hệ thống truyền hình cáp phiên xét xử ngày 11 tháng 5 và phiên xử phúc thẩm ngày 27 tháng 11 của Tòa án Nhân dân Tối cao đối với Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân tại Hà Nội.
Những người bị giam giữ và tù nhân chính trị
Không có ước tính đáng tin cậy về số tù nhân chính trị. Chính phủ tuyên bố không giam giữ tù nhân chính trị nào mà chỉ có những người vi phạm pháp luật. Tính đến cuối năm, Chính phủ đã bắt giữ ít nhất 30 người liên quan đến chính trị, trong khi đó một số nhà quan sát quốc tế cho rằng con số này đã lên tới cả trăm người.
Vào tháng 1, công an đã tạm giữ luật sư hoạt động nhân quyền đồng thời là người hoạt động trong lĩnh vực lao động Lê Thị Công Nhân để thẩm vấn. Sau đó, Lê thị Công Nhân đã bị bắt giữ, xét xử và vào ngày 11 tháng 5 bị kết án 4 năm tù giam và 3 năm thử thách vì vi phạm Điều 88. Vào tháng 11, Tòa án Nhân dân Tối cao đã xét xử phúc thẩm và giảm mức án cho Lê Thị Công Nhân xuống còn 3 năm.
Vào tháng 2, các cơ quan chức năng đã tạm giữ và thẩm vấn một số người đứng đầu các giáo hội tích cực hoạt động chính trị trong đó có linh mục Chân Tín và Phan Văn Lợi. Những người hoạt động dân chủ khác đã bị giam giữ và sau đó được thả có Nguyễn Phong, Nguyễn Bình Thành, Hoàng Thị Anh Đào, Bạch Ngọc Dương, Nguyễn Phương Anh và Phạm Văn Côi. Một số sau này đã bỏ trốn sang Campuchia và yêu cầu Cao Ủy Liên Hợp Quốc về Người Tỵ nạn (UNHCR) bảo vệ, còn Nguyễn Phong và Nguyễn Bình Thành sau đó đã bị bắt lại, đưa ra xét xử và vào ngày 30 tháng 3 bị kết án lần lượt là 6 và 5 năm tù.
Ngày 18 tháng 2, linh mục Nguyễn Văn Lý, đã được ân xá năm 2005, bị bắt lại. Vào ngày 30 tháng 3 Nguyễn Văn Lý đã bị kết án 8 năm tù giam theo điều 88 với tội danh “tổ chức tuyên truyền chống phá nhà nước”.
Ngày 6 tháng 3, luật sư hoạt động nhân quyền Nguyễn Văn Đài bị bắt theo Điều 88; ngày 11 tháng 5 Nguyễn Văn Đài bị kết án 5 năm tù và 4 năm thử thách. Tháng 11, tại phiên xử phúc thẩm của Tòa án Nhân dân Tối cao, Nguyễn Văn Đài đã được giảm án xuống còn 4 năm tù giam.
Ngày 8 tháng 3, luật sư, nhà hoạt động dân chủ Lê Quốc Quân bị bắt ngay sau khi kết thúc chương trình học bổng tại Hoa Kỳ trở về Việt Nam. Lê Quốc Quân bị buộc tội vi phạm Điều 79 của Bộ Luật Hình sự trong đó quy định “phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia” bao gồm việc “thực hiện các hoạt động nhằm lật đổ nền hành chính nhân dân”. Ngày 16 tháng 6, trong khi vẫn bị điều tra, Lê Quốc Quân đã được thả trong một đợt ân xá đặc biệt nhưng bị cấm hành nghề luật sư. Đến cuối năm, Lê Quốc Quân vẫn phải chịu sự theo dõi chặt chẽ.
Tháng 4, nhà văn, nhà báo Trần Khải Thanh Thủy bị bắt giữ vì vi phạm Điều 88. Đến cuối năm, Thủy vẫn bị giam giữ mà chưa qua xét xử.
Tháng 5, Trần Quốc Hiền bị kết án 3 năm tù với tội danh “tổ chức tuyên truyền chống phá nhà nước” và 2 năm tù với tội danh “vi phạm an ninh”.
Ngày 10 tháng 5, Lê Nguyên Sang, Huỳnh Nguyên Đạo và Nguyễn Bắc Truyển, bị bắt vào tháng 8 năm 2006 và bị buộc tội “tàng trữ các tài liệu chống chính phủ”, đã bị kết án 5 năm tù giam vì vi phạm Điều 88. Ngày 17 tháng 8, tại phiên xử phúc thẩm, tòa án đã giảm án cho Lê Nguyễn Sang từ 5 năm xuống còn 4 năm, Nguyễn Bắc Truyển từ 4 năm xuống còn 3 năm 6 tháng và Huỳnh Nguyễn Đạo từ 3 năm xuống còn 2 năm 6 tháng; giữ nguyên mức 2 năm thử thách. Tòa án vẫn buộc tội Sang, Truyền và Đạo tội “tuyên truyền chống phá nhà nước”.
Ngày 16 tháng 5, nhà hoạt động dân chủ Nguyễn Bá Đăng bị bắt vì tội “phân phát tài liệu tuyên truyền chống phá nhà nước”; đến cuối năm, các cơ quan chức năng vẫn chưa công bố bất kỳ thông tin nào về vụ việc này. Đăng vẫn đang bị giam giữ tại Trại Kinh Chi, Hải Dương.
Đến cuối năm, Trương Quốc Huy vẫn bị giam giữ mà không có lời buộc tội chính thức nào sau khi bị bắt vào tháng 8 năm 2006 với cáo buộc liên quan đến các phong trào hoạt động chính trị trong đó có “âm mưu phá hoại đoàn kết dân tộc”. Phiên tòa xét xử dự định tiến hành vào ngày 13 tháng 4 đã bị hoãn lại với những lý do không rõ ràng, còn phiên xét xử định tiến hành lại vào ngày 18 tháng 12 bị hoãn vô thời hạn.
Phạm Bá Hải, Vũ Hoàng Hải, Nguyễn Ngọc Quân và một số người khác chưa rõ danh tính bị bắt vào tháng 9 năm 2006 vì các hoạt động liên quan tới “tuyên truyền chống lại chính quyền nhân dân”, vẫn bị giam giữ mà không có thông báo buộc tội chính thức nào. Phiên tòa xét xử dự định tiến hành vào ngày 27 tháng 12 đã bị hoãn vô thời hạn.
Nhiều người chống đối, bất đồng chính trị thuộc các tổ chức chính trị bị cấm hoạt động trong đó có Khối 8406, Đảng Dân chủ Nhân dân, Đảng Hành động Nhân dân, Tổ chức Việt Nam Tự do, Đảng Dân chủ Việt Nam, Tổ chức Công-Nông Liên hiệp và các tổ chức khác vẫn bị tù giam ở những nơi khác nhau.
Đến cuối năm, 5 trong số 8 tín đồ Đạo Cao Đài, bị kết án năm 2005 từ 3 đến 13 năm tù, vẫn bị giam giữ. Ba người đã được ân xá vào tháng 10. Các tù nhân người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên liên quan đến các vụ biểu tình ở Tây Nguyên năm 2004, vẫn bị tù giam. Một số tổ chức phi chính phủ cho rằng con số những người dân tộc thiểu số bị giam giữ này có đến cả trăm người. Một số đã được thả trong đợt ân xá tháng 10.
Thủ tục xét xử dân sự và bồi thường
Chưa có cơ chế rõ ràng hoặc hiệu quả đối với việc thực hiện kiện dân sự nhằm bồi thường hoặc khắc phục các trường hợp lạm dụng chức trách của các cơ quan công quyền. Các vụ kiện dân sự được phân xử tại tòa “hành chính”, tòa dân sự, tòa hình sự. Tất cả các tòa này đều có các trình tự thủ tục xét xử như các vụ án hình sự và được các thành viên của cùng một hội đồng thẩm phán và hội thẩm nhân dân phân xử. Cả 3 cấp xét xử này đều có tình trạng chung là tham nhũng, thiếu tính độc lập và thiếu kinh nghiệm.
Theo các cán bộ ngành này thì theo luật pháp, một công dân muốn khiếu nại việc vi phạm nhân quyền của một cán bộ công chức thì trước hết phải gửi khiếu nại đến cán bộ bị cáo buộc vi phạm đó để được thông qua đưa việc khiếu nại ra tòa hành chính. Nếu đơn khiếu nại bị từ chối, công dân đó có thể gửi khiếu nại lên cấp trên của cán bộ công chức này. Nếu cán bộ bị khiếu nại hoặc cấp trên chấp thuận để tòa phân xử vụ khiếu nại đó thì sẽ đưa ra tòa hành chính. Nếu tòa hành chính cho rằng vụ khiếu nại đó có căn cứ để khởi kiện thì tòa sẽ chuyển vụ khiếu nại sang cho tòa dân sự để xét xử liên quan đến mức độ thương tật thân thể dưới 20 phần trăm sức khoẻ, hoặc chuyển sang tòa hình sự để đòi bồi thường với những vụ việc mức thương tật đối với sức khoẻ là hơn 20%. Trên thực tế, hệ thống cho phép và chuyển cấp xét xử phức tạp này dẫn đến tình trạng là công dân có rất ít cơ hội trông cậy hữu hiệu vào quá trình xét xử của tòa dân sự hoặc tòa hình sự để đòi bồi thường các vụ vi phạm nhân quyền. Rất ít chuyên gia pháp luật có kinh nghiệm với hệ thống này.
Can thiệp tùy tiện vào sự riêng tư cá nhân, gia đình, nhà ở hoặc thư tín
Pháp luật nghiêm cấm những hành vi này; tuy nhiên trên thực tế Chính phủ không tôn trọng những quy định cấm đó. Hệ thống đăng ký nhân khẩu hộ gia đình và cảnh sát theo dõi phụ trách cụm khối dân cư theo dõi mọi công dân. Các cơ quan chính quyền để mắt tới những người bị tình nghi liên quan đến các hoạt động tôn giáo hoặc chính trị không được phép.
Không được phép vào nhà dân bằng vũ lực nếu không có lệnh của viện kiểm sát; tuy nhiên, các lực lượng an ninh hiếm khi nào tuân theo các thủ tục này; thay vào đó là xin phép vào nhà với hàm ý rằng việc không cho phép là bất hợp tác. Một số cá nhân từ chối hợp tác với “những yêu cầu” này. Ở các thành phố, cảnh sát thường bỏ đi khi gặp phải những trường hợp như vậy.
Các cơ quan chính phủ xem và kiểm duyệt thư của đối tượng bị tình nghi, tịch thu các gói kiện và thư gửi, giám sát các cuộc đàm thoại qua điện thoại, thư điện tử và điện tín, fax. Chính phủ cắt dịch vụ điện thoại cố định và làm gián đoạn điện thoại di động, dịch vụ Internet của một số đối tượng hoạt động chính trị và các thành viên gia đình họ.
Chính phủ không có một chính sách chính thức đối với vấn đề tái định cư bắt buộc. Tuy nhiên, Chính phủ đã thực hiện tái định cư đối với một số công dân để phục vụ cho các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng trong đó nhiều dự án thực hiện ở các khu vực của người dân tộc thiểu số. Có các báo cáo cho biết tình trạng đền bù hoặc không công bằng hoặc không đền bù kịp thời.
Vào tháng 6 tại TP Hồ Chí Minh, các nhóm người dân bất bình ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long và TP Hồ Chí Minh đã tổ chức các cuộc biểu tình hòa bình do các tranh chấp liên quan đến việc sung công đất đai và đền bù đất của nhà nước. Vào ngày 18 tháng 7, một số người biểu tình đã bị đưa lên xe của cảnh sát khi từ chối kết thúc vụ tụ tập kéo dài 3 tuần. Một số người đã bị thương nhẹ. Những người chứng kiến phủ nhận việc một số nguồn tin thiếu chính xác cho rằng cảnh sát đã dung bạo lực để giải tán vụ biểu tình này ở TP Hồ Chí Minh. Cảnh sát có bắt giữ những người tổ chức cuộc biểu tình nhưng sau đó đã thả ngay, theo các nguồn tin thì không có ai bị thương tích gì. Một số người hoạt động sau đó đã phản ảnh việc theo dõi và làm phiền nhiễu của cảnh sát. Một số khác lại cho biết rằng những người tổ chức biểu tình đã bị kiểm điểm trên các phương tiện thông tin, công bố địa chỉ gia đình – một cách làm thường thấy của các nhân viên an ninh. Một cuộc biểu tình cũng liên quan đến đất đai với số người tham gia ít hơn ở Hà Nội vào tháng 7 cũng đã được các nhân viên an ninh giải tán một cách hòa bình, những người bị bắt giữ được thả ngay sau đó.
Sau các cuộc biểu tình vào tháng 6 và tháng 7, Chính phủ đã công bố các biện pháp nhằm giải quyết những vấn đề quan tâm của những người biểu tình liên quan đến đất đai trong đó việc thành lập 14 đội thanh tra liên ngành để xem xét các vụ tranh chấp đất đai chưa được giải quyết. Tuy nhiên, đến cuối năm vẫn chưa có báo cáo nào cho thấy những tranh chấp này được giải quyết.
Một số người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên và Tây Bắc tiếp tục phản ánh rằng họ chưa nhận được đền bù thích đáng cho phần đất đai của mình bị sung công trước đó để phục vụ cho các lâm trường trồng cao su và cà phê của Chính phủ.
Một số người dân đã được tái định cư đã trở về nơi ở cũ ở Sơn La và Điện Biên sau khi buộc phải di dời trong năm. Trong dự án xây dựng đập thủy điện Sơn La, Chính phủ đã cố gắng cải thiện công tác đền bù và tái định cư, song không phải gia đình nào cũng đã hài lòng.
Là đảng viên vẫn là một yêu cầu tiên quyết để thăng tiến nghề nghiệp trong mọi cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp của Chính phủ và liên quan đến Chính phủ. Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế đa dạng đã khiến cho việc trở thành đảng viên và là thành viên của các tổ chức quần chúng dưới sự quản lý của Đảng ít quan trọng hơn về mặt thăng tiến xã hội và tài chính.
Chính phủ tiếp tục triển khai chính sách kế hoạch hóa gia đình yêu cầu các gia đình chỉ chỉ sinh không quá 2 con, nhưng chính sách này lại tập trung vào việc tuyên truyền, hô hào và giáo dục chứ không bắt buộc. Chính phủ có thể không cho thăng chức và tăng lương đối với các cán bộ nhà nước thuộc khu vực công nếu họ sinh hơn hai con. Đã có một số trường hợp bị không được thăng chức hoặc phạt tiền mặc dù chính sách này dường như không được thực hiện một cách nhất quán mọi lúc mọi nơi.
Phần 2: Tôn trọng tự do công dân, bao gồm:
Tự do ngôn luận và tự do báo chí
Pháp luật có quy định tự do báo chí và tự do ngôn luận; tuy nhiên Chính phủ vẫn tiếp tục hạn chế những quyền tự do này, đặc biệt đối với phát ngôn chỉ trích các lãnh đạo chính phủ, thúc đẩy dân chủ đa nguyên hay đa đảng, hoặc chất vấn các chính sách liên quan đến những vấn đề nhạy cảm như nhân quyền, tự do tôn giáo hay hiệp định phân định biên giới với Trung Quốc. Ranh giới giữa phát ngôn cá nhân và phát ngôn công khai vẫn còn quy định khá tùy tiện.
Cả Hiến pháp và Bộ Luật Hình sự đều có các điều khoản chung về an ninh quốc gia và chống nói xấu, phỉ báng mà Chính phủ sử dụng để hạn chế tự do ngôn luận và tự do báo chí. Bộ Luật Hình sự quy định tội “ngầm phá hoại nền tảng của chủ nghĩa xã hội”, “gây chia rẽ giữa những người theo tôn giáo và không theo tôn giáo” và “tổ chức tuyên truyền chống lại Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” là những tội nghiêm trọng đối với an ninh quốc gia. Bộ Luật hình sự cũng cấm “lợi dụng quyền tự do dân chủ vi phạm lợi ích của nhà nước và các tổ chức xã hội."
Đảng Cộng sản Việt Nam, Chính phủ và các tổ chức quần chúng do Đảng lãnh đạo kiểm soát mọi hoạt động in ấn, phát thanh và truyền thông điện tử mặc dù một số tổ chức truyền thông không ngừng thúc đẩy nỗ lực nới lỏng việc kiểm duyệt. Chính phủ thực hiện việc giám sát thông qua Bộ Văn hóa Thông tin, bộ này năm nay mới đổi thành Bộ Thông tin và Truyền thông và tăng cường việc kiểm soát thông qua việc triển khai khắp cả nước hướng dẫn của Đảng và các quy định pháp luật về an ninh quốc gia đủ rộng để đảm bảo việc tự kiểm duyệt một cách hiệu quả của các phương tiện truyền thông trong nước.
Ngày 9 tháng 1, ông Trương Tấn Sang - Ủy viên Bộ Chính trị - có bài phát biểu kêu gọi Đảng Cộng sản Việt Nam tăng cường “công tác quản lý báo chí” bằng việc “sửa đổi các văn bản pháp luật về các hoạt động báo chí và nâng cao đạo đức, kĩ năng và lập trường chính trị của cán bộ làm công tác truyền thông báo chí”. Sau khi nêu bật chi tiết về vai trò tích cực của truyền thông báo chí trong công cuộc phát triển kinh tế, ông Trương Tấn Sang nhấn mạnh rằng Đảng Cộng sản Việt Nam “phải nâng cao vai trò lãnh đạo của mình” trong việc bổ nhiệm và tuyển dụng cán bộ làm công tác báo chí truyền thông. Thêm vào đó, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã khẳng định tại các cuộc gặp giao ban toàn thể – thường là định kỳ 6 tháng – với giới báo chí truyền thông của nhà nước rằng báo chí truyền thông phải thực hiện vai trò của mình trong việc triển khai chính sách và đường lối của đảng.
Vào tháng 8, giải thưởng báo chí quốc gia đầu tiên đã được trao cho Báo Quân đội Nhân dân vì những thành tựu trong việc vạch trần những nguy cơ “phản động” và “những ảnh hưởng thù địch” phá hoại đất nước.
Theo một số nguồn tin cho biết, tổng biên tập của một số tạp chí xuất bản định kỳ đã bị đe dọa trừng phạt vì cho đăng những lời chỉ trích chính phủ bao gồm việc tiết lộ các cáo buộc tham nhũng của quan chức. Hồi cuối năm, hai phó tổng biên tập của báo Tuổi Trẻ - tờ báo ra hàng ngày, có trụ sở tại TP Hồ Chí Minh – đã bị bãi nhiệm vì đã cho đăng các bài báo năm 2006 cho rằng Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã trao cho con trai mình một hợp đồng in các loại tiền polymer mới.
Cuối năm, những lời tuyên bố của Trung Quốc về chủ quyền đối với các quần đảo đang tranh chấp ở Biển Đông đã gây ra sự bất bình tức giận lớn trong nhân dân và giới truyền thông. Để kiểm soát sự phản ứng lan rộng, được biết Chính phủ đã yêu cầu báo chí giữ im lặng về vấn đề này. VietnamNet, một tờ tin tức trực tuyến lớn, đã đăng một bài xã luận vào tháng 12 về vấn đề này và đã bị Bộ Thông tin và Truyền thông phạt hai nghìn đô-la Mỹ (32 triệu đồng Việt Nam). Tổng biên tập thì bị cảnh báo rằng sẽ có thể bị cho thôi chức vụ đương nhiệm. Đến cuối năm, vị tổng biên tập vẫn tại chức nhưng đã có thêm một đồng tổng biên tập do Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ định để giám sát việc sản xuất tin tức của tờ báo mạng này.
Pháp luật quy định các nhà báo phải đền bù tài chính cho các cá nhân và tổ chức bị ảnh hưởng do việc đưa tin của nhà báo gây ra, thậm chí ngay cả khi việc đưa tin đó là đúng sự thật. Các nhà quan sát độc lập lưu ý rằng pháp luật hạn chế nghiêm ngặt việc đưa tin điều tra. Một số cơ quan truyền thông, báo chí vẫn tiếp tục thách thức những giới hạn với báo chí của Chính phủ bằng việc cho đăng các bài báo phê phán những hành động của Đảng Cộng sản và các quan chức chính phủ khác. Vẫn thấy có những tin tức báo chí về những chủ đề mà nhìn chung được coi là nhạy cảm chẳng hạn như việc truy tố các quan chức cao cấp của Đảng và chính phủ với tội danh tham nhũng, cũng như thỉnh thoảng có tin bài chỉ trích, phê phán các quan chức và các hội chính thức nào đó. Tuy nhiên, tự do phê phán, chỉ trích Đảng Cộng sản và các lãnh đạo Đảng vẫn bị hạn chế nghiêm ngặt.
Vào tháng 6, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký nghị định nghiêm cấm các nhân viên chính phủ và các đảng viên, ngoại trừ các bộ trưởng, chủ tịch tỉnh hoặc các phát ngôn viên được bổ nhiệm, tiếp xúc với báo chí. Nghị định luật hóa một số quy trình thủ tục mà các nhà báo phải tuân thủ trước khi được quyền phỏng vấn nhưng lại không quy định rõ biện pháp trừng phạt các quan chức tiết lộ thông tin khi chưa được phép. Các nhà báo trong nước và quốc tế cho rằng nghị định này là bước đi chính thức hóa chính sách được ngầm định từ trước.
Một số nhân vật bày tỏ ý kiến khác biệt về các vấn đề chính trị hoặc tôn giáo đều không được phép xuất ngoại hoặc không được cấp hộ chiếu.
Các nhà báo nước ngoài phải được sự thông qua của Trung tâm báo chí Bộ Ngoại giao và phải có trụ sở ở Hà Nôi, ngoại trừ một phóng viên tường thuật các vấn đề kinh tế sinh sống và có văn phòng làm việc tại TP Hồ Chí Minh nhưng chính thức đăng ký hoạt động tại Hà Nội. Các nhà báo nước ngoài được yêu cầu ra hạn thị thực mỗi ba đến sáu tháng và các quy trình thực hiện hoàn toàn bình thường và không có trường hợp xin ra hạn nào bị khước từ. Số lượng nhân viên báo chí nước ngoài được phép hoạt động bị hạn chế và người dân nếu làm việc cho các hãng thông tấn nước ngoài phải đăng ký với Bộ Ngoại giao.
Các hãng thông tấn nước ngoài có vẻ dễ dàng hơn trong việc thuê phóng viên và nhiếp ảnh gia địa phương cũng như được chính thức cấp phép hoạt động mặc dù quy trình tiến hành còn khá nhiêu khê. Trung tâm báo chí Bộ Ngoại giao thường giám sát hoạt động của các nhà báo và cấp phép thông qua các cuộc phỏng vấn, ghi hình, chụp ảnh hoặc du lịch với điều kiện các yêu cầu này phải được đệ trình lên trước 5 ngày trên cơ sở tùng yêu cầu riêng biệt. Theo luật định, các nhà báo nước ngoài phải trả lời tất cả các câu hỏi của các cơ quan chính phủ thông qua Bộ Ngoại giao mặc dù trên thực tế, thủ tục này thường bị cho qua. Các nhà báo nước ngoài cho biết rằng họ thường không thông báo cho chính quyền biết việc họ đi thực tế ngoài Hà Nội trừ khi chuyến đi có liên quan đến vấn đề mà chính quyền cho là nhạy cảm hoặc họ đi đến các khu vực nhạy cảm như Tây Nguyên.
Chính quyền hạn chế việc xuất bản và truyền bá các tài liệu tôn giáo
Một số ấn phẩm bằng tiếng nước ngoài của một số cuốn sách bị cấm được người bán hàng rong và các cửa hàng cho khách du lịch bán rộng rãi. Các tờ tạp chí định kỳ bằng tiếng nước ngoài được bán rộng rãi tại các thành phố mặc dù các tạp chí này có đăng tải một số bài báo đôi khi được chính quyền kiểm duyệt. Cơ quan kiểm duyệt của chính quyền đe dọa cấm phát hành cuốn sách “Điệp viên hoàn hảo”, một cuốn tiểu thuyết về cuộc đời hoạt động của nhà tình báo Việt Cộng Phạm Xuân Ẩn. Tuy nhiên vào tháng 8, một công ty thuộc sở hữu nhà nước và chịu sự chỉ đạo của Đảng đã xuất bản cuốn sách.
Luật định hạn chế tiếp cận truyền hình vệ tinh đối với các quan chức cấp cao, người nước ngoài, các khách sạn cao cấp và giới báo chí. Tuy nhiên trên thực tế, người dân trên cả nước có thể tiếp cận các kênh truyền hình nước ngoài thông qua thiết bị thu tính hiệu vệ tinh hoặc truyền hình cáp. Người dân thành thị đã có thể tiếp cận tự do và rộng rãi dịch vụ truyền hình cáp, bao gồm các kênh nước ngoài. Không giống như năm 2006, chính quyền không chặn người đăng ký dịch vụ bắt sóng một số chương trình nhất định.
Tự do Internet
Chính quyền cho phép việc tiếp cận Internet thông qua một số ít các nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP) và tất cả các nhà cung cấp dịch vụ này đều là các công ty cổ phần thuộc sở hữu nhà nước. Trong suốt năm qua, việc sử dụng Internet đã đạt tốc độ gia tăng rất nhanh và đến cuối năm, con số người sử dụng Internet ước tính đat 18 triệu trên số dân 84 triệu người. Việc lập nhật ký cá nhân mở trực tuyến (blog) không những đã trở thành một hiện tượng trong giới trẻ mà những người lớn tuổi hoặc các nhà chuyên môn cũng có blog riêng của mình. Ngoài ra, một số nhà báo in và báo điện tử trực tuyến cũng có blog riêng. Đối với một số người trong số này, các blog của họ còn viết về các vấn đề được tranh luận sôi nổi hơn so với các bài viết được đăng chính thống của họ. Một số nhà báo cũng đã bị chính quyền xử phạt vì chính những bài viết trên blog của họ.
Chính quyền nghiêm cấp việc tiếp cận Internet thông qua các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài và yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ trong nước lưu trữ thông tin được truyền dẫn trong vòng ít nhất là 15 ngày cũng như trợ giúp kỹ thuật và tạo điều kiện cho lực lượng công an kiểm soát các hoạt động trên Internet.
Chính quyền cũng yêu cầu các đơn vị kinh doanh internet như các quán cà phê internet, đăng ký thông tin về khách hàng của mình cũng như lưu trữ các trang web được khách hàng truy cập. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều chủ quán cà phê internet không tuân thủ quy định này và không lưu trữ những thông tin trên và tương tự, việc liệu các nhà cung cấp dịch vụ internet chính có tuân thủ theo các quy định này hay không còn chưa rõ ràng.
Chính quyền cũng giám sát các hòm thư điện tử, tìm kiếm các từ nhạy cảm, quy định các nội dung internet được truy cập và chặn nhiều trang web có mang nội dung tôn giáo hoặc chính trị mà chính quyền cho là “chống phá”. Chính quyền cho rằng việc kiểm duyệt internet là hành động cần thiết để bảo vệ người dân khỏi nguồn sách báo đồi trụy và các nội dung “xấu” hoặc “phản xã hội” khác. Bên cạnh đó, chính quyền cũng cho rằng họ đang nỗ lực để hạn chế việc tiếp cận internet trong giới học đường để tránh tình trạng các em học sinh bỏ học để chơi game.
Điều 88 quy định rõ rằng nghiêm cấp các cá nhân tải và truyền bá các tài liệu mà chính quyền cho là “chống phá."
Chính quyền liên tiếp bắt giam và bỏ tù những người bất đồng chính kiến sử dụng internet để truyền bá các tư tưởng về nhân quyền và đa nguyên chính trị. Ví dụ, vào ngày 21 tháng 4, nhà văn và nhà báo mạng Trần Khải Thanh Thủy đã bị bắt giữ tại nhà ở Hà Nội vì đã vi phạm Điều 88. Theo các nguồn tin cho biết, Thủy đã thể hiện quan điểm chính trị của mình trên một số trang web trong nước. Vào cuối năm, Thủy vẫn bị giam tại một nhà tù ở Hà Nội mà không được quyền tiếp cận gia đình và luật sư riêng. Các luật sư ủng hộ phong trào nhân quyền tại Hà Nội là Nguyễn Văn Đài và Lưu Thị Công Nhân cũng đã bị bắt giam và xét xử theo điều 88. Tại phiên tòa xét xử hai luật sư này vào tháng 5, các tội danh liên quan đến vụ án chủ yếu xoay quanh tội tải về, viết và truyền bá các tài liệu ủng hộ dân chủ trên internet.
Một số các cá nhân khác cũng bị bắt giữ vì tội sử dụng sai trái các dịch vụ internet bao gồm tham gia các diễn đàn trên mạng, các diễn đàn trò chuyện trực tuyến và viết các tài liệu về nhân quyền và ủng hộ dân chủ.
Chính quyền không ngừng sử dụng tường lửa để chặn các trang web có nội dung văn hóa hoặc chính trị được xem là không phù hợp, bao gồm các trang do các nhóm chính trị Việt kiều điều hành. Chính quyền có vẻ đã dỡ bỏ hầu hết các hạn chế đối với việc truy cập trang web của Đài tiếng nói Hoa Kỳ. Mặc dù việc tiếp cận Đài tự do Á Châu (RFA) rất thất thường và chủ yếu ở miền Bắc, báo chí trong nước đôi lúc vẫn lấy tin viết bài dựa trên các bài phát thanh của RFA. Việc tiếp cận các trang web do các nhóm bất đồng chính kiến hải ngoại điều hành vẫn bị hạn chế.
Bộ Thông tin và Truyền thông yêu cầu các chủ trang web trong nước, bao gồm các trang do các chủ thể nước ngoài điều hành, phải đăng ký tên miền của trang web với chính quyền và đệ trình nội dung dự kiến cũng như quy mô của trang web để chờ chính quyền thông qua, tuy nhiên, việc thực thi quy định này còn hạn chế.
Một trường hợp điển hình và khá nổi tiếng đó là Intellasia, một ấn phẩm trực tuyến về tin tức và đầu tư, đã bị các tờ báo do chính quyền bảo trợ công khai chỉ trích và buộc tội là đã phạm pháp vì trang web “đăng tải nội dung phản động”. Báo chí và truyền thông đưa tin rằng cảnh sát đã phát hiện hoạt động điều hành trang web không được cấp phép bởi một công dân Úc và rằng trang web đã “đăng tải nhiều bài báo bóp méo và có nội dung phản động về tình hình chính trị, nhân quyền và dân chủ của đất nước”. Các nhân viên điều tra của chính quyền đã xác nhận và buộc tội rằng công ty điều hành trang web, Công ty TNHH Trí Tuệ Á Châu đã vi phạm Nghị định 55 về hoạt động báo chí. Intellasia cũng bị nghi ngờ đã tham gia xuất bản “các tin tức chính trị mang tính phê phán” và điều hành một máy chủ web ở nước ngoài. Vào tháng 8, chính quyền đã chặn việc truy cập trang web này ở trong nước. Vào tháng 9, chủ trang web người Úc đã chạy trốn khỏi Việt Nam và buộc tội rằng các nhân viên an ninh đã đe dọa sẽ bỏ tù vợ và nhân viên của ông và đã sử dụng thủ thuật tấn công mạng và từ chối dịch vụ để làm sập trang web. Vào cuối năm, Intellasia đã bắt đầu được điều hành từ nước ngoài.
Tự do học thuật và các sự kiện văn hóa
Chính quyền khẳng định quyền hạn chế tự do học thuật và các nhà nghiên cứu các lĩnh vực có liên quan đến nước ngoài đôi khi vẫn bị thẩm vấn và giám sát. Tuy nhiên, chính quyền cũng tiếp tục cho phép việc tiếp cận các nguồn thông tin mở hơn một số năm trước đây, bao gồm hệ thống đại học. Các cán bộ thư viện liên tục được tập huấn qua các khóa đào tạo nghiệp vụ và tiêu chuẩn quốc tế hỗ trợ hệ thông thư viện quốc tế và việc trao đổi thông tin, nghiên cứu. Các chuyên gia giáo dục nước ngoài hiện đang làm việc tạm thời tại các trường đại học trên cả nước được phép thảo luận thoải mái và rộng rãi các vấn đề phi chính trị trên lớp học nhưng chính quyền vẫn thường xuyên giám sát các lớp học do người nước ngoài và người bản xứ giảng dạy. Các nhân viên an ninh thỉnh thoảng vẫn thẩm vấn những người tham gia vào các chương trình đào tạo về các học thuyết ngoại giao hoặc sử dụng các cơ sở vật chất nghiên cứu về ngoại giao. Các ấn phẩm dùng trong nhà trường luôn thể hiện quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính quyền.
Vào tháng 3, bốn tác giả, thành viên của một giới trí thức bất đồng chính kiến cũ từ những năm 50 và từng bị cấm vị đã sáng tác những bài thơ phê phán chính sách của chính quyền, đã được nhận giải thưởng quốc gia vì các thành tựu nghệ thuật của mình. Hai trong số những tác giả này đã qua đời. Động thái này được xem như một dấu hiệu thận trọng trong việc tạo chấp nhận tự do trong sáng tác học thuật.
Chính quyền nhìn chung vẫn kiểm soát các hoạt động triển lãm nghệ thuật, biểu diễn âm nhạc và các hoạt động văn hóa khác nhưng vẫn cho phép nghệ sỹ có tự do nhiều hơn trong việc lựa chọn tiêu đề cho tác phẩm nghệ thuật của mình.
Tự do hội họp hoà bình và lập hội
Tự do hội họp
Quyền tụ tập được luật pháp hạn chế và chính quyền hạn chế cũng như kiểm soát mọi hình thức biểu tình hoặc tụ tập công cộng. Các cá nhân có nhu cầu tụ tập thành nhóm theo luật định phải xin phép và tùy thuộc vào việc chính quyền địa phương có đồng ý cho tụ tập hay không. Trên thực tế, chỉ các nhóm tụ tập công khai thảo luận các vấn đề nhạy cảm là phải xin phép, còn nhìn chung các hoạt động tụ tập không chính thức thông thường không có sự can thiệp của chính quyền. Nhìn chung, chính quyền không cho phép tổ chức biểu tình vì mục đích chính trị và hạn chế quyền tụ tập thờ phụng của các nhóm tôn giáo không có đăng ký.
Vào ngày 5 tháng 4, các cơ quan an ninh đã ngăn chặn một cuộc gặp mặt tại nhà riêng của một đại sứ giữa một phái đoàn nghị viện và 5 thành viên trong nhóm các nhà hoạt động chính trị. Vào tháng 11, cảnh sát cũng đã giải tán một cuộc tụ tập tại nhà thờ tại gia của các tín đồ Tin lành tại Hải Phòng. Một số cuộc tụ tập tôn giáo “không đăng ký” như vậy cũng bị giải tán hoặc ngăn chặn tại khu vực Tây bắc và những tín đồ tôn giáo thường buộc tội chính quyền địa phương thỉnh thoảng vẫn thuê “côn đồ hợp đồng” để làm gây phiền nhiễu hoặc đánh đập họ.
Vẫn như các năm trước, các cuộc biểu tình ôn hòa do người dân tổ chức để đòi đền bù đất vẫn thường xuyên diễn ra tại TP Hồ Chí Minh. Cảnh sát vẫn giám sát những người biểu tình này nhưng nhìn chung không gây phiền phức gì cho họ. Vào tháng 6 và tháng 7, khoản vài trăm người biểu tình đã mắc màn trước một tòa nhà chính phủ ở TP Hồ Chí Minh trong vòng hơn 30 ngày. Khi một số thành viên có tiếng trong tổ chức không được công nhận Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất tham gia, cảnh sát đã giải tán cuộc biểu tình. Ngoài ra, cuối năm qua tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh cũng đã diễn ra cuộc biểu tình chống Trung Quốc do những tranh chấp chủ quyền kéo dài đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cảnh sát đã giám sát các cuộc biểu tình và cuối cùng đã giải tán các cuộc biểu tình mà không xảy ra bạo động đáng kể nào.
Tự do lập hội
Chính quyền nghiêm cấm các hoạt động tự do hội họp. Các đảng phái chính trị đối lập đều không được phép hoạt động hoặc hưởng khoan nhượng. Chính quyền nghiêm cấm việc thành lập hợp pháp các tổ chức tư nhân, độc lập và yêu cầu mọi người phải hoạt động trong các tổ chức quần chúng được thành lập và kiểm soát bởi đảng, thường là dưới sự quản lý của Mặt trận tổ quốc Việt Nam. Tuy nhiên, một số thực thể bao gồm các nhóm tôn giáo không đăng ký vẫn hoạt động ngoài khuôn khổ này mà không chịu hoặc ít chịu sự can thiệp từ phía chính quyền.
Vào tháng 6, Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh về dân chủ ở cơ sở, cho phép người dân, với sự tham gia của đại diện Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở địa phương, tổ chức các cuộc họp để thảo luận các và đưa ra giải pháp cho các vấn đề địa phương và đề cử lãnh đạo địa phương. Pháp lệnh này cũng thể hiện những nỗ lực tăng cường tính minh bạch trong hoạt động quản trị ở địa phương thông qua việc yêu cầu các chính quyền xã công khai việc quyên góp xây dựng quỹ và việc sử dụng các quỹ ấy như thế nào để phục vụ hoạt động phát triển kinh tế của địa phương nhưng cho đến cuối năm, Pháp lệnh này vẫn chưa được đưa vào thực tế.
Khối 8406, một nhóm các nhà hoạt động chính trị kêu gọi thành lập một nhà nước đa đảng vẫn tiếp tục tồn tại mặc dù các thành viên cấp cao đã bị bắt và giam giữ trong một cuộc truy xét vào hồi đầu năm và các thành viên khác đang phải đối mặt với rắc rối vì những hoạt động chính trị ôn hòa của mình. Khối 8406 tuyên bố có hơn 2.000 người ủng hộ trong nước mặc dù con số này chưa được xác minh. Ít nhất khoảng 10 thành viên của nhóm đã bị giam giữ vào cuối năm.
Chính quyền tiếp tục bắt giữ các thành viên của một nhóm hoạt động khác, Đảng Dân chủ Nhân dân Việt Nam và một nhóm có liên quan, Tổ chức Công-Nông Liên hiệp. Một vài cá nhân đã bị đưa ra xét xử và bị kến án tù, trong khi đó một số khác đã bị bắt giữ vào dịp cuối năm.
Tự do tôn giáo
Hiến pháp và các nghị định của Chính phủ quy định về tự do thờ phụng, và việc tôn trọng quyền tự do tôn giáo đã có cải thiện trong năm qua nhưng chính quyền vẫn kiên quyết hạn chế các hoạt động chính trị có tổ chức của các nhóm tôn giáo. Nhưng bên cạnh đó, chính quyền đã nới lỏng các hạn chế về hoạt động tôn giáo và các hoạt động này tiếp tục gia tăng nhanh chóng.
Vẫn còn tồn tại các vấn đề trong việc thực thi những quy định về tôn giáo được ban hành trong hai năm 2004-2005. Các vấn đề này bao gồm trì hoãn kéo dài hoặc trong một số trường hợp là không thực hiện việc đăng ký của các chi hội Tin lành tại miền Bắc và Tây bắc; việc áp dụng không đồng bộ các thủ tục đăng ký chi hội và các yêu cầu pháp lý khác; việc tiếp tục hạn chế hoạt động chiêu mộ tín đồ tôn giáo; khó khăn trong thành lập các đại chủng viện Công giáo và các khóa đào tạo mục sư Tin lành; và hiện tượng chiếm đoạt đất đai dẫn đến mọt số cuộc biểu tình tôn giáo. Một số chính quyền tỉnh tỏ ra rất tích cực, bên cạnh đó chính quyền ở một số tỉnh khác có vẻ không coi việc thực thi tích cực và đồng bộ những quy định về tôn giáo được ban hành trong hai năm 2004-2005 là ưu tiên hàng đầu.
Chính quyền vẫn lo lắng rằng một số nhóm dân tộc thiểu số tích cực tại Tây Nguyên đang duy trì “giáo hội Dega” tự phong. Được biết giáo hội này kết hợp hoạt động tôn giáo với hoạt động chính trị và kêu gọi các dân tộc thiểu số ly khai. Chính quyền cũng hạn chế vai trò lãnh đạo của tổ chức không được công nhận là Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất và khẳng định rằng sẽ không công nhận vai trò lãnh đạo hiện nay của tổ chức này trong hoạt động tôn giáo.
Chính quyền cũng duy trì vai trò đi đầu trong việc giám sát các tôn giáo đã được công nhận. Các nhóm tôn giáo gặp phải rất nhiều hạn chế khi họ tham gia vào các hoạt động mà chính quyền cho là hoạt động chính trị hoặc có bị xem là mối đe dọa đến vai trò cai trị của chính quyền. Chính quyền tiếp tục nghiêm cấm và tích cực ngăn cản việc tham gia vào một phái của Giáo hội phật giáo Hòa Hảo. Chính quyền cũng đã bắt giam hoặc tước pháp danh của một số tín đồ đạo Phật người dân tộc Khmer vì họ đã tham gia vào các cuộc biểu tình chống phá chính quyền tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long vào đầu năm. Một số nhân vật tôn giáo bao gồm linh mục Nguyễn Văn Lý, nhà sư Khmer Tim Sakhorn và nhà hoạt động Tin lành Nguyễn Văn Đài đã bị bỏ tù vì đã tham gia các hoạt động chính trị.
Các nhóm tôn giáo phải được đăng ký và công nhận theo luật định và hoạt động cũng như vai trò lãnh đạo của mỗi nhóm tôn giáo phải được sự thông qua của chính quyền cấp tương ứng. Luật pháp quy định chính quyền có nghĩa vụ tuân thủ khung thời gian và minh bạch nhưng quá trình thông qua việc đăng ký và công nhận các tổ chức tôn giáo đôi khi còn chậm trễ và không minh bạch. Tuy nhiên, các chi hội tôn giáo mới cũng đã được đăng ký trên toàn quốc và một số giáo phái cũng đã được đăng ký ở cấp quốc gia. Vào tháng 3, tín ngưỡng Baha’i đã được chính thức công nhận và vào tháng 10, chính quyền công nhận các nhóm tôn giáo thuộc Hội thánh Báp-tít và Mennonite Việt Nam. Giáo hội ái hữu liên cơ đốc tin lành Việt Nam và giáo hội Trưởng giáo Việt Nam cũng được công nhận cấp quốc gia. Tuy nhiên, ở miền Bắc và Tây bắc, chính quyền địa phương chưa xử lý đơn đăng ký của hơn 1000 chi hội Tin lành thuộc nhóm dân tộc thiểu số, đặc biệt là dân tộc Hmông.
Một vài chính quyền địa phương tiếp tục đòi hỏi các tổ chức tôn giáo được công nhận phải cung cấp danh sách các thành viên thuộc điếm nhóm tôn giáo và coi đây là điều kiện tiên quyết để hoàn tất việc đăng ký mặc dù yêu cầu này không được luật hóa trong những quy định về tôn giáo được ban hành trong hai năm 2004-2005. Một số chi hội tôn giáo đã đăng ký ở miền Bắc và Tây bắc phàn nàn rằng các quan chức sử dụng những danh sách này để ngăn cản các thành viên không có trong danh sách tham gia vào các buổi lễ hoặc gây khó khăn cho các hoạt động của họ. Các hoạt động hàng năm của các chi hội tôn giáo cũng phải được đăng ký với chính quyền và các hoạt động không có trong chương trình đã được cho phép của năm đó phải được chính quyền cho phép riêng.
Trong các năm qua, việc giám sát chính thức đối với các tôn giáo được công nhận và các chi hội tôn giáo trực thuộc cũng như các vấn đề nảy sinh mà những tín đồ của các tôn giáo chưa được công nhận hoặc của các chi hội tôn giáo chưa được công nhận hoặc của các tôn giáo đã được công nhận gặp phải mang tính chất đa dạng theo từng địa phương và thông thường là do hậu quả từ việc những chính sách quốc gia bị thực hiện một cách xao lãng hoặc do cách hiểu các chính sách này có sự khác biệt giữa các địa phương. Nhìn chung, các nỗ lực điều phối của cấp trung ương trong công tác thực thi đầy đủ các quy định pháp lý của Chính phủ về tôn giáo đã giúp làm giảm tần suất và mức độ các vụ việc vi phạm quyền tự do tôn giáo. Tuy nhiên, hoạt động của các nhóm tôn giáo chưa đăng ký hoặc chưa được công nhận về mặt kỹ thuật vẫn mang tính bất hợp pháp và những nhóm này thỉnh thoảng vẫn phải chịu sự phiền hà. Mức độ phiền hà so với các năm trước đã giảm và phần lớn các cơ sở tôn giáo chưa đăng ký đều được phép hoạt động mà không có sự can thiệp.
Chính quyền chủ động ngăn cản liên lạc giữa tổ chức không được pháp luật công nhận là Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất và các lực lượng ủng hộ tổ chức này ở nước ngoài, dù vậy những cuộc tiếp xúc và liên lạc đó vẫn tiếp tục. Cảnh sát thường vẫn tra hỏi một số cá nhân có tôn giáo hoặc quan điểm chính trị khác biệt ví dụ như các nhà sư thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất và các linh mục Công giáo. Cảnh sát tiếp tục hạn chế việc tự do đi lại của các nhà sư thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất.
Có ít lời buộc tội đáng tin cậy về việc ép buộc từ bỏ tôn giáo trong năm qua. Tuy nhiên, có một số báo cáo riêng biệt nhưng đáng tin cậy của các chính quyền địa phương tại một số tỉnh Tây bắc về việc “khuyến khích bỏ đạo” đối với một số tín đồ mới được cải đạo sang Thiên chúa giáo và gây sức ép để họ trở về với tín ngưỡng truyền thống. Một số người này cho biết họ cũng bị lên án vì đã “tin vào tôn giáo Hoa Kỳ” và do đó bị coi là “kẻ thù của nhà nước”. Một tài liệu tập huấn cho các quan chức địa phương do Ban Tôn giáo Chính phủ xuất bản vào cuối năm 2006 dường như khuyến khích các tín đồ mới được đổi sang đạo Thiên chúa quay trở lại với tín ngưỡng truyền thống của họ. Tài liệu tập huấn này cũng đã được các nhóm nhân quyền quốc tế chỉ rõ và được biết đã được chỉnh sửa trong năm để đáp ứng các yêu cầu pháp lý.
Các bài báo của báo chí địa phương khuyến khích chính quyền địa phương và các dân tộc thiểu số ủng hộ thuyết duy linh và các tín ngưỡng truyền thống và khước từ tín ngưỡng Tin lành.
Tín đồ đạo Phật dưới sự quản lý của Hội đồng trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, tổ chức quản lý Phật giáo được chính thức công nhận, nhìn chung được tự do hành đạo. Cho dù số này chiếm đa phần các tín đồ đạo Phật, chính quyền vẫn tiếp tục gây khó khăn cho các thành viên của tổ chức Phật giáo bị cấm là Giáo hội Phật giáo Việt nam thống nhất và ngăn cản họ tiến hành các hoạt động tôn giáo độc lập bên ngoài các cơ sở thờ tự của họ.
Vào tháng 2, chính quyền đã khước từ việc bổ nhiệm hai giám mục Công giáo do Vatican ủng hộ. Tuy nhiên các quan chức Công giáo cho biết rằng chính quyền nhìn chung vẫn tiếp tục nới lỏng những hạn chế đối với việc bổ nhiệm giám mục mới. Vào tháng 8, giới chức và tín đồ dòng Tên đã khánh thành một cơ sở đào tạo mới tại TP Hồ Chí Minh. Giáo hội Công giáo cũng cho biết giáo hội này đang thăm dò để xin phép chính quyền thành lập thêm các đại chủng viện mới. Vào cuối năm, chính quyền đã thành lập một nhóm công tác chung với Vatican để xây dựng các nguyên tắc và lộ trình cho việc tiến tới thiết lập quan hệ chính thức.
Một số giới chức Công giáo cho biết chính quyền tiếp tục nới lỏng kiểm soát đối với hoạt động tại một số giáo phận nhất định trong năm qua. Tại nhiều địa phương, chính quyền địa phương chính thức cho phép Nhà thờ mở các lớp giảng về tôn giáo (ngoài giờ học học chính thức) và tiến hành các hoạt động từ thiện. Chính quyền TP Hồ Chí Minh tiếp tục tạo điều kiện đẩy mạnh các hoạt động từ thiện của Nhà thờ trong cuộc chiến chống lại HIV/AIDS; tuy nhiên các hoạt động khác cũng như việc cấp phép cho các tổ chức phi chính phủ Công giáo vẫn bị trì hoãn.
Ít nhất 10 tín đồ Hòa Hảo vẫn bị giam giữ trong tù vì bị buộc tội giữ vai trò quan trọng trong một cuộc biểu tình và có va chạm với cảnh sát trong sự kiện tôn giáo năm 2005. Những nhà sư và tín đồ đạo Hòa Hảo ủng hộ Ban Trị sự Phật giáo Hòa Hảo được chính phủ phê chuẩn được tự do hành đạo. Những nhà sư hoặc tín đồ thuộc nhóm bất đồng chính kiến hoặc không công nhận tính hợp pháp của Ban Trị sự bị hạn chế hoạt động.
Các báo cáo cho thấy ở một số trường nội trú, tình trạng đối xử phân biệt đối với trẻ em từ các gia đình theo các tôn giáo, đặc biệt là đạo Tin lành, tiếp tục diễn ra. Năm 1997, chính quyền ban hành một thông tư dường như quy định cấm các tín đồ tôn giáo tham gia học tập tại một số trường; tuy nhiên