jump over navigation bar
Embassy SealBộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Đại sứ quán Hợp chúng quốc Hoa Kỳ - Hanoi, Vietnam flag graphic
Thông tin cập nhật
 
  Các dịch vụ của AC Dịch vụ Reference Update Tư liệu dịch Kinh tế & Thương mại An ninh khu vực Các vấn đề toàn cầu Báo chí, truyền thông và công nghệ thông tin Chính trị, xã hội và văn hóa Mỹ

Các vấn đề toàn cầu

BÁO CÁO VỀ TÌNH HÌNH NHÂN QUYỀN Ở CÁC NƯỚC, NĂM 2008

Do Cục Dân chủ, Nhân quyền và Lao động, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ phát hành, ngày 25/2/2009

VIỆT NAM

Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, với dân số khoảng 86 triệu người, là một nhà nước độc tài do Đảng Cộng sản Việt Nam (Đảng Cộng sản Việt Nam) lãnh đạo. Cuộc bầu cử Quốc hội gần đây nhất được tổ chức hồi tháng 5/2007 không phải là cuộc bầu cử tự do và bình đẳng vì tất cả các ứng cử viên đều được Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, một tổ chức của Đảng, lựa chọn. Mặt trận là cơ quan có trách nhiệm giám sát các tổ chức đoàn thể cả nước. Nhìn chung, chính quyền dân sự các cấp kiểm soát hữu hiệu các lực lượng an ninh.
 
Thành tích nhân quyền của Chính phủ vẫn không thoả đáng. Người dân không thể thay đổi Chính phủ. Các phong trào chính trị đối lập bị cấm. Chính phủ tiếp tục đàn áp những người bất đồng chính kiến, bắt giữ một số nhà hoạt động chính trị và khiến một số người bất đồng chính kiến phải chạy ra nước ngoài. Công an đôi khi còn ngược đãi nghi can trong các vụ bắt bớ, giam giữ và hỏi cung. Tham nhũng là vấn đề nghiêm trọng trong lực lượng công an, và đôi khi công an hành động tùy tiện mà không bị trừng phạt. Điều kiện nhà tù thường là khắc nghiệt. Cá nhân bị giam giữ tùy tiện vì hoạt động chính trị, và bị tước quyền được xét xử công bằng và khẩn trương. Chính phủ tiếp tục hạn chế các quyền riêng tư của công dân và tăng cường kiểm soát báo chí và quyền tự do ngôn luận, hội họp, đi lại và lập hội. Chính phủ duy trì lệnh cấm hình thành các tổ chức nhân quyền độc lập. Bạo lực và phân biệt đối xử với phụ nữ vẫn diễn ra. Tình trạng buôn người tiếp tục là vấn đề nghiêm trọng. Một số nhóm dân tộc thiểu số bị phân biệt đối xử trong xã hội. Chính phủ hạn chế quyền của người lao động, bắt bớ hoặc gây khó khăn cho một số nhà hoạt động trong lĩnh vực lao động.

TÔN TRỌNG NHÂN QUYỀN

Phần 1: Tôn trọng phẩm giá con người, không bị:

a. Tước đi cuộc sống một cách tùy tiện và bất hợp pháp

Không có báo cáo nào cho thấy Chính phủ hoặc các cơ quan chính phủ gây ra bất kỳ vụ sát hại nào vì động cơ chính trị. Tuy nhiên, có một báo cáo xác nhận về một người bị chết trong trại giam của công an.

Ngày 1/5, Y Ben Hdok, một người Thượng ở Đắc-lắc đã chết trong khi đang bị giam giữ tại đồn công an tỉnh Buôn Ma Thuột. Công an đã bắt giam anh ngày 28/4 để hỏi cung vì nghi ngờ anh ta dính líu vào việc kích động biểu tình. Cán bộ khẳng định rằng nghi can đã treo cổ trong giờ giải lao sau khi thẩm vấn. Tuy nhiên, người nhà cho biết thi thể anh ta có những vết bầm tím. Không có cuộc điều tra nào được thực hiện và có tin là gia đình từ chối không cho khám nghiệm tử thi.

Cũng có các báo cáo cho biết một tù nhân người Thượng nữa cũng đã chết ngay sau khi được thả, nhưng không thể xác định nguyên nhân.

Không có tiến triển nào xung quanh việc điều tra cái chết của Y Ngo Adrong năm 2006.

b. Mất tích

Giáo hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam không đăng ký cho biết Thượng toạ Thích Trí Khải, người đã bị công an bắt tại chùa của ông ở Lâm Đồng hồi tháng 4, cho đến cuối năm vẫn mất tích.

Theo báo cáo của các tổ chức phi chính phủ và giới báo chí, nhà hoạt động chính trị Tim Sakhorn, bị kết án một năm tù giam hồi tháng 11/2007 vì “phá hoại đoàn kết dân tộc” và được thả hồi tháng 7, đang cư trú tại tỉnh An Giang dưới hình thức quản chế tại gia và luôn bị công an theo dõi. Lê Trí, một công dân Việt Nam và là một nhà hoạt động chính trị, mất tích tại Căm-pu-chia hồi tháng 5/2007, đến cuối năm vẫn mất tích.

c. Tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, phi nhân tính hoặc xúc phạm

Luật pháp cấm xâm phạm thân thể; nhưng công an vẫn thường xuyên đánh đập nghi can khi họ bị bắt giam.
Có những báo cáo về các vụ công an địa phương sách nhiễu ở các tỉnh Điện Biên, Thanh Hóa, Sơn La và Thái Bình. Tin cho biết những người biểu tình đòi đất ở tỉnh An Giang bị các nhà chức trách địa phương gây khó dễ.

Có những báo cáo cho biết công an sách nhiễu và đánh đập những người thiểu số từ Căm-pu-chia trở về Tây Nguyên, mặc dù hầu hết báo cáo đều không nêu cụ thể vụ việc. Các nhà quan sát nhận thấy hầu hết các vụ việc đều liên quan đến đất đai, tiền nong hoặc tranh chấp nội bộ.

Trong suốt năm,, chính quyền buộc các nhà hoạt động phải vào các bệnh viện tâm thần điều trị như một thủ thuật nhằm dẹp yên tiếng nói bất đồng

Điều kiện sinh hoạt trong nhà tù và trại giam

Điều kiện nhà tù có thể khắc nghiệt, nhưng nhìn chung không đe dọa đến mạng sống của tù nhân. Dẫu vậy, tình trạng quá tải, khẩu phần ăn không đủ, thiếu nước sạch và điều kiện vệ sinh kém vẫn là những vấn đề nghiêm trọng tại nhiều nhà tù. Tù nhân được tiếp cận với các dịch vụ y tế cơ bản và được hưởng thêm các dịch vụ y tế ở các bệnh viện huyện và tỉnh. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp cán bộ ngăn cản người thân trong gia đình gửi thuốc men cho tù nhân. Tù nhân buộc phải lao động, nhưng không có tiền công. Đôi khi tù nhân bị chuyển tới phòng biệt giam. Ở đó họ không được đọc và viết trong khoảng thời gian kéo dài hàng tháng. Thân nhân khẳng định chắc chắn tù nhân được đối xử tốt hơn nếu đút lót cán bộ trại giam.

Thành viên gia đình của một số nhân vật bất đồng chính kiến cho biết điều kiện sinh hoạt tại nhà tù Xuân Lộc ở tỉnh Đồng Nai đã được cải thiện. Trong chuyến thăm tới nhà tù này hồi tháng 6, các nhà ngoại giao nước ngoài nhận thấy khu vực sinh hoạt tuy thiếu thốn nhưng sạch sẽ và điều kiện lao động nhìn chung chấp nhận được. Thân nhân của một nhà hoạt động bị gẫy tay trong một nhà tù tại tỉnh Kiên Giang xác nhận điều kiện chữa trị rất thiếu thốn, khiến ông này đôi khi không cử động được. Thân nhân của Cha Nguyễn Văn Lý cho biết ông vẫn chưa được có Kinh Thánh.

Chính phủ nhìn chung không cho phép Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế hoặc các tổ chức phi chính phủ đến thăm các nhà tù, và trong cả năm không có cuộc thăm viếng nào. Tuy nhiên, các nhà chức trách đã cho phép các nhà ngoại giao nước ngoài và một phái đoàn tôn giáo thực hiện những chuyến thăm nhà tù trong chừng mực nhất định và gặp gỡ với các tù nhân. Yêu cầu được thăm tù nhân của các nhà quan sát ngoại giao khác hầu hết không được chấp thuận.

d. Bắt bớ và giam giữ tùy tiện

Luật hình sự cho phép Chính phủ giam giữ mà không cáo buộc theo các điều khoản “an ninh quốc gia” mơ hồ, quy định tại các điều 84, 88 và 258. Chính phủ cũng đã bắt giam một số cá nhân theo các điều khoản khác. Chính phủ tiến hành quản chế hành chính hay quản thúc tại gia đối với một số nhân vật bất đồng chính kiến trên cả nước.

Vai trò của công an và lực lượng an ninh

Đảm bảo an ninh trong nước là trách nhiệm chính của Bộ Công an; tuy nhiên, ở một số vùng hẻo lánh thì quân đội là cơ quan chủ yếu và thực thi chức năng đảm bảo an ninh công cộng, trong đó có duy trì trật tự công cộng trong trường hợp xảy ra bạo động dân sự. Bộ Công an kiểm soát lực lượng cảnh sát, cơ quan đặc nhiệm điều tra an ninh quốc gia, và các đơn vị an ninh nội vụ khác. Bộ này cũng quản lý hệ thống đăng ký hộ khẩu và công an khu vực nhằm giám sát dân cư. Mặc dù đã bớt can thiệp vào đời sống hàng ngày của công dân, hệ thống giám sát này vẫn được dùng để giám sát những người bị nghi là tham gia, hoặc chắc chắn sẽ tham gia các hoạt động chính trị không được phép. Vẫn có báo cáo đáng tin cậy về các vụ công an địa phương cho lực lượng dân quân sách nhiễu và đánh đập các nhà hoạt động chính trị và những người khác, kể cả những tín đồtôn giáo, bị coi là những đối tượng “không được hoan nghênh: hay là “mối đe dọa” đối với an ninh công cộng.

Ở cấp tỉnh, quận/huyện và xã đều có lực lượng công an và họ chịu sự chỉ đạo của ủy ban nhân dân cấp tương ứng. Nói chung các lực lượng công an thực thi hiệu quả vai trò duy trì ổn định chính trị và trị an công cộng, nhưng năng lực điều tra của họ còn rất kém. Việc đào tạo công an và ngân sách còn thiếu.

Tham nhũng là một vấn đề nghiêm trọng trong lực lượng công an ở tất cả các cấp. Tuy nhiên, công an thường hành động tùy tiện nhưng không bị trừng phạt. Cơ quan giám sát nội bộ công an có tồn tại nhưng bị chi phối bởi ảnh hưởng chính trị. Trong năm, Chính phủ đã hợp tác với một số chính phủ nước ngoài để xây dựng một chương trình huấn luyện công an và quản lý nhà tù ở cấp tỉnh, nhằm nâng cao chuyên môn cho các lực lượng an ninh.

Bắt và giam giữ

Bộ luật hình sự quy định trình tự giam giữ và đối xử với các cá nhân cho đến khi họ được đưa ra tòa xét xử. Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao (Văn phòng công tố) ra lệnh bắt, thường là theo yêu cầu của bên công an. Tuy nhiên, công an có thể tiến hành bắt giữ mà không cần có lệnh căn cứ dựa trên khiếu nại của bất kỳ ai. Trong những trường hợp đó, Viện Kiểm sát ra lệnh bắt hồi tố. Trong vòng 9 ngày, Viện Kiểm sát phải ra quyết định khởi tố điều tra hình sự đối với người đang bị tạm giam; nếu không công an sẽ phải thả nghi can. Trên thực tế quy định 9 ngày này thường bị bỏ qua.

Quá trình điều tra có thể kéo dài từ ba tháng đối với những tội danh “ít nghiêm trọng” (những tội có án tù 3 năm) đến 16 tháng đối với những tội “đặc biệt nghiêm trọng” (những tội có thể dẫn đến án tù trên 15 năm hoặc tử hình) hoặc 20 tháng đối với những vụ liên quan đến an ninh quốc gia. Tuy nhiên, thời gian điều tra có thể bị kéo dài. Bộ luật hình sự cũng cho phép Viện Kiểm sát yêu cầu tạm giam thêm hai tháng sau khi điều tra để cân nhắc xem có nên truy tố người bị giam giữ hay trả vụ việc cho bên công an điều tra thêm. Đôi khi các nhân viên điều tra còn dùng biện pháp cách ly, kéo dài thời gian thẩm vấn, không cho ngủ để buộc người bị giam giữ phải nhận tội.

Theo quy định, người bị giam giữ được phép gặp luật sư kể từ khi bị giam giữ. Tuy nhiên, các nhà chức trách thường lợi dụng sự chậm trễ trong thủ tục hành chính để cản trở không cho người bị giam giữ được tiếp cận dịch vụ tư vấn pháp lý. Trong các vụ liên quan tới an ninh quốc gia, các nhà chức trách thường trì hoãn việc gặp gỡ giữa luật sư bào chữa và thân chủ của họ cho đến khi quá trình điều tra kết thúc và nghi can đã chính thức bị kết tội. Bên cạnh đó, tình trạng khan hiếm luật sư được đào tạo và các quyền của bị cáo không được bảo đảm nên hiếm khi người bị giam giữ được tiếp cận luật sư một cách nhanh chóng. Trên thực tế, chỉ những bị cáo phạm những tội có thể dẫn đến mức án tử hình mới được chỉ định luật sư bào chữa.

Theo quy định, luật sư bào chữa phải được thông báo và được phép tham dự các cuộc thẩm vấn thân chủ của họ. Tuy nhiên, trước hết bị cáo phải tự mình yêu cầu sự có mặt của luật sư, nhưng không rõ liệu các nhà chức trách có thường thông báo cho bị cáo về quyền lợi này của họ hay không. Luật sư cũng phải được tiếp cận hồ sơ vụ án và được phép sao chụp hồ sơ. Đôi lúc luật sư cũng được thực hiện đặc quyền này.

Nhìn chung, công an thường thông báo cho gia đình người bị giam giữ về nơi giam giữ họ; tuy nhiên, người nhà chỉ được phép thăm thân nếu được điều tra viên cho phép, chứ không phải tự động được phép. Trong thời gian điều tra, người bị giam giữ thường không được gặp gỡ thân nhân, đặc biệt đối với các vụ liên quan đến an ninh quốc gia. Trước khi tuyên án chính thức, những người bị tạm giam cũng có quyền thông báo cho người thân trong gia đình họ. Tuy nhiên, một số người bị tạm giam để điều tra về các vụ vi phạm an ninh quốc gia không được phép liên hệ với ai. Tính đến cuối năm, một số người bị bắt hồi đầu năm vẫn chưa được gặp gia đình hoặc luật sư và cũng chưa chính thức bị cáo buộc tội danh nào.

Không có hình thức bảo lãnh hay thả có điều kiện. Thời gian giam giữ chờ xử án sẽ được tính vào thời gian thi hành án được tuyên.

Tòa án có thể tuyên phạt quản chế hành chính tới 5 năm sau khi đã thụ án. Thêm vào đó, công an và các tổ chức đoàn thể có thể yêu cầu chủ tịch ủy ban nhân dân các cấp huyện và tỉnh áp dụng một trong năm “biện pháp hành chính” mà không cần xét xử. Các biện pháp này bao gồm các hình phạt như giam giữ từ 6 đến 24 tháng trong các trại cải tạo thanh thiếu niên hay các trại giam người lớn và thường áp dụng đối với các đối tượng vi phạm nhiều lần với mức độ vi phạm nhỏ như trộm cắp vặt hay “lăng mạ người khác”. Các chủ tịch ủy ban nhân dân cũng có thể áp dụng hình phạt “quản chế hành chính”, thường là hạn chế đi lại. Mặc dù vào tháng 3/2007 Chính phủ bãi bỏ Nghị định 31 về quản chế hành chính, thường áp dụng đối với những người bị coi là bất đồng chính kiến, nhưng các nhà chức trách tiếp tục phạt một số cá nhân theo các điều khoản về an ninh quốc gia rất mơ hồ được nêu trong Bộ luật Hình sự.
 
Các vụ giam giữ tùy tiện, đặc biệt đối với các nhà hoạt động chính trị, vẫn là một vấn đề. Chính phủ áp dụng các pháp lệnh, nghị định và sử dụng các biện pháp khác để giam giữ các nhà hoạt động bày tỏ hòa bình những quan điểm chính trị đối lập. Điều 88 cấm “phát tán tài liệu tuyên truyền chống phá nhà nước”. Những người bị cáo buộc vi phạm điều 88 thường sẽ bị kết án đến 5 năm tù. Mặc dù một số nhà hoạt động đã được giảm án sau khi kháng án, nhưng những người khác vẫn bị y án sau khi kháng án. Tháng 9/2008, một người viết blog đã bị kết tội trốn thuế và bị kết án 30 tháng tù giam sau khi viết về tình trạng tham nhũng và phản đối hành động của Trung Quốc đối với hai quần đảo đang tranh chấp là Hoàng Sa và Trường Sa.

Vào tháng 8 và 9/2008, Chính phủ đã bắt ít nhất 13 nhà hoạt động, hầu hết liên quan tới phong trào chính trị gọi là khối 8406, và tiến hành giam lỏng đối với một chục người khác. Ngày 7/11, người tham gia biểu tình đòi đất đồng thời là thành viên khối 8604 Lê Thị Kim Thu đã bị kết án 18 tháng tù vì “gây rối trật tự công cộng”. Tính đến cuối năm các nhà hoạt động còn lại vẫn chưa bị cáo buộc tội danh hoặc đưa ra xét xử.

Công an đã đột nhập vào nơi ở của các nhà hoạt động dân chủ có tiếng như Nguyễn Khắc Toàn và Đỗ Nam Hải và lấy đi máy tính cá nhân, điện thoại di động và những tài liệu khác.

Trong năm cũng có những báo cáo về việc các quan chức chính phủ ở Tây Nguyên và Tây Bắc bắt tạm giam những người dân tộc thiểu số vì đã liên lạc với cộng đồng người thiểu số ở nước ngoài.

Các vụ biểu tình hòa bình đòi đất đai ở Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội khiến một số người tổ chức biểu tình bị tạm giam và bị an ninh theo dõi, mặc dù Chính phủ đã giải tán những cuộc biểu tình này mà không xảy ra bạo loạn. Các vụ biểu tình hòa bình trong năm phản đối những hành động của Trung Quốc đối với các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa đang tranh chấp cũng làm một số nhà hoạt động bị tạm giam vì biểu tình mà chưa được phép. Tháng 9, các nhà chức trách đã bắt bốn nhà hoạt động và bắt tạm giam một số người khác để ngăn không cho xảy ra biểu tình và tụ họp công khai.

Trường hợp của năm nhà hoạt động chính trị - hai người Việt Nam và ba người nước ngoài - bị bắt hồi tháng 11/2007, thì hai trong số 3 người nước ngoài đã được thả hồi tháng 12/2007. Ngày 13/5, ba người còn lại đã bị xét xử và kết án với tội danh khủng bố nhưng được trừ thời gian tạm giam; do vậy một người Việt Nam đã được thả ngay, người nước ngoài thì bị trục xuất một vài ngày sau đó, người Việt Nam còn lại được thả hồi tháng 8.

Khoảng 30 nhà hoạt động đã bị bắt trong một chiến dịch đàn áp của Chính phủ năm 2006-2007 đã bị kết án. Những người khác vẫn đang bị điều tra và quản chế hành chính mà không chính thức bị cáo buộc tội danh nào.

Các nhà hoạt động chính trị và tôn giáo bị giam giữ không chính thức theo những mức độ khác nhau tại nơi họ sinh sống.

Ân xá

Chính phủ không ban hành lệnh đặc xá nhân dịp Tết Nguyên đán hay Ngày Quốc khánh. Tuy nhiên, theo thẩm quyền, hội đồng xét giảm án tha tù ở các tỉnh thành vẫn tiến hành xét giảm án tha tù cho các tù nhân ở tại địa phương mình nhân dịp Quốc khánh và Tết Nguyên đán. Không một tù nhân nổi bật nào được thả nhân dịp này.

e. Không xét xử công khai và công bằng

Pháp luật quy định sự độc lập của các thẩm phán và các hội thẩm nhân dân. Tuy nhiên, trên thực tế Đảng Cộng sản Việt Nam kiểm soát các tòa án ở mọi cấp thông qua việc kiểm soát một cách hữu hiệu quá trình bổ nhiệm các chức danh tư pháp và các định chế khác.. Trong nhiều trường hợp, Đảng quyết định mức án. Hầu hết, nếu không muốn nói là tất cả, các chánh án đều là đảng viên cộng sản và được bổ nhiệm ít nhất một phần là do sự tin cậy về mặt chính trị của họ. Vẫn như những năm trước đây, hệ thống tư pháp bị bóp méo nghiêm trọng do ảnh hưởng chính trị, nạn tham nhũng cục bộ và tình trạng hoạt động thiếu hiệu quả. Ảnh hưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam đặc biệt thể hiện rõ trong các vụ án lớn và các trường hợp khác liên quan đến các cá nhân bị buộc tội thách thức hay gây phương hại cho Đảng hoặc nhà nước.

Hệ thống tư pháp bao gồm Tòa án Nhân dân Tối cao; các tòa án nhân dân cấp tỉnh/thành và cấp quận/huyện; tòa án quân sự; tòa hành chính, kinh tế và lao động; và các tòa án khác do pháp luật quy định. Mỗi quận/huyện đều có một tòa án nhân dân với vai trò là các tòa xét xử sơ thẩm đối với hầu hết các vụ án trong nước, hình sự, dân sự. Mỗi tỉnh/thành lại cũng có một tòa án nhân dân, với vai trò là các tòa phúc thẩm xét xử các vụ án sơ thẩm từ cấp quận huyện đưa lên. Chịu trách nhiệm báo cáo trước Quốc hội, Tòa án Nhân dân Tối cao là cơ quan tòa án cấp cao nhất xét xử phúc thẩm và giám đốc thẩm. Các tòa hành chính xét xử các khiếu nại của công dân liên quan đến tham nhũng và lạm dụng chức quyền của các cán bộ, quan chức. Ngoài ra còn có các ủy ban đặc biệt giúp giải quyết các tranh chấp tại địa phương.

Vẫn còn tình trạng thiếu các luật sư và thẩm phán được đào tạo. Lương thấp trong ngành tư pháp đã cản trở những nỗ lực trong việc xây dựng hệ thống tư pháp với nguồn nhân lực được đào tạo. Một số ít các chánh án, thẩm phán được đào tạo chính quy nhưng thường chỉ học ở những quốc gia có truyền thống pháp luật cộng sản.

Vẫn chưa có một hội luật sư độc lập. Tháng 1, Thủ tướng đã thông qua đề xuất xây dựng hiệp hội luật sư toàn quốc, tuy nhiên đến cuối năm hiệp hội này vẫn chưa được ra đời.

Trong năm, Chính phủ tiếp tục triển khai các chương trình đào tạo nhằm khắc phục tình trạng thiếu chánh án, thẩm phán và các cán bộ tòa án khác được đào tạo bài bản.

Các tòa xét xử sơ thẩm ở cấp quận huyện và tỉnh/thành có các chánh án, thẩm phán và hội thẩm nhân dân, tuy nhiên các tòa phúc thẩm cấp tỉnh thành và Tòa án Nhân dân Tối cao lại chỉ có các thẩm phán. Hội đồng Nhân dân chỉ định các hội thẩm nhân dân từ một nhóm các ứng viên do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giới thiệu. Yêu cầu đối với các hội thẩm nhân dân là phải có “tiêu chuẩn đạo đức cao” nhưng lại không yêu cầu đã được đào tạo trong ngành luật, do vậy vai trò của họ nhìn chung là hạn chế.

Tòa án quân sự mặc dù do Bộ Quốc phòng cấp ngân sách, nhưng vẫn hoạt động theo các nguyên tắc như các tòa án khác. Bộ Quốc phòng có đại diện trong các ban lựa chọn các chức danh tư pháp. Người đứng đầu hệ thống tòa án quân sự (Chánh án Tòa án Quân sự Trung ương) đồng thời là Phó Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao. Các chánh án, thẩm phán và hội thẩm viên của Tòa án quân sự là các cán bộ quân đội, do Bộ Quốc phòng và Tòa án Nhân dân Tối cao cùng lựa chọn nhưng chịu sự giám sát của Tòa án Nhân dân Tối cao. Pháp luật cho phép các tòa án quân sự toàn quyền xét xử mọi vụ án hình sự liên quan tới các đơn vị và cá nhân trong quân đội, kể cả các doanh nghiệp của quân đội. Quân đội có quyền chọn sử dụng các tòa hành chính, kinh tế và lao động để xét xử các vụ án dân sự.

Thủ tục xét xử

Hiến pháp quy định công dân vô tội cho tới khi nào các cơ quan xét xử chứng minh được là có tội; tuy nhiên nhiều luật sư phản ánh rằng nhìn chung các thẩm phán đều mặc định coi người bị đưa ra xét xử là có tội. Nhìn chung các vụ xét xử đều mở xét xử công khai nhưng những vụ án nhạy cảm thì thẩm phán xử kín hoặc hạn chế người tham dự. Không có ban hội thẩm. Bị đơn có quyền có mặt và có luật sư bào chữa tại phiên xét xử mặc dù không nhất thiết đó là luật sư họ lựa chọn. Nhìn chung trên thực tế quyền này được tôn trọng. Bị đơn nào không có tiền thuê luật sư riêng thì sẽ có một luật sư được chỉ định để bào chữa nhưng chỉ trong những vụ án bị cáo nhiều khả năng bị kết án chung thân hoặc tử hình. Bị đơn và luật sư bào chữa có quyền chất vấn các nhân chứng; tuy nhiên, có những vụ án cả bị đơn và luật sư bào chữa đều không được phép tiếp cận với các bằng chứng mà chính quyền có trước phiên xét xử, không được đối chất với các nhân chứng hoặc phản biện lại các cáo trạng. Nhìn chung, trước khi xét xử luật sư bào chữa ít có thời gian xem xét chứng cứ chống lại thân chủ của họ. Người bị kết án có quyền kháng cáo. Các tòa án quận/huyện và tỉnh/thành không công bố biên bản của các vụ án do mình xét xử. Tòa án Nhân dân Tối cao tiếp tục cho xuất bản tài liệu của tất cả các vụ án mà Tòa án Nhân dân Tối cao đã xem xét.

Vẫn tiếp tục có những báo cáo đáng tin cậy cho biết các luật sư bào chữa chịu sức ép không bào chữa cho các khách hàng là các nhà hoạt động tôn giáo hoặc dân chủ bị đưa ra xét xử.

Công tố viên đưa ra bản cáo trạng đối với người bị cáo buộc và giữ quyền công tố trong các phiên xét xử. Theo Bộ Luật tố tụng hình sự, sự thay đổi về thủ tục xét xử tại phòng xử án là nhằm chuyển từ chế độ “xét hỏi”, theo đó thẩm phán đưa ra câu hỏi chất vấn, sang chế độ “tranh tụng”, theo đó các công tố viên và luật sư bào chữa tranh luận để bảo vệ quan điểm của mình. Sự thay đổi này là nhằm tăng cường khả năng bảo vệ bị cáo và ngăn ngừa việc các thẩm phán ép bị cáo nhận tội; tuy nhiên, tình hình triển khai hình thức tranh tụng ở mỗi địa phương mỗi khác.

Hồi tháng 5/2008, quan chức chính phủ đã cho hai nhà ngoại giao nước ngoài được tham dự phiên tòa xét xử ba nhà hoạt động của Đảng Việt Tân. Tháng 12/2008, bốn nhà ngoại giao nước ngoài được phép tham dự phiên tòa xét xử 8 bị cáo tại giáo xứ Thái Hà. Yêu cầu được tham dự các phiên tòa của các nhà ngoại giao khác không được chấp nhận.

Những người bị giam giữ và tù nhân chính trị

Không có ước tính đáng tin cậy về số tù nhân chính trị. Chính phủ tuyên bố không giam giữ tù nhân chính trị nào mà chỉ có những người vi phạm pháp luật. Tính đến cuối năm, Chính phủ đã bắt giữ ít nhất 35 người liên quan đến chính trị, trong khi đó một số nhà quan sát quốc tế cho rằng con số này đã lên tới cả trăm người.

Tháng 4/2008, làn sóng biểu tình mới ở Tây Nguyên đã dẫn đến hàng chục vụ bắt giam những cá nhân bị nghi liên quan tới việc tổ chức các vụ biểu tình. Các nhà quan sát địa phương cho biết các nhóm dân tộc thiểu số phản đối các chính sách sử dụng đất ở địa phương.đã gây ra các vụ biểu tình này.

Ngày 14/8/2008, chính quyền đã bắt nhà hoạt động đấu tranh đòi đất Lê Thị Kim Thu ở Hà Nội vì gây rối trật tự công cộng khi tổ chức biểu tình ở công viên đối diện Văn phòng Chính phủ. Ngày 7/11/2008, nhà hoạt động này bị kết án 18 tháng tù. Trong năm, các nhà lãnh đạo phong trào đấu tranh đòi dất cho biết có ít nhất hàng chục người biểu tình ở Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận đã bị cáo buộc tội danh “gây rối trật tự công cộng” và “tuyên truyền chống phá nhà nước”.

Vào tháng 9 và tháng 10/2008, các nhà hoạt động Khối 8406 gồm Nguyễn Xuân Nghĩa, Phạm Văn Trội, Ngô Quỳnh, Nguyễn Văn Túc, Phạm Thanh Nghiên, Vũ Hùng, Trần Đức Thạch, Nguyễn Kim Nhân, Nguyễn Văn Tình, Nguyễn Thị Cẩm Hồng, Dương Văn Nam, và Lê Thanh Tùng đã bị bắt, được cho là vì cố gắng tổ chức các cuộc biểu tình công khai, rải truyền đơn ủng hộ dân chủ, phản đối việc chính quyền chiếm đất, phản đối những hành động của Trung Quốc, và giương biểu ngữ phê phán Chính phủ. Vào cuối năm, tất cả vẫn đang bị giam giữ chờ ngày chính thức bị truy tố và xét xử.

Ngày 8/12/2008, 8 cá nhân tham gia các buổi cầu nguyện tại giáo xứ Thái Hà ở Hà Nội đã bị xét xử tại Tòa án Nhân dân Quận Đống Đa và bị kết tội gây rối trật tự công cộng và hủy hoại tài sản công cộng. 7 trong số giáo dân này chịu án treo từ 12 đến 15 tháng; trong số này 4 người còn chịu hình thức quản chế hành chính từ 22 đến 24 tháng. Người thứ tám nhận hình phạt cảnh cáo. Không ai tiếp tục bị giam giữ sau đó.

Sau khi bị kết án năm 2007 vì vi phạm điều 88, một số nhân vật bất đồng chính kiến nổi bật vẫn bị tù, kể cả Cha Nguyễn Văn Lý và các luật sư hoạt động nhân quyền là Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân. Đài, Nhân và ba thành viên Đảng Dân chủ Nhân dân đã được giảm án sau khi phúc thẩm.

Tháng 1, nhà văn, nhà báo Trần Khải Thanh Thủy, bị bắt giam từ tháng 4/2007 vì vi phạm điều 88, đã bị xét xử và kết án với thời hạn bằng thời gian bị giam giữ, đã được thả để đi điều trị.

Nhà hoạt động vì dân chủ Nguyên Bá Đăng, bị bắt hồi tháng 5/2007, vì “tuyên truyền chống phá Nhà nước” được biết là vẫn bị giam giữ tại trại giam Kinh Chi, Thành phố Hải Dương.

Tháng 5, một trong bốn nhà hoạt động của Liên minh Nông dân và Lao động (UWFO) bị bắt và kết tội tháng 12/2007 đã được thả sau khi thụ án, ba người còn lại vẫn trong tù (Xem mục 6.a)

Tháng 1, sau 17 tháng bị giam, thành viên Khối 8604 Trương Quốc Huy đã bị xét xử và kết án 6 năm tù vì “tuyên truyền chống phá Nhà nước”.

Các nhà hoạt động Đảng Việt Tân Nguyễn Quốc Quân, Nguyễn Thế Vũ và Nguyễn Quốc Hải, bị bắt năm 2006, đã bị xét xử và kết án hồi tháng 5 theo điều 84 vì tội khủng bố, nhưng đã được thả sau khi thụ án.

Các tổ chức phi chính phủ quốc tế ước tính hàng trăm người biểu tình dân tộc thiểu số liên quan đến các vụ biểu tình năm 2004 ở Tây Nguyên hiện vẫn bị tù.

Thủ tục xét xử dân sự và bồi thường

Chưa có cơ chế rõ ràng hoặc hiệu quả thực hiện kiện dân sự nhằm bồi thường hoặc giải quyết các trường hợp lạm dụng chức trách của các cơ quan công quyền. Các vụ kiện dân sự được phân xử tại tòa “hành chính”, tòa dân sự, tòa hình sự. Tất cả các tòa này đều có các trình tự thủ tục xét xử như các vụ án hình sự và được các thành viên của cùng một hội đồng thẩm phán và hội thẩm nhân dân phân xử. Cả 3 cấp xét xử này đều có tình trạng chung là tham nhũng, thiếu tính độc lập và thiếu kinh nghiệm.

Theo pháp luật quy định, một công dân muốn khiếu nại cán bộ công chức đã vi phạm nhân quyền trước hết phải được vị cán bộ bị cáo buộc đó đồng ý đưa sự việc ra tòa hành chính. Nếu vị cán bộ đó không đồng ý, công dân có thể gửi khiếu nại lên cấp trên của vị cán bộ này. Nếu cán bộ bị khiếu nại hoặc cấp trên đồng ý đưa sự việc ra tòa, thì tòa hành chính sẽ xử. Nếu tòa hành chính cho rằng sự việc có căn cứ để khởi kiện thì tòa sẽ chuyển vụ việc sang cho tòa dân sự để xét xử nếu liên quan đến thương tật với mức đòi bồi thường dưới 20% chi phí y tế, hoặc chuyển sang tòa hình sự để đòi bồi thường trên 20% chi phí đó. Trên thực tế, hệ thống cho phép và chuyển cấp xét xử phức tạp này dẫn đến tình trạng là công dân có rất ít cơ hội trông cậy hữu hiệu vào quá trình xét xử của tòa dân sự hoặc tòa hình sự để đòi bồi thường các vụ vi phạm nhân quyền. Rất ít chuyên gia pháp luật có kinh nghiệm về hình thức xét xử này.

Bồi thường tài sản

Có nhiều báo cáo về nạn tham nhũng và thiếu minh bạch trong quá trình Chính phủ thu hồi đất và di dân để thực hiện các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng. Theo luật, công dân phải được bồi thường khi tái định cư, nhường đất cho các dự án cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, vẫn có khiếu nại, cả từ Quốc hội, về việc không đền bù một cách thích đáng hoặc chậm chễ đền bù. Sau các cuộc biểu tình đòi đất năm 2007, Chính phủ đã thành lập nhóm thanh tra một số tỉnh miền nam. Tuy nhiên, ít người khiếu nại cho biết yêu cầu của họ đã được giải quyết.

Tháng 1, các giáo dân Công giáo đã tiến hành các buổi lễ cầu nguyện quy mô lớn tại tòa khâm xứ cũ tại Hà Nội mà chính quyền đã tịch thu và là đối tượng của một cuộc tranh chấp vẫn đang diễn ra. Sau khi Chính phủ hứa giải quyết vấn đề này, giáo dân đã dừng các buổi lễ cầu nguyện. Ngày 19/9, quan chức thành phố thông báo họ sẽ xây một công viên công cộng trên mảnh đất đó, và tòa khâm sứ cũ trở thành một thư viện. Quan chức thành phố nhanh chóng san phẳng các công trình xây dựng khác trên mảnh đất đó. Hệ quả là các cuộc biểu tình quy mô lớn đã diễn ra, với khoảng 15.000 giáo dân tham dự buổi lễ đặc biệt và buổi cầu nguyện do vị tổng giám mục tổ chức vào ngày 21/9.

Vào tháng 1, tháng 4, tháng 8 và tháng 9/2008, các giáo dân tiến hành các buổi lễ cầu nguyện quy mô lớn khác trên mảnh đất tranh chấp trước đây thuộc về giáo xứ Thái Hà tại Hà Nội. Tám cá nhân đã bị bắt hồi tháng 8, tháng 9/2008 và đã bị kết án hồi tháng 12/2008 vì phá hoại tài sản công cộng và gây rối trật tự công cộng liên quan đến việc họ tham gia các buổi lễ cầu nguyện tại Thái Hà. Các tổ chức tôn giáo khác cũng đã phản đối việc sử dụng các tài sản của giáo hội đã bị tịch thu cho mục đích của Chính phủ hoặc vì mục đích thương mại.

Một số người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên và Tây Bắc tiếp tục phàn nàn rằng họ chưa được nhận đền bù tài sản đối với diện tích đất bị thu hồi để phát triển vùng trồng cà phê và cao su quy mô lớn của nhà nước. Một số cư dân cho rằng sự phẫn nộ và bất bình của người dân tộc thiểu số đối với chính sách sử dụng đất của nhà nước là nguyên nhân dẫn đến các cuộc biểu tình tháng 4 ở Tây Nguyên.

f. Can thiệp tùy tiện vào sự riêng tư cá nhân, gia đình, nhà ở hoặc thư tín

Pháp luật nghiêm cấm những hành vi này; tuy nhiên trên thực tế Chính phủ không tôn trọng những quy định cấm đó. Hệ thống đăng ký nhân khẩu và cảnh sát khu vực theo dõi mọi công dân mặc dù hệ thống này nhìn chung đã bớt can thiệp vào đời sống nhân dân. Các cơ quan chính quyền đặc biệt để mắt tới những người bị tình nghi liên quan đến các hoạt động tôn giáo hoặc chính trị không được phép.
 
Không được phép vào nhà dân bằng vũ lực nếu không có lệnh của viện kiểm sát; tuy nhiên, các lực lượng an ninh ít khi tuân theo các quy định này; thay vào đó họ xin phép vào nhà nhưng ngầm đe dọa nếu không hợp tác. Một số cá nhân từ chối hợp tác với “những yêu cầu” này. Ở các thành phố, công an thường bỏ đi khi gặp phải những trường hợp như vậy.

Các cơ quan chính phủ xem và kiểm duyệt thư của những đối tượng bị tình nghi, tịch thu các bưu kiện, thư từ; giám sát các cuộc đàm thoại qua điện thoại, thư điện tử và điện tín, fax. Chính phủ cắt dịch vụ điện thoại cố định và làm gián đoạn điện thoại di động, dịch vụ Internet của một số nhà hoạt động chính trị và thành viên gia đình họ.

Là Đảng viên vẫn là một yêu cầu tiên quyết để thăng tiến về nghề nghiệp trong mọi cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp của Chính phủ và liên quan đến Chính phủ. Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế đa dạng đã khiến cho việc trở thành đảng viên và là thành viên của các tổ chức quần chúng dưới sự quản lý của Đảng không còn quan trọng như trước đối với những người muốn thăng tiến về vị trí xã hội và tăng cường điều kiện tài chính.

Chính phủ tiếp tục thực hiện chính sách kế hoạch hóa gia đình, yêu cầu các gia đình chỉ sinh không quá hai con, nhưng chính sách này tập trung vào việc tuyên truyền, hô hào và giáo dục thay vì bắt buộc. Chính phủ có thể không đề bạt và tăng lương đối với các cán bộ nhà nước nếu họ sinh hơn hai con. Đã có một số trường hợp không được đề bạt hoặc phạt tiền mặc dù chính sách này dường như không được thực hiện một cách nhất quán. Những hình thức chế tài này ngày càng không hiệu quả do phần lớn dân số, đặc biệt là những người ở các khu vực đô thị, tiếp tục chuyển sang làm việc cho khu vực tư nhân.

Phần 2: Tôn trọng tự do công dân, bao gồm:

a. Tự do ngôn luận và tự do báo chí

Pháp luật quy định tự do báo chí và tự do ngôn luận; tuy nhiên Chính phủ tiếp tục hạn chế những quyền tự do này, đặc biệt về việc phát ngôn chỉ trích các lãnh đạo chính phủ, thúc đẩy dân chủ đa nguyên hay đa đảng, hoặc chất vấn các chính sách liên quan đến những vấn đề nhạy cảm như nhân quyền, tự do tôn giáo hay vấn đề tranh chấp biên giới với Trung Quốc. Ranh giới giữa phát ngôn cá nhân và phát ngôn công khai vẫn còn khá tùy tiện.

Cả Hiến pháp và Bộ luật Hình sự đều có các điều khoản chung về an ninh quốc gia và chống nói xấu, phỉ báng mà Chính phủ sử dụng để hạn chế tự do ngôn luận và tự do báo chí. Bộ luật Hình sự quy định tội “ phá hoại nền tảng của chủ nghĩa xã hội”, “gây chia rẽ giữa những người theo tôn giáo và không theo tôn giáo” và “tổ chức tuyên truyền chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” là những tội danh nghiêm trọng đối với an ninh quốc gia. Bộ Luật hình sự cũng cấm “lợi dụng quyền tự do dân chủ vi phạm lợi ích của nhà nước và các tổ chức xã hội”.

Nhiều lần các nhà hoạt động chính trị và người thân của các tù nhân bị cản trở không cho gặp gỡ với các nhà ngoại giao nước ngoài. Biện pháp ngăn chặn là dựng hàng rào hoặc cử bảo vệ bên ngoài nơi họ cư trú hoặc gọi lên đồn công an địa phương để thẩm vấn định kỳ hoặc không thường xuyên.

Đảng Cộng sản Việt Nam, Chính phủ và các tổ chức quần chúng do Đảng lãnh đạo kiểm soát tất cả các loại hình báo in, phát thanh truyền hình và truyền thông điện tử. Chính phủ giám sát thông qua Bộ Văn hóa, Thông tin và Truyền thông, và tăng cường kiểm soát thông qua các chỉ thị của Đảng và các quy định pháp luật về an ninh quốc gia có phạm vi điều chỉnh đủ rộng để đảm bảo việc tự kiểm duyệt một cách hiệu quả của các phương tiện truyền thông trong nước. Tháng 3, Chính phủ tiến hành một chiến dịch “chỉnh đốn”, dẫn đến việc kiểm toán nhiều cơ quan báo chí và hạn chế khả năng thực hiện các chương trình hướng tới cộng đồng, kể cả làm từ thiện và cấp học bổng. Những người trong ngành coi đây là nỗ lực của chính quyền nhằm hạn chế hơn nữa sự độc lập và ảnh hưởng của phương tiện truyền thông.

Bất chấp việc tiếp tục gia tăng về số lượng của các blog trên Internet, trong cả năm quyền tự do báo chí về cơ bản vẫn bị đàn áp, khiến một số biên tập viên cao cấp của một số tờ báo bị sa thải và hai phóng viên bị bắt. Những hành động này ảnh hưởng xấu đến chiều hướng được hình thành trước đó là báo chí có vai trò mạnh mẽ hơn trong việc tham gia điều tra các vụ việc.

Ngày 12/5/2008, công an đã bắt phóng viên Nguyễn Việt Chiến của báo Thanh Niên và Nguyễn Văn Hải của báo Tuổi Trẻ vì “lạm dụng quyền lực trong khi thi hành nhiệm vụ” liên quan đến các bài báo năm 2006 của họ về vụ án tham nhũng lớn tại Ban Quản lý Dự án PMU 18 thuộc Bộ Giao thông vận tải. Báo chí và công chúng lên án mạnh mẽ vụ bắt hai nhà báo này. Tuy nhiên, sau hai ngày đăng tải nhiều thông tin về vụ bắt hai nhà báo này, Bộ Văn hóa, Thông tin và Truyền thông đã chỉ đạo báo chí dừng đưa tin về vụ việc. Báo in và phát thanh truyền hình đã tuân thủ quyết định này, tuy nhiên một số người viết blog tiếp tục chỉ trích những vụ bắt giữ này. Các cáo buộc đối với các phóng viên sau này được đổi thành “lạm dụng quyền tự do dân chủ” và vào ngày 15/10 hai phóng viên đã bị xét xử và kết án. Nguyễn Việt Chiến lĩnh án 2 năm tù, còn Nguyễn Văn Hải phạt hai năm cải tạo không giam giữ.

Vào tháng 7/2008, báo Tuổi Trẻ và Thanh Niên mỗi báo đều thay một lãnh đạo. Các báo mô tả động thái này là bình thường, mặc dù các nguồn tin khẳng định rằng hai lãnh đạo này bị thay vì đã đưa tin bài về tham nhũng. Tháng 8, Chính phủ thu hồi thẻ nhà báo của bảy phóng viên đang làm việc cho các tờ báo do nhà nước kiểm soát vì tội “thiếu trách nhiệm” liên quan đến tin bài của họ về vụ PMU-18.

Ngày 19/9, công an tạm giữ và đánh đập một phóng viên nước ngoài là trưởng Văn phòng đại diện của hãng tin AP và tịch thu máy quay của phóng viên này 8 tuần liền sau khi ông cố gắng chụp ảnh một buổi lễ cầu nguyện tại tòa khâm xứ cũ.

Ngày 18/12, Chính phủ ra những quy định mới cấm các blogger đưa lên mạng các tài liệu mà Chính phủ cho là phá hoại an ninh quốc gia hoặc tiết lộ các bí mật của nhà nước, kích động bạo lực hoặc tội ác, hoặc chứa đựng những thông tin không chính xác làm tổn hại tới uy tín của các tổ chức và cá nhân. Những quy định mới này cũng yêu cầu các công ty Internet toàn cầu có chương trình blog đang hoạt động trên phạm vi cả nước cứ 6 tháng phải báo cáo Chính phủ và nếu được yêu cầu phải cung cấp thông tin về cá nhân người viết blog.

Trong năm, Chính phủ cũng tiếp tục hạn chế đăng tải các bài viết chỉ trích những hành động của Trung Quốc đối với các quần đảo tranh chấp ở Biển Đông và các kế hoạch quân sự với mục tiêu xâm lược Việt Nam. Tổng biên tập một tờ tin tức trực tuyến lớn bị phạt hồi tháng 12/2007 vì viết bài xã luận về Biển Đông gây nhiều tranh cãi mặc dù vẫn tại vị, cho dù đã có những cảnh báo về việc ông ta sẽ bị sa thải.

Pháp luật quy định các nhà báo phải đền bù thiệt hại cho các cá nhân và tổ chức bị ảnh hưởng uy tín do việc đưa tin của nhà báo gây ra, ngay cả khi việc đưa tin đó là đúng sự thật. Các nhà quan sát độc lập cho biết luật pháp hạn chế nghiêm ngặt việc đưa tin điều tra. Vẫn thấy có những tin bài về những chủ đề mà nhìn chung được coi là nhạy cảm chẳng hạn như việc truy tố các quan chức cao cấp của Đảng và Chính phủ với tội danh tham nhũng; thỉnh thoảng cũng vẫn có tin bài chỉ trích, phê phán các quan chức và các hiệp hội chính thức nào đó. Tuy nhiên, việc tự do chỉ trích Đảng Cộng sản và các lãnh đạo cao cấp vẫn bị hạn chế nghiêm ngặt.

Các nhà báo nước ngoài phải được sự thông qua của Trung tâm Báo chí của Bộ Ngoại giao và phải đăng ký trụ sở làm việc ở Hà Nội, ngoại trừ trường hợp một phóng viên chuyên trách các vấn đề kinh tế sinh sống và có văn phòng làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh cho dù vẫn chính thức đăng ký hoạt động tại Hà Nội. Ba đến sáu tháng một lần, các nhà báo nước ngoài được yêu cầu gia hạn thị thực, cho dù đây chỉ là một nội dung thường quy; chưa có báo cáo nào về yêu cầu xin gia hạn thị thực bị từ chối. Số lượng nhân viên báo chí nước ngoài được phép hoạt động bị hạn chế và những người địa phương là phóng viên cho các hãng thông tấn nước ngoài phải đăng ký với Bộ Ngoại giao.

Thủ tục thuê phóng viên và nhiếp ảnh gia địa phương vào làm việc cho văn phòng của các hãng thông tấn nước ngoài cũng như việc đăng ký hoạt động cho những người này còn nhiêu khê. Trên danh nghĩa Trung tâm báo chí của Bộ Ngoại giao thường giám sát hoạt động của các nhà báo và chỉ đồng ý cho phép tiến hành các cuộc phỏng vấn, ghi hình, chụp ảnh hoặc du lịch trên cơ sở từng yêu cầu cụ thể và với điều kiện các yêu cầu này phải được đệ trình lên trước 5 ngày. Theo luật, các nhà báo nước ngoài phải trả lời tất cả các câu hỏi của các cơ quan chính phủ thông qua Bộ Ngoại giao mặc dù trên thực tế, thủ tục này thường bị bỏ qua. Các nhà báo nước ngoài cho biết họ thường không thông báo cho chính quyền biết việc họ đi thực tế ngoài Hà Nội trừ khi chuyến đi có liên quan đến vấn đề mà chính quyền cho là nhạy cảm hoặc họ đi đến các khu vực nhạy cảm như Tây Nguyên.

Một số ấn phẩm bằng tiếng nước ngoài của một số cuốn sách bị cấm được những người bán hàng rong và các cửa hàng dành cho khách du lịch bán rộng rãi. Các tờ tạp chí định kỳ bằng tiếng nước ngoài được bán rộng rãi tại các thành phố. Đôi khi chính quyền kiểm duyệt các bài viết.

Luật chỉ cho phép các quan chức cấp cao, người nước ngoài, các khách sạn cao cấp và giới báo chí tiếp cận truyền hình vệ tinh. Tuy nhiên trên thực tế, người dân trên cả nước có thể tiếp cận các kênh truyền hình nước ngoài thông qua thiết bị thu tín hiệu vệ tinh hoặc truyền hình cáp. Người dân thành thị đã có thể tiếp cận tự do và rộng rãi dịch vụ truyền hình cáp có nhiều kênh nước ngoài.

Tự do Internet

Chính quyền cho phép tiếp cận Internet thông qua một số ít các nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP) và tất cả các nhà cung cấp dịch vụ này đều là các công ty cổ phần thuộc sở hữu nhà nước. Trong suốt năm qua, việc sử dụng Internet gia tăng rất nhanh.Theo Bộ Văn hóa, Thông tin và Truyền thông, 24% dân số có truy cập Internet. Blog cũng gia tăng rất nhanh. Bộ Văn hóa, Thông tin và Truyền thông ước tính có hơn 1 triệu blog trực tuyến. Ngoài ra, một số nhà báo thuộc các báo in và báo điện tử nổi tiếng cũng có blog riêng. Trong một số trường hợp blog của họ được cho là gây tranh cãi hơn nhiều so với các bài viết chính thống của họ. Trong một số trường hợp, chính quyền phạt tiền hay xử lý những cá nhân này vì nội dung trên blog của họ.

Chính quyền cấm truy cập Internet trực tiếp thông qua các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài và yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ trong nước lưu trữ thông tin được truyền tải trên Internet trong vòng ít nhất là 15 ngày, đồng thời yêu cầu họ trợ giúp kỹ thuật và tạo điều kiện cho lực lượng công an kiểm soát các hoạt động trên Internet.

Chính quyền cũng yêu cầu các chủ thể như các quán cà phê Internet phải đăng ký thông tin về khách hàng của mình cũng như lưu trữ các trang web được khách hàng truy cập. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều chủ quán cà phê Internet không tuân thủ quy định này và không lưu trữ những thông tin trên. Tương tự, cũng không rõ các nhà cung cấp dịch vụ Internet tuân thủ các quy định của Chính phủ như thế nào.

Mặc dù cơ hội để người dân được truy cập Internet đã tăng đến mức chưa từng có tiền lệ, chính quyền vẫn giám sát các hòm thư điện tử, tìm kiếm các từ nhạy cảm, quy định các nội dung Internet và chặn nhiều trang web mang nội dung tôn giáo hoặc chính trị mà chính quyền cho là “chống phá”. Chính quyền cho rằng việc kiểm duyệt Internet là hành động cần thiết để bảo vệ người dân khỏi nguồn thông tin đồi trụy và các nội dung “xấu” hoặc “phản xã hội” khác. Bên cạnh đó, chính quyền cũng cho rằng nỗ lực hạn chế việc truy cập Internet trong giới học đường là nhằm mục đích tránh tình trạng các em học sinh bỏ học để chơi game.

Quan chức viện dẫn điều Điều 88 của Bộ luật Hình sự, cấm việc “phát tán các tài liệu chống phá nhà nước”, để cấm các cá nhân tải và phát tán các tài liệu mà chính phủ coi là “chống phá”.

Chính quyền tiếp tục bắt giam và bỏ tù những nhân vật bất đồng chính kiến sử dụng Internet để truyền bá các tư tưởng về nhân quyền và đa nguyên chính trị. Tháng 1, nhà văn và nhà báo Trần Khải Thanh Thủy đã bị bắt giữ vì vi phạm Điều 88. Bà bị xét xử và bị kết án bằng đúng thời gian đã bị giam giữ và được thả để đi điều trị. Tháng 4, một blogger đồng thời là chủ tịch câu lạc bộ các phóng viên tự do Nguyễn Hoàng Hải (còn được biết đến với biệt danh là Điếu Cày) đã bị bắt; ngày 10/9 ông và vợ ông bị xét xử và kết án tại Thành phố Hồ Chí Minh với tội danh trốn thuế. Hải bị kết án 30 tháng tù giam và bị phạt 210 triệu đồng (khoảng 12.730 đô-la). Vợ Hải cũng chịu mức phạt tương tự. Ngày 4/12, tòa phúc thẩm giữ nguyên mức án phạt đối với vợ chồng Hải. Tòa phúc thẩm đã thông báo cho luật sư của Hải chỉ 9 ngày trước khi xét xử, chứ không phải 15 ngày như luật quy định.

Tháng 9, các giới chức địa phương Hà Nội đã đe dọa bắt các blogger hoặc những các nhân khác vì đã gửi thông tin ra nước ngoài liên quan đến vụ việc tranh chấp tài sản của Giáo hội Công giáo.

Chính quyền tiếp tục sử dụng bức tường lửa để chặn các trang web có nội dung văn hóa hoặc chính trị không phù hợp, bao gồm các trang của Giáo hội Công giáo, như Vietcatholic.net và các trang khác do các nhóm chính trị Việt kiều điều hành. Chính quyền có vẻ đã dỡ bỏ hầu hết các hạn chế đối với việc truy cập trang web của Đài Tiếng nói Hoa Kỳ, nhưng vẫn tiếp tục chặn sóng của Đài Châu Á Tự do (RFA). Tuy nhiên, báo chí địa phương thỉnh thoảng vẫn đăng tải các bài viết dựa trên thông tin của RFA.

Bộ Văn hóa, Thông tin và Truyền thông yêu cầu các chủ trang web trong nước, bao gồm các trang do các chủ thể nước ngoài điều hành, phải đăng ký tên miền của trang web với chính quyền và đệ trình nội dung dự kiến cũng như quy mô của trang web để chờ chính quyền thông qua, tuy nhiên, việc thực thi quy định này còn hạn chế.

Intellasia, một ấn phẩm trực tuyến về tin tức và đầu tư mà Chính phủ đã cho đóng cửa tháng 8/2007 vì “đăng tải nội dung sai lệch và phản động” vẫn tiếp tục hoạt động ở nước ngoài.

Tự do học thuật và các sự kiện văn hóa

Chính quyền khẳng định quyền hạn chế tự do học thuật và các nhà nghiên cứu thực địa nước ngoài đôi khi bị thẩm vấn và giám sát. Tuy nhiên, chính quyền cũng tiếp tục cho phép tiếp cận các nguồn thông tin mở hơn một số năm trước đây, bao gồm trong hệ thống đại học. Các cán bộ thư viện liên tục được tập huấn nghiệp vụ và tiêu chuẩn quốc tế; những hoạt động này đã có tác dụng thúc đẩy việc trao đổi thông tin kết nối hệ thống thư viện quốc tế rộng rãi hơn, cũng như thúc đẩy hoạt động nghiên cứu. Các chuyên gia học thuật nước ngoài hiện đang làm việc tạm thời tại các trường đại học trên cả nước được phép thảo luận rộng rãi các vấn đề không liên quan đến chính trị trên lớp học, nhưng cán bộ chính quyền vẫn thường xuyên giám sát các lớp học do người nước ngoài và người bản xứ giảng dạy. Các nhân viên an ninh thỉnh thoảng vẫn thẩm vấn những người tham dự các chương trình được tổ chức tại các cơ quan ngoại giao hoặc sử dụng các cơ sở nghiên cứu thuộc các cơ quan ngoại giao. Các ấn phẩm dùng trong nhà trường luôn thể hiện quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính phủ.

Chính phủ nhìn chung vẫn kiểm soát các hoạt động triển lãm nghệ thuật, biểu diễn âm nhạc và các hoạt động văn hóa khác; tuy nhiên, nhìn chung thì trong những năm qua chính quyền cũng đã cho phép nghệ sỹ được tự do nhiều hơn trong việc lựa chọn chủ đề cho các tác phẩm nghệ thuật của mình. Chính quyền cũng cho các trường đại học quyền tự do lớn hơn trong trao đổi quốc tế và thực hiện các chương trình hợp tác.
b. Tự do hội họp một cách ôn hòa và lập hội

Tự do hội họp

Quyền tự do hội họp bị pháp luật hạn chế, và Chính phủ hạn chế và kiểm soát mọi hình thức biểu tình hoặc tụ tập công cộng. Các cá nhân có nhu cầu tụ tập thành nhóm theo luật phải xin phép và chính quyền địa phương có toàn quyền cho phép hay từ chối cấp phép. Trên thực tế, chỉ các nhóm tụ tập công khai thảo luận các vấn đề nhạy cảm là phải xin phép, còn nhìn chung các hoạt động tụ tập không chính thức thông thường không bị chính quyền can thiệp. Nhìn chung, chính quyền không cho phép tổ chức các cuộc biểu tình bị cho là có mục đích chính trị. Chính phủ cũng hạn chế quyền tụ tập để cầu nguyện của các một số nhóm tôn giáo chưa đăng ký (Xem mục 2.c.).

Trước lễ rước đuốc Olympic hồi tháng 4 ở Thành phố Hồ Chí Minh, một số nhà hoạt động cho biết các nhà chức trách đã gọi họ lên thẩm vấn và cảnh báo họ không được tổ chức các cuộc biểu tình.

Những buổi tụ họp cầu nguyện quy mô lớn đã diễn ra hồi tháng giêng, tháng 4, tháng 8 và tháng 9/2008 tại khu đất tranh chấp của Giáo hội công giáo thuộc tòa khâm xứ cũ và tại giáo xứ Thái Hà ở Hà Nội. Công an đã bắt tám người và sách nhiễu những người tham gia buổi cầu nguyện (xem phần 1.e.). Những cuộc biểu tình quy mô nhỏ hơn của người dân đòi bồi thường đất đai thường xuyên xảy ra tại Thành phố Hồ Chí Minh và đôi khi cũng diễn ra tại Hà Nội. Công an giám sát những cuộc biểu tình này nhưng nhìn chung không giải tán họ.

Tự do lập hội

Chính quyền hạn chế nghiêm ngặt quyền tự do lập hội. Các đảng phái chính trị đối lập đều không được phép hoạt động hoặc dung thứ. Chính quyền nghiêm cấm việc thành lập hợp pháp các tổ chức tư nhân, độc lập và yêu cầu mọi người phải hoạt động trong các tổ chức quần chúng được thành lập và do Đảng kiểm soát, thường là dưới sự quản lý của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Tuy nhiên, một số tổ chức bao gồm các nhóm tôn giáo không đăng ký vẫn hoạt động ngoài khuôn khổ này mà không bị chính quyền can thiệp nhiều.

Cán bộ tiếp tục thực hiện Pháp lệnh về dân chủ ở cơ sở ban hành tháng 6/2007, cho phép người dân, với sự tham gia của đại diện Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở địa phương, tổ chức các cuộc họp để thảo luận và đưa ra giải pháp nhằm giải quyết các vấn đề địa phương và đề cử lãnh đạo địa phương. Pháp lệnh này cũng yêu cầu chính quyền các xã công khai việc quyên góp và sử dụng quỹ phục vụ hoạt động phát triển kinh tế của địa phương.

Thành viên của Khối 8406, một nhóm các nhà hoạt động chính trị kêu gọi thành lập một nhà nước đa đảng tiếp tục bị sách nhiễu và bị tù. Những thành viên cao cấp của nhóm đã bị bắt giam trong một cuộc đàn áp đầu năm 2007. Tháng 9/2008, các nhà chức trách đã bắt thêm 6 thành viên của nhóm này vì chỉ trích phản ứng của Chính phủ đối với Trung Quốc và các chính sách kinh tế. Những thành viên khác phải đối mặt với những rắc rối vì các hoạt động chính trị ôn hòa. Khối 8406 tuyên bố có hơn 2.000 ủng hộ viên trong nước, mặc dù con số này chưa được xác minh. Ít nhất khoảng 16 thành viên của nhóm đã và đang bị giam giữ tính đến cuối năm 2008.

Tính đến cuối năm 2008, một số thành viên của một nhóm hoạt động khác, Đảng Dân chủ Nhân dân Việt Nam và một nhóm có liên quan là Liên minh Nông dân và Lao động vẫn bị tù.

c. Tự do tôn giáo

Hiến pháp và các nghị định của Chính phủ quy định tự do thờ phụng, và những tiến triển trong những năm trước trên tất cả các lĩnh vực tự do tôn giáo được tiếp tục trong năm qua. Tuy nhiên, chính quyền vẫn kiên quyết hạn chế các hoạt động có tổ chức của các nhóm tôn giáo; dẫu vậy, nhìn chung thì việc áp dụng những biện pháp này đã được nới lỏng so với những năm trước. Việc tham gia các hoạt động tôn giáo tiếp tục gia tăng đáng kể.

Vẫn còn tồn tại các vấn đề trong việc thực thi Khuôn khổ Pháp lý về Tôn giáo. Những vấn đề này chủ yếu xảy ra ở các địa phương, nhưng đôi khi chính quyền trung ương cũng trì hoãn việc thực thi.

Các nhóm tôn giáo phải đối mặt với nhiều hạn chế nhất khi tham gia các hoạt động mà Chính phủ cho là hoạt động chính trị hoặc đe dọa đến vai trò cai trị của chính quyền. Chính phủ tiếp tục ngăn cản việc tham gia vào hoạt động của một phái của Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo. Chính quyền cũng hạn chế hoạt động và việc đi lại của chức sắc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất không được công nhận, và khẳng định sẽ không công nhận tổ chức này với đội ngũ lãnh đạo hiện nay. Chính quyền vẫn lo ngại về việc một số nhóm thiểu số tích cực hoạt động ở Tây Nguyên đang điều hành “giáo hội Dega” tự phong; tổ chức này được cho là kết hợp hoạt động tôn giáo với hoạt động chính trị và kêu gọi các dân tộc thiểu số ly khai.

Chính quyền cũng duy trì vai trò chủ đạo trong việc giám sát các nhóm tôn giáo đã được công nhận. Theo luật, các nhóm tôn giáo phải đăng ký và được công nhận chính thức; các hoạt động và ban lãnh đạo của mỗi chi hội tôn giáo phải được cấp chính quyền phù hợp thông qua. Luật quy định chính quyền có nghĩa vụ tuân thủ khung thời gian và minh bạch nhưng quá trình cấp đăng ký và xét công nhận các tổ chức tôn giáo đôi khi còn chậm trễ và không minh bạch. Tuy nhiên, trong năm qua các chi hội tôn giáo mới cũng đã được đăng ký trên toàn quốc và một số hệ phái mới cũng đã được đăng ký ở cấp quốc gia. Tuy nhiên, ở miền Bắc và Tây Bắc, chính quyền địa phương chưa xử lý rất nhiều đơn đăng ký từ năm 2006 trong tổng số hơn 1.000 đơn của các chi hội Tin Lành, phần lớn thuộc nhóm dân tộc thiểu số.

Một vài chính quyền địa phương tiếp tục đòi hỏi các tổ chức tôn giáo được công nhận phải cung cấp danh sách các thành viên thuộc các điểm nhóm và coi đây là điều kiện tiên quyết để đăng ký, mặc dù yêu cầu này không được cụ thể hóa trong Khuôn khổ Pháp lý về tôn giáo. Một số chi hội đã đăng ký ở miền Bắc và Tây Bắc phàn nàn rằng các quan chức sử dụng những danh sách này để ngăn cản các thành viên không có trong danh sách tham gia vào các buổi lễ hoặc tạo điều kiện để chính quyền hay các cá nhân thuộc chính quyền gây khó khăn cho các hoạt động của họ. Các hoạt động hàng năm của các chi hội cũng phải được đăng ký với chính quyền. Những hoạt động nào không có trong chương trình đã được chấp thuận của năm đó thì phải xin phép riêng.

Trong các năm qua, việc giám sát chính thức đối với các nhóm tôn giáo thay đổi tùy theo địa phương, thường là do chính quyền không nắm vững chính sách quốc gia hoặc do cách giải thích khác nhau về nội dung các chính sách này. Nhìn chung, nỗ lực của trung ương nhằm phối hợp thực hiện đúng khuôn khổ pháp lý về tôn giáo của Chính phủ giúp làm giảm tần suất và mức độ các vụ vi phạm quyền tự do tôn giáo. Tuy nhiên, hoạt động của các nhóm tôn giáo chưa đăng ký và chưa được công nhận là bất hợp pháp và những nhóm này đôi khi vẫn bị gây khó dễ. Tại Hải Phòng và Tây Bắc, một số cuộc tụ họp của các nhóm tôn giáo chưa đăng ký bị giải tán hoặc cản trở. Những người hành đạo đã cáo buộc các giới chức địa phương đôi khi dùng những đối tượng “côn đồ” được “hợp đồng” để sách nhiễu hoặc đánh đập họ. Ở tỉnh Trà Vinh, có những báo cáo cho biết công an liên tục gây khó dễ và đánh đập giáo dân thông qua lực lượngdân quân mặc thường phục tại một số nhà thờ tại gia, bao gồm Giáo hội Phúc âm toàn vẹn. Các nhà chức trách không có hình thức kỷ luật nào đối với những người đó. Tuy nhiên mức độ sách nhiễu so với các năm trước đã giảm và phần lớn các chi hội tôn giáo i và các đền/chùa chưa đăng ký đều được phép hoạt động mà không bị can thiệp.

Chính quyền tích cực ngăn cản các mối liên lạc giữa Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất vốn bị coi là một tổ chức bất hợp pháp, với lực lượng ủng hộ tổ chức này ở nước ngoài, tuy nhiên các hoạt động liên lạc vẫn diễn ra. Công an thường xuyên thẩm vấn một số cá nhân có quan điểm tôn giáo hoặc chính trị khác biệt, chẳng hạn như các nhà tu hành thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất và các linh mục Công giáo. Công an tiếp tục hạn chế quyền tự do đi lại của các nhà tu hành thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.

Trong năm qua có ít cáo buộc đáng tin cậy về việc cưỡng ép bỏ đạo ở Tây Nguyên và Tây Bắc. Tuy nhiên, các bài báo được báo chí địa phương đăng tải đã khuyến khích chính quyền địa phương và các dân tộc thiểu số ủng hộ thuyết duy linh và các tín ngưỡng truyền thống, từ bỏ đạo Tin Lành.

Đa số Phật tử hành đạo dưới sự lãnh đạo của Hội đồng trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, tổ chức quản lý Phật giáo được chính thức công nhận, và nhìn chung được tự do thực thi tín ngưỡng của họ. Chính quyền vẫn tiếp tục gây khó khăn cho các thành viên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất và ngăn cản họ tiến hành các hoạt động từ thiện độc lập bên ngoài các cơ sở thờ tự của họ.

Các chức sắc của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất vẫn bị công an theo dõi chặt chẽ tại chùa của họ và cho biết họ được đi lại hạn chế trong nước. Thích Quảng Độ và Thích Khổng Thanh được dự lễ tang của Đại lão Hòa thượng của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, mặc dù một số nhà tu hành thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ở các tỉnh cho biết họ bị chính quyền địa phương cản trở không cho đi. Một nhà tu hành thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đã tới Thành phố Hồ Chí Minh và từ chức do liên tục bị các nhà chức trách theo dõi và sách nhiễu.

Giáo hội Công giáo cho biết chính quyền nhìn chung vẫn tiếp tục nới lỏng những hạn chế đối với việc bổ nhiệm các chức sắc mới. Không giống các năm trước, năm nay chính quyền không bác bỏ trường hợp bổ nhiệm giám mục nào. Giáo hội Công giáo đã bàn với Chính phủ về việc thành lập thêm một số chủng viện mới và mở rộng các chương trình hoạt động mục vụ. Giáo hội đã hướng tới việc thành lập nhóm công tác chung với Vatican để xây dựng các nguyên tắc và lộ trình cho việc tiến tới thiết lập quan hệ chính thức.

Một số giới chức Công giáo cho biết trong năm qua chính quyền tiếp tục nới lỏng kiểm soát đối với hoạt động tại một số giáo phận nhất định xung quanh Hà Nội. Tại nhiều nơi, quan chức địa phương cho phép Giáo hội mở các lớp họ về về tôn giáo (được tổ chức ngoài khung giờ học tại các trường chính thức) và thực hiện các hoạt động từ thiện. Chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục tạo điều kiện cho các hoạt động từ thiện của Giáo hội trong cuộc chiến chống lại HIV/AIDS; tuy nhiên các hoạt động giáo dục cũng như việc cấp phép cho các tổ chức từ thiện Công giáo được hoạt động như các tổ chức phi chính phủ vẫn bị trì hoãn. Tháng 10, chính quyền cho phép Caritas mở lại văn phòng sau 32 năm vắng bóng.

Cán bộ địa phương ngầm cản trở giới tăng lữ đi lại trong nước, kể cả trong phạm vi tỉnh nhà, đặc biệt là tới các khu vực người dân tộc thiểu số. Các chuyến thăm chính thức của Tổng Giám mục Hà Nội tới các khu vực người dân tộc thiểu số ở miền bắc bị hạn chế, nhưng ông lại được phép tới đó với tư cách cá nhân.

Mặc dù có một số báo cáo về tình trạng phân biệt đối xử đối với các sinh viên là người Công giáo, các nhà chức trách phủ nhận việc Chính phủ có chính sách hạn chế giáo dục dựa trên cơ sở tín ngưỡng.

Ít nhất 10 tín đồ Phật giáo Hòa Hảo vẫn bị tù vì bị cáo buộc dính líu đến một vụ đụng độ với công an năm 2005. Các nhà tu hành và tín đồ Hòa Hảo ủng hộ Ban Trị sự Phật giáo Hòa Hảo được Chính phủ công nhận thì được tự do hành đạo. Các nhà tu hành hoặc tín đồ thuộc nhóm bất đồng chính kiến hoặc không công nhận tính hợp pháp của Ban Trị sự này bị hạn chế hoạt động.

Các tổ chức tôn giáo không được phép mở các trường học một cách độc lập. Các nhà truyền giáo nước ngoài không được hoạt động tự do như các nhà truyền giáo trong nước mặc dù nhiều người trong số họ tiến hành các hoạt động nhân đạo hoặc các hoạt động vì phát triển được chính quyền chấp thuận và chỉ tiếp xúc với các chi hội tôn giáo đã đăng ký.

Chính phủ nhìn chung yêu cầu việc xuất bản các ấn phẩm tôn giáo phải thông qua một nhà xuất bản tôn giáo thuộc sở hữu nhà nước; tuy nhiên một số nhóm tôn giáo có thể sao chép tài liệu của riêng của họ hoặc nhập khẩu các tài liệu đó với sự đồng ý của chính quyền. Chính quyền cũng nới lỏng những hạn chế đối với việc in ấn hoặc nhập khẩu các ấn phẩm tôn giáo, kể cả các ấn phẩm bằng các thứ tiếng dân tộc. Cho đến cuối năm, Ban Tôn giáo Chính phủ vẫn chưa cho phép xuất bản cuốn Kinh thánh bằng tiếng H’mông, trong khi đơn xin phép xuất bản đã gửi từ hơn hai năm trước, trong khi chờ Bộ Giáo dục và Đào tạo thông qua.

d. Tự do đi lại, những người bị buộc phải rời khỏi nơi sinh sống ở trong nước, bảo vệ người tị nạn và người không có quốc tịch

Hiến pháp quy định quyền tự do đi lại trong nước, ra nước ngoài, di cư và hồi hương. Tuy nhiên, Chính phủ vẫn áp đặt một số hạn chế về quyền tự do đi lại đối với một số cá nhân nhất định. Chính phủ nhìn chung hợp tác với Cao ủy Liên Hợp Quốc về người tị nạn (UNHCR) và các tổ chức nhân đạo khác trong việc hỗ trợ người tị nạn và người xin tị nạn.

Một số nhà bất đồng chính kiến, được ân xá song vẫn bị quản chế hành chính hoặc quản chế tại gia, phải tuân thủ những hạn chế về đi lại của chính quyền. Công an giám sát khi họ ra khỏi nhà. Ví dụ: nhân vật bất đồng chính kiến Phạm Hồng Sơn và Nguyễn Khắc Toàn, được đặc xá năm 2006, hay luật sư Lê Quốc Quân và nhà báo Nguyễn Vũ Bình, đặc xá năm 2007, tiếp tục bị quản chế hành chính dưới hình thức hạn chế tự do đi lại. Mặc dù bị giam giữ tại nhà, nhưng thỉnh thoảng họ cũng được phép đi lại trong phạm vi Hà Nội, nhưng việc đi lại của họ và những cuộc thăm viếng của những nhà bất đồng chính kiến khác bị công an theo dõi chặt chẽ nếu. Ngày 1/9 khi cố gắng đến gặp một số nghị sĩ quốc hội nước ngoài, Quân đã bị giữ tại sân bay Nội Bài. Các nhà chức trách đã hủy hộ chiếu của Quân và thông báo ông không được ra nước ngoài. Sơn và Toàn cũng bị cấm ra nước ngoài. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, hai nhà hoạt động nổi tiếng Nguyễn Đan Quế và Đỗ Nam Hải vẫn bị quản chế tại gia. Ít nhất hai lần Hải bị ngăn không cho đến gặp các nhà ngoại giao nước ngoài.

Việc hạn chế đi lại của Chính phủ tới một số vùng vẫn còn hiệu lực. Theo đó, công dân và người nước ngoài phải có giấy phép mới được thăm các khu vực biên giới, các cơ sở quốc phòng, các khu công nghiệp liên quan đến quốc phòng, các “kho dự trữ quốc gia”, hay “các công trình đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa hay xã hội”.
Luật cư trú năm 2007 không được thực hiện trên quy mô rộng và tình trạng di cư từ nông thôn ra thành thị vẫn tiếp diễn.

Tự ý di cư khiến người dân gặp khó khăn trong việc xin giấy phép cư trú hợp pháp, xin học và các quyền lợi y tế. Người có hộ chiếu nước ngoài phải đăng ký với chính quyền sở tại khi ở nhà riêng, mặc dù chưa có trường hợp nào mà các nhà chức trách địa phương không cho phép du khách quốc tế đến ở với bạn bè và gia đình. Người dân cũng phải đăng ký với công an khu vực khi ở qua đêm tại bất cứ khu vực nào ngoài nhà mình. Có vẻ như Chính phủ thực thi những yêu cầu này chặt chẽ hơn ở một số huyện ở Tây Nguyên và Tây Bắc.

Chính phủ từ chối cấp hộ chiếu cho một số nhân vật bất đồng chính kiến nổi bật. Chính quyền các tỉnh Tây Nguyên cấp hộ chiếu và tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tộc thiểu số đi Mỹ hợp pháp theo diện đoàn tụ gia đình.

Cán bộ đôi khi trì hoãn việc cấp hộ chiếu cho công dân để đòi hối lộ. Những người chuẩn bị định cư ở nước khác ít khi gặp khó khăn khi xin cấp hộ chiếu.

Luật pháp không quy định về việc cưỡng ép lưu vong ở trong nước và nước ngoài và chính quyền không thực hiện việc này.

Chính phủ nói chung luôn cho phép những người đã di cư trở lại thăm quê hương. Tuy nhiên, Chính phủ từ chối cho phép một số nhà hoạt động nhất định sống ở nước ngoài được trở về nước. Các nhà hoạt động chính trị nổi bật là Việt kiều không được cấp visa nhập cảnh.

Theo luật, Chính phủ coi mọi người sinh ra trong nước là công dân, ngay cả khi người đó đã nhận quốc tịch khác, trừ phi họ đưa ra một văn bản chính thức tuyên bố từ bỏ quốc tịch và được Chủ tịch nước phê chuẩn. Tuy nhiên, trên thực tế Chính phủ thường xuyên đối xử với Việt kiều như công dân của nước đã chấp nhận họ. Những người định cư ở nước ngoài không được phép sử dụng hộ chiếu Việt Nam khi đã trở thành công dân nước khác. Chính phủ nhìn chung khuyến khích họ về thăm hay đầu tư nhưng đôi khi theo dõi họ rất sát sao. Trong năm, Chính phủ đã cho phép Việt kiều đi lại tự do, đưa ra chương trình thị thực nhập cảnh nhiều lần cho những người có “đủ tiêu chuẩn”. Tháng 11, Quốc hội thông qua luật cho phép công dân có thể có hai quốc tịch.

Chính phủ tiếp tục tôn trọng Biên bản Ghi nhớ ba bên đã ký với Chính phủ Căm-pu-chia với UNHCR nhằm tạo điều kiện cho tất cả những người Việt Nam thiểu số không đủ tiêu chuẩn đi nước thứ ba được hồi hương từ Căm-pu-chia.

Chính quyền địa phương theo dõi nhưng không cản trở các chuyến đi thu thập thông tin hay giám sát của UNHCR và đại diện các đoàn ngoại giao tới Tây Nguyên. UNHCR cho biết họ đã được gặp riêng những người trở về. Các nhà ngoại giao nước ngoài bị cán bộ cấp thấp hơn cản trở khi xin phép phỏng vấn những người trở về. Như những năm trước, thỉnh thoảng công an địa phương vẫn có mặt tại các buổi phỏng vấn những người trở về nhưng khi được yêu cầu thì họ sẽ đi. Chính quyền các địa phương nói chung vẫn tiếp tục thực hiện nghĩa vụ giúp những người dân tộc thiểu số trở về từ Căm-pu-chia hòa nhập cộng đồng.

UNHCR cho biết tình hình ở Tây Nguyên có vẻ là đang tạo điều kiện để người dân tộc thiểu số hội nhập vào cộng đồng thay vì tạo ra người tị nạn mớivà mô tả bầu không khí ở đây là cởi mở khi được quan sát trong những chuyến thăm giám sát của họ. UNHCR cũng thông báo rằng điều kiện của người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên đã được cải thiện kể từ sau các vụ đàn áp năm 2001 và 2004. UNHCR khẳng định không có bằng chứng xác thực về tình trạng "phân biệt đối xử" đối với những người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên. Mặc dù số người dân tộc thiểu số vượt biên giới sang Căm-pu-chia rất cao vào thời điểm đầu năm, nhưng đến giữa năm về cơ bản đã dừng lại, có thể do hầu hết những người mới sang đều được UNHCR xác định là di cư vì mục đích kinh tế chứ không phải là người tị nạn.

Bảo vệ người tị nạn

Việt Nam chưa tham gia ký kết Công ước 1951 của Liên hiệp quốc về Quy chế người tị nạn và Nghị định thư bổ sung năm 1967, trong khi luật không quy định việc cho tị nạn hoặc quy chế người tị nạn. Chính phủ chưa có biện pháp bảo vệ người tị nạn và không ban hành quy chế người tị nạn hoặc xin tị nạn. Chính quyền không quy định chống việc trục xuất hoặc trao trả người tị nạn về nơi mà cuộc sống và quyền tự do của họ sẽ bị đe dọa, tuy nhiên trong năm không có một trường hợp nào như vậy xảy ra.
Người không quốc tịch

Nhóm người không quốc tịch lớn nhất cả nước bao gồm khoảng 9.500 cư dân Căm-pu-chia xin tị nạn tại Việt Nam vào những năm 70 và bị Chính quyền Căm-pu-chia không cho trở lại nước này, vì cho rằng không có bằng chứng xác nhận những người này đã từng mang quốc tịch Căm-pu-chia. Hầu hết trong số họ là những người Việt hoặc người Hoa thiểu số. Nhóm này ban đầu được định cư tại các trại tị nạn tại Thành phố Hồ Chí Minh và các khu vực lân cận. Năm 1994, khi các nguồn việc trợ nhân đạo cho các trại này chấm dứt, khoảng 7.000 người tị nạn đã bỏ trại đi tìm việc làm và cơ hội mưu sinh tại Thành phố Hồ Chí Minh và các vùng phụ cận. 2.200 người khác tiếp tục định cư tại 4 ngôi làng trên vị trí cũ của trại tị nạn. Con cháu của nhiều người trong số họ được sinh ra tại Việt Nam nhưng tất cả đều không được hưởng đầy đủ quyền lợi như một công dân Việt Nam bình thường, bao gồm quyền sở hữu tài sản, quyền học hành và các dịch vụ y tế công cộng. Năm 2007, UNHCR cùng với Chính phủ Việt Nam và Căm-pu-chia đã xúc tiến một kế hoạch thống kê đầy đủ và tiến hành nhập tịch Việt Nam cho những người không có quốc tịch này. Tuy nhiên, trong năm việc thực hiện kế hoạch đã bị hoãn lại.

Với việc thông qua luật cho phép công dân có hai quốc tịch, Chính phủ cố gắng giải quyết những vấn đề trước kia của người không quốc tịch thông qua việc tước bỏ quốc tịch của chính công dân của mình, ví dụ như những phụ nữ kết hôn với người nước ngoài. Nhóm này bao gồm những phụ nữ Việt Nam lấy chồng Trung Quốc, Hàn Quốc hoặc Đài Loan. Trước đây những phụ nữ này phải từ bỏ quốc tịch Việt Nam để xin nhập tịch của nước khác; nhưng trước khi có được quốc tịch của nước đó, họ ly dị chồng và trở về Việt Nam mà không mang quốc tịch nào hoặc không có các giấy tờ tùy thân. UNHCR cũng đã nỗ lực hợp tác với chính quyền và cộng đồng quốc tế để giải quyết những khía cạnh khác của vấn đề này.

Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tiếp tục hợp tác với Chính phủ Hàn Quốc để giải quyết các vấn đề dịch vụ môi giới lấy chồng nước ngoài và tư vấn tiền hôn nhân, bao gồm hướng dẫn các quy định về di trú và nhập tịch. Bộ Ngoại giao đã cam kết sẽ hợp tác với các cơ quan di trú để phổ biến tốt hơn các phương pháp giúp những phụ nữ này có thể lấy lại được quốc tịch Việt Nam, các giấy tờ tùy thân và hưởng hỗ trợ cấp tái định cư. Tuy nhiên, do các thủ tục khá tốn kém và nhiêu khê nên những phụ nữ này thường vẫn lâm vào tình trạng không có quốc tịch. Một số tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế cũng đã hỗ trợ giải quyết vấn đề này.

Phần 3: Tôn trọng các quyền chính trị: Quyền thay đổi chính phủ của người dân

Hiến pháp không cho phép người dân có quyền được thay đổi chính phủ của mình một cách ôn hòa và người dân cũng không được tự do chọn hay thay đổi luật pháp cũng như thay đổi quan chức.

Bầu cử và tham gia chính trị

Cuộc bầu cử gần đây nhất nhằm lựa chọn các đại biểu Quốc được tổ chức vào tháng 5/2007. Cuộc bầu cử không tự do mà cũng chẳng bình đẳng, bởi hầu hết các ứng cử viên đều do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lựa chọn và giới thiệu. Mặc dù Đảng Cộng sản Việt nam công bố trước đó là sẽ có một số lượng ứng cử viên độc lập lớn hơn (những người không thuộc một tổ chức hoặc nhóm nào đó) tham gia tranh cử, nhưng tỷ lệ các ứng viên độc lập chỉ cao hơn số đã tham gia cuộc bầu cử năm 2002 chút ít. Đảng Cộng sản Việt Nam phê chuẩn 30 ứng viên tự ứng cử, những người không được sự ủng hộ chính thức của Chính phủ nhưng có được cơ hội tham gia tranh cử. Nhiều nguồn tin tin cậy cho biết các quan chức của Đảng đã gây sức ép buộc một số ứng viên tự rút lui hoặc làm cho họ không đủ tiêu chuẩn tham gia tranh cử.

Chính phủ cho biết hơn 99% trong tổng số 56 triệu cử tri đủ điều kiện đã tham gia bỏ phiếu trong cuộc bầu cử này, một con số mà các quan sát viên quốc tế cho rằng là cao đến mức không thể. Cử tri được phép ủy nhiệm cho ai đó bỏ phiếu, trong khi đó chính quyền cơ sở có trách nhiệm đảm bảo rằng tất cả cử tri đủ điều kiện đã đi bỏ phiếu và rằng tất cả các cử tri trong địa phận mình quản lý phải đi bỏ phiếu ở mức cao nhất. Thực tế này được cho là đã làm giảm đi tính minh bạch và công bằng của tiến trình bầu cử.

Trong các cuộc bầu cử năm 2007, các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng đều tái đắc cử. Các ứng viên thuộc Đảng Cộng sản chiếm 450 trong tổng số 493 ghế. Chỉ một trong số 30 ứng viên tự ứng cử trúng cử.

Quốc hội, mặc dù nằm dưới sự kiểm soát của Đảng (tất cả lãnh đạo cao cấp và hơn 90% thành đại biểu Quốc hội đều là Đảng viên), vẫn tiếp tục tự khẳng định là một cơ quan lập pháp. Quốc hội đã công khai chỉ trích các chính sách kinh tế-xã hội của Chính phủ, việc Chính phủ kiểm soát lạm phát, kế hoạch mở rộng Hà Nội. Các kỳ họp Quốc hội được truyền hình trực tiếp trên cả nước. Một số đại biểu quốc hội cũng gián tiếp chỉ trích vị trí độc tôn của Đảng Cộng sản Việt Nam trong xã hội.

Mọi quyền lực chính trị thuộc về Đảng Cộng sản. Hiến pháp thừa nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Các phong trào chính trị đối lập và các đảng phái chính trị khác là bất hợp pháp. Bộ Chính trị hoạt động với tư cách cơ quan hoạch định chính sách tối cao, mặc dù về mặt pháp lý, cơ quan này phải báo cáo Ban chấp hành Trung ương Đảng.

Chính phủ tiếp tục hạn chế nghiêm ngặt việc tranh luận và chỉ trích công khai. Không ai được phép thách thức tính hợp pháp của nhà nước độc đảng; tuy nhiên, có nhiều trường hợp người dân, kể cả một số thành viên cao cấp của Đảng, viết thư chỉ trích Chính phủ và những bức thư này được lưu hành công khai. Chính phủ tiếp tục đàn áp các nhóm chính trị đối lập nhỏ thành lập năm 2006, và thành viên các nhóm này đã bị bắt giam hoặc bị xét xử tuỳ tiện.

Luật pháp tạo cơ hội bình đẳng cho phụ nữ và các nhóm dân tộc thiểu số tham gia vào chính trị. Phụ nữ giữ 127 ghế tại Quốc hội, hay 26%, giảm nhẹ so với quốc hội kỳ trước.

Người dân tộc thiểu số giữ 87 ghế tại Quốc hội, tương đương 18%, cao hơn tỷ lệ dân của họ trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, ước tính khoảng 13%.

Chính phủ - Minh bạch và tham nhũng

Luật pháp quy định những hình phạt đối với tội tham nhũng; tuy nhiên, Chính phủ không phải lúc nào cũng thực thi luật pháp một cách hiệu quả, và các quan chức đôi khi dính vào các vụ tham nhũng song không bị trừng phạt. Tham nhũng tiếp tục là một vấn đề nổi cộm. Chính phủ bày tỏ quyết tâm chống tham nhũng, bao gồm việc công bố ngân sách ở các cấp, sửa đổi nghị định về kê khai tài sản, đồng thời tiếp tục và cải cách các biện pháp thanh tra của Chính phủ. Đôi khi thông tin về các vụ quan chức chính phủ bị buộc tội tham nhũng cũng được công bố rộng rãi.

Luật phòng chống tham nhũng cho phép người dân công khai khiếu nại về hiệu quả hoạt động của Chính phủ, các thủ tục hành chính, tham nhũng và các chính sách kinh tế. Trong các cuộc đối thoại trực tuyến với các nhà lãnh đạo cao cấp của Chính phủ, người dân đưa ra những câu hỏi sắc bén về nỗ lực chống tham nhũng của Chính phủ. Tuy nhiên, Chính phủ vẫn tiếp tục coi mọi sự chỉ trích chính trị công khai là một tội, nếu như sự chỉ trích đó không được các nhà chức trách kiểm soát. Những cố gắng nhằm tổ chức các cá nhân có khiếu nại nhằm kích động họ hành động bị coi là những hoạt động chính trị bị cấm và những người đứng ra tổ chức sẽ bị bắt. Một vài lãnh đạo cao cấp của Đảng và Chính phủ đã tới nhiều địa phương để cố gắng giải quyết các khiếu kiện của người dân. Tham nhũng liên quan đến việc sử dụng đất đai được công bố rộng rãi trên báo chí, rõ ràng là một phần trong nỗ lực phối hợp chính thức nhằm gây áp lực lên các quan chức địa phương đề giảm tình trạng lạm dụng chức quyền.

Theo nghị định năm 2007, hàng năm cứ vào ngày 30/11 các quan chức chính phủ phải kê khai nhà cửa, đất đai, kim loại quý, “giấy tờ có giá trị”, tiền trong tài khoản tại ngân hàng trong nước và nước ngoài, và các khoản thu nhập chịu thuế. Nghị định yêu cầu Chính phủ phải công khai kết quả kê khai tài sản chỉ khi cán bộ nhà nước bị phát hiện “giàu có bất thường” và cần phải tiến hành điều tra và thực hiện các thủ tục pháp lý. Ngoài các quan chức cấp cao của Đảng và Chính phủ, nghị định còn áp dụng đối với cả các công tố viên, thẩm phán, và những ai có cấp bậc từ phó bí thư tỉnh/thành ủy, phó chủ tịch tỉnh/thành, phó trưởng khoa của các bệnh viện công và phó chỉ huy tiểu đoàn trở lên. Do thiếu tính minh bạch nên không thể biết nghị định này được thực hiện rộng rãi đến mức nào.

Mặc dù trong năm 2007 việc xét xử và kết án các quan chức liên quan đến vụ PMU-18 được hoan nghênh là một bước tích cực, song việc truy tố và sa thải các nhà báo và biên tập viên, những người đã đưa tin bài về vụ việc này lại ảnh hưởng xấu đến việc báo chí điều tra tham nhũng.

Tháng 4, một lãnh đạo tỉnh ủy Cà Mau khẳng định ai đó đã cố gắng hối lộ ông 100 triệu đồng (khoảng 6.060 đô-la), để có một vị trí trong chính quyền. Nhưng do không tiết lộ danh tính người đó, vào tháng 9 ông đã bị cách chức bí thư tỉnh ủy.

Tháng 9, Bộ Công an bắt đầu điều tra một vụ việc trong đó một quan chức cao cấp ở Ban quản lý dự án Đại lộ Đông-Tây và dự án Môi trường nước ở Thành phố Hồ Chí Minh bị cáo buộc nhận hối lộ 90 triệu yên Nhật (820.000 đô-la) từ các quan chức của một công ty tư vấn nước ngoài. Tháng 11, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã đình chỉ công tác đối với ông Huỳnh Ngọc Sỹ, người giữ chức Phó Giám đốc sở Giao thông công chính kiêm Giám đốc ban quản lý dự án Đại lộ Đông – Tây và dự án Môi trường nước vì liên quan đến vụ nhận hối lộ.

Luật pháp không cho phép công chúng tiếp cận với thông tin chính phủ và Chính phủ không thường xuyên cho phép công dân của mình cũng như công dân ngoại quốc, trong đó có báo chí nước ngoài, được tiếp cận các loại thông tin đó. Theo Luật về Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Công báo công bố hầu hết các văn bản pháp luật trong ấn phẩm hàng ngày. Chính phủ và Quốc hội duy trì trang web của mình bằng cả hai thứ tiếng Việt và Anh. Bên cạnh đó, có thể truy cập các quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao trên trang web của Tòa án Tối cao. Các văn kiện đảng như các sắc lệnh của Bộ Chính trị không được công bố trong công báo.

Phần 4: Quan điểm của Chính phủ về việc điều tra những cáo buộc vi phạm nhân quyền do các tổ chức quốc tế và phi chính phủ tiến hành

Chính phủ không cho phép các tổ chức nhân quyền tư nhân và địa phương hình thành và hoạt động. Chính phủ không khoan dung đối với bất cứ nỗ lực của tổ chức, cá nhân nào bình luận công khai về tình hình nhân quyền ở Việt Nam và thường dùng rất nhiều biện pháp nhằm dập tắt những chỉ trích trong nước về chính sách nhân quyền, trong đó có việc theo dõi, hạn chế quyền tự do báo chí, hội họp, can thiệp vào các hình thức giao tiếp cá nhân và giam giữ.

Nhìn chung Chính phủ ngăn cản người dân tiếp xúc với các tổ chức nhân quyền quốc tế, tuy nhiên một số nhà hoạt động vẫn làm như vậy. Chính phủ thường không cho cho các quan sát viên nhân quyền thuộc các tổ chức phi chính phủ quốc tế tới thăm; tuy nhiên lại cho phép đại diện báo chí, UNHCR, các chính phủ nước ngoài, các tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực phát triển và cứu trợ đi thăm Tây Nguyên. Chính phủ cũng chỉ trích hầu hết các phát biểu về nhân quyền và các vấn đề tôn giáo của các tổ chức phi chính phủ quốc tế và các chính phủ nước ngoài.

Chính phủ sẵn sàng thảo luận song phương về các vấn đề nhân quyền với các chính phủ nước ngoài và một số chính phủ nước ngoài tiếp tục các cuộc trao đổi chính thức với Chính phủ Việt Nam về vấn đề nhân quyền, thường là thông qua các cuộc đối thoại hàng năm về nhân quyền.

Phần 5: Tình trạng phân biệt đối xử, tội phạm xã hội và nạn buôn người

Luật pháp cấm phân biệt đối xử vì lý do giới tính, sắc tộc, tôn giáo và tầng lớp xã hội; tuy nhiên, việc thi hành những điều luật này còn chưa đồng bộ.

Phụ nữ

Luật pháp cấm sử dụng hay đe dọa dùng bạo lực, lợi dụng người không có khả năng tự vệ, hay dùng thủ đoạn để cưỡng bức quan hệ tình dục trái với ý muốn của người đó. Quy định đó có vẻ như hình sự hóa tội hiếp dâm, cưỡng dâm trong hôn nhân và trong một số trường hợp là quấy rối tình dục; tuy nhiên, không có trường hợp nào được biết là bị truy tố vì tội cưỡng dâm trong hôn nhân và quấy rối tình dục. Các trường hợp hiếp dâm khác đều bị khởi tố tuân theo đầy đủ các quy định của pháp luật. Không có số liệu đáng tin cậy về mức độ phạm tội này.

Luật pháp quy định rõ khung hình phạt từ cảnh cáo đến mức phạt cao nhất là hai năm tù đối với những ai “đối xử tàn nhẫn với người sống lệ thuộc vào họ”. Ngày 1/7/2007, Luật Phòng Chống Bạo lực Gia đình có hiệu lực. Luật này quy định cụ thế những hành vi bị coi là bạo lực gia đình, quy định rõ trách nhiệm của cơ quan chính phủ các cấp và các bộ, đồng thời, đưa ra những mức hình phạt cụ thể áp dụng đối với những người bạo hành gia đình. Tuy nhiên, các tổ chức phi chính phủ và những người ủng hộ nạn nhân cho rằng nhiều điều khoản còn lỏng lẻo, mơ hồ. Mặc dù các cơ quan công an và tư pháp thường không được trang bị đầy đủ để xử lý các trường hợp bạo hành trong gia đình, nhưng Chính phủ với sự giúp đỡ của các tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế đã bắt đầu thực hiện các chương trình huấn luyện công an, luật sư, các cán bộ tư pháp theo luật 2007.

Các quan chức chính phủ ngày càng nhận thức rõ bạo hành gia đình là một mối quan ngại lớn trong xã hội và vấn đề này đã được bàn đến một cách công khai và cởi mở hơn trên các phương tiện truyền thông. Bạo hành gia đình đối với phụ nữ được coi là một hiện tượng phổ biển, mặc dù không có thống kê chính thức nào về mức độ bạo hành. Nhiều tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế đã hợp tác để giải quyết vấn đề này. Các đường dây nóng của các tổ chức phi chính phủ trong nước dành cho nạn nhân bạo hành gia đình đã được thiết lập và đang hoạt động ở các thành phố lớn. Trung tâm vì Phụ nữ và Phát triển được sự hỗ trợ của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam cũng điều hành một đường dây nóng trên phạm vi cả nước, tuy nhiên đường dây nóng này chưa được biết đến rộng rãi ở khu vực nông thôn. Mặc dù khu vực nông thôn thường thiếu nguồn lực tài chính để xây dựng các trung tâm khai báo và thiết lập các đường dây nóng, nhưng Luật năm 2007 đã thiết lập “các khu cư trú đáng tin cậy” tạo điều kiện để phụ nữ đến ở tạm tại một gia đình khác trong khi chính quyền địa phương và lãnh đạo cộng đồng cố gắng kiểm soát người vi phạm và giải quyết những khiếu nại. Thống kê của Chính phủ cho thấy khoảng 1/2 số vụ li dị là do bạo hành gia đình. Tỷ lệ li dị tiếp tục tăng lên, song nhiều phụ nữ vẫn cam chịu cuộc sống hôn nhân bạo hành hơn là dám đương đầu với điều tiếng gia đình và xã hội cũng như sự bất ổn về kinh tế.

Chính phủ, với sự giúp đỡ của các tổ chức phi chính phủ quốc tế, đã hỗ trợ tổ chức các cuộc hội thảo có mục tiêu giáo dục cả nam giới và nữ giới về bạo lực gia đình, đồng thời nhấn mạnh vấn đề này thông qua các chiến dịch nâng cao nhận thức của dân chúng. Các tổ chức phi chính phủ trong nước ngày càng quan tâm đến các vấn đề của phụ nữ, đặc biệt là bạo lực đối với phụ nữ và buôn bán phụ nữ và trẻ em. Một trung tâm quốc gia có sự hỗ trợ từ Chính phủ đã được thành lập để cung cấp dịch vụ cho các nạn nhân buôn người, bao gồm việc cung cấp chỗ ở tạm thời và đào tạo nghề. Hoạt động của trung tâm này được hỗ trợ kinh phí một phần từ các quỹ và các tổ chức phi chính phủ quốc tế.

Hoạt động mại dâm là bất hợp pháp, nhưng việc cưỡng chế còn chưa đồng bộ. Có nhiều ước tính rất khác nhau--Chính phủ cho biết có hơn 30.000 gái mại dâm, nhưng một vài tổ chức phi chính phủ ước tính con số lên tới khoảng 300.000 trên cả nước, kể cả gái mại dâm làm việc bán thời gian hoặc theo mùa vụ. Giống với những năm qua, có những phụ nữ cho biết họ bị ép buộc bán dâm - thường là nạn nhân do bị lừa gạt, tin vào những lời hứa hẹn giới thiệu một công việc làm có thu nhập cao. Nhiều phụ nữ bị ép phải làm gái mại dâm do quá nghèo khổ và do không có cơ hội việc làm khác. Vẫn có một vài báo cáo cho biết cha mẹ ép con gái phải làm gái mại dâm hoặc yêu cầu đóng góp nghĩa vụ tài chính quá lớn khiến con gái họ bị đẩy vào con đường làm gái mại dâm. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam cũng như các tổ chức phi chính phủ quốc tế và trong nước đã có nhiều chương trình giáo dục và phục hồi nhân phẩm, chống các vụ lạm dụng này.

Mặc dù luật pháp cấm mọi hành vi phân biệt đối xử đối với phụ nữ, song phụ nữ vẫn đang phải chịu nhiều hình thức phân biệt đối xử trong xã hội. Mặc dù phần lớn các luật và các quy định khác đều nhấn mạnh việc bảo vệ quyền phụ nữ trong hôn nhân, tại nơi làm việc, cũng như các quy định trong Bộ luật Lao động yêu cầu đối xử ưu tiên đối với phụ nữ, không phải lúc nào phụ nữ cũng nhận được sự đối xử công bằng.

Hành vi quấy rối tình dục được định nghĩa rất rõ ràng nhưng quy định về việc ngăn chặn hành vi này chưa được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật. Các quy định về đạo đức đối với các viên chức và công chức không đề cập gì về vấn đề này mặc dù hiện tượng này vẫn tồn tại.

Trong các trường hợp quấy rối tình dục, nạn nhân có thể thông báo cho các tổ chức xã hội và Hội Liên hiệp Phụ nữ để họ can thiệp kịp thời. Trong những trường hợp nghiêm trọng, nạn nhân có thể kiện ra tòa theo Điều 121 Bộ luật Hình sự, với tội danh “xúc phạm nhân phẩm người khác”. Điều 121 cũng quy định các hình phạt cụ thể đối với tội danh này, từ cảnh cáo, đến cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phải chịu án tù từ 3 tháng đến 2 năm. Tuy nhiên, trên thực tế, các vụ kiện quấy rối tình dục chưa hề xảy ra và đa số các nạn nhân đều không muốn công khai tố cáo kẻ phạm tội.

Hội Liên Hiệp Phụ nữ Việt Nam và Ủy ban Quốc gia Vì sự tiến bộ của phụ nữ đang tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa quyền phụ nữ, trong đó có quyền chính trị, quyền kinh tế, quyền bình đẳng trước pháp luật và quyền được bảo vệ trước những hành vi bạo hành trong hôn nhân. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt nam cũng đã triển khai các chương trình tín dụng vi mô và các chương trình khác để góp phần thúc đẩy sự tiến bộ của phụ nữ. Ủy ban Quốc gia Vì sự tiến bộ của phụ nữ tiếp tục thực hiện chiến lược quốc gia đến 2010 về sự tiến bộ của phụ nữ. Những lĩnh vực chủ yếu trong chiến lược này là đưa phụ nữ nắm giữ những vị trí cao trong các bộ ngành và tại Quốc hội. Chiến lược cũng tập trung vào việc tăng tỉ lệ phụ nữ biết chữ, tiếp cận giáo dục và y tế.

Trẻ em

Các tổ chức quốc tế và các cơ quan chính phủ cho biết mặc dù Chính phủ đã có nhiều nỗ lực để thúc đẩy việc bảo vệ và chăm sóc trẻ em, nhưng trẻ em vẫn đang phải đối mặt với nguy cơ bị bóc lột về kinh tế.

Mặc dù giáo dục phổ cập có tính chất bắt buộc và miễn phí cho đến khi trẻ em 14 tuổi, song chính quyền địa phương không phải lúc nào cũng thực hiện quy định này, đặc biệt là ở khu vực nông thôn, nơi mà ngân sách của chính quyền địa phương và gia đình dành cho giáo dục thường rất hạn hẹp, và trẻ em góp phần đáng kể vào lực lượng lao động nông nghiệp.

Có dấu hiệu cho thấy xảy ra tình trạng lạm dụng trẻ em, tuy nhiên không có thông tin về mức độ các vụ lạm dụng đó.

Có hiện tượng mại dâm trẻ em, chủ yếu là các bé gái, và cả các bé trai, tại các thành phố lớn. Nhiều gái mại dâm ở Thành phố Hồ Chí Minh chưa đến 18 tuổi. Nhiều thiếu niên bị đẩy vào con đường mại dâm vì lý do kinh tế.
Theo Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, có khoảng 23.000 trẻ em đường phố là đối tượng dễ bị lạm dụng và đôi khi bị công an lạm dụng hoặc sách nhiễu. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội điều hành hai trung tâm trợ giúp trẻ em cần được giúp đỡ. Các hội đoàn thanh niên cũng đã triển khai nhiều chiến dịch nâng cao nhận thức về vấn đề này.
Buôn người

Luật nghiêm cấm mọi hành vi buôn người, song nạn buôn người, đặc biệt là buôn bán phụ nữ và trẻ em vì mục đích khai thác tình dục và buôn nam giới sang nước ngoài để bóc lột lao động, vẫn luôn là một vấn nạn đáng lo ngại. Chưa có con số thống kê đáng tin cậy về số nạn nhân của hành vi buôn người có mục đích liên quan đến tình dục; tuy nhiên, đã có bằng chứng cho thấy con số này đang tăng lên. Hồ sơ thụ lý các vụ án buôn người đang ngày một dày thêm, cũng như số lượng vụ khởi tố và xét xử các đường dây buôn người ngày càng lớn. Chính phủ ngày càng công khai hơn trong việc phát hiện và khởi tố các vụ buôn người, đồng thời, nhận thức của công chúng cũng đang ngày một tăng. Khi kinh tế tiếp tục phát triển, các tổ chức tội phạm trong nước và quốc tế hoạt động trong lĩnh vực buôn người tìm cách tận dụng việc vươn ra các thị trường quốc tế, gia tăng sử dụng Internet, sự gia tăng khoảng cách giàu nghèo, để bóc lột những người có nguy cơ trở thành nạn nhân và phát triển mạng lưới buôn người.

Việt Nam đã đã trở thành nguồn quan trọng trong việc buôn người. Phụ nữ Việt Nam chủ yếu bị đưa sang Căm-pu-chia, Malaysia, Trung Quốc, Đài Loan và Hàn Quốc để khai thác tình dục. Phụ nữ cũng bị đưa tới Hồng Kông, Macao, Thái Lan, In-đô-nê-xi-a, Anh, Đông Âu và Mỹ. Cũng có báo cáo cho biết nhiều phụ nữ tới Đài Loan, Hồng Kông, Macao, Hàn Quốc và Trung Quốc vì mục đích hôn nhân cũng đã trở thành nạn nhân của bọn buôn người. Phụ nữ và trẻ em còn được buôn bán trong nước, thường là từ nông thôn ra thành thị. Nam giới thì bị bán giữa các vùng để làm các công việc nặng nhọc như xây dựng, công việc đồng áng, đánh cá và các công việc khác.

Có các báo cáo cho biết nhiều phụ nữ từ Thành phố Hồ Chí Minh và Đồng bằng sông Cửu Long bị ép phải hành nghề mại dâm sau khi kết hôn ở nước ngoài, chủ yếu là các nước châu Á. Cũng đã có nhiều vụ buôn bán phụ nữ đến Đặc khu hành chính Macao thuộc Trung Quốc với sự trợ giúp của các tổ chức ở Trung Quốc núp bóng văn phòng môi giới hôn nhân, các tổ chức môi giới lao động quốc tế và các công ty du lịch. Sau khi đến nơi, những phụ nữ này đều phải lao động như những nô lệ theo hợp đồng hoặc bị buộc làm gái bán dâm.

Trẻ em cũng bị buôn bán vì mục đích khai thác tình dục, cả trong nước lẫn nước ngoài. Một tổ chức phi chính phủ ước tính độ tuổi trung bình của các em gái là từ 15 đến 17 tuổi. Một số báo cáo khác cho biết các em gái bị bán sang Căm-pu-chia thậm chí còn ở độ tuổi nhỏ hơn thế nữa.

Chính quyền đã tiến hành bắt nhiều công dân và cán bộ chính quyền vì đã mồi chài các bậc cha mẹ để họ cho con đi làm con nuôi, làm hồ sơ giả để che dấu gốc gác của trẻ, và đưa những đứa trẻ này sang các tỉnh khác nơi các em được mời chào để cho đi làm con nuôi. Ngoài ra, cũng có bằng chứng cho thấy trẻ nhỏ và trẻ vị thành niên đôi khi bị bắt cóc và bị bán cho những người muốn nhận con nuôi ở châu Âu, Bắc Mỹ hoặc Trung Quốc. Bộ Công an đã xác định vấn đề bắt cóc và buôn bán trẻ em làm con nuôi là một trong những mối quan ngại đang gia tăng và những vụ việc này được nêu bật trên các phương tiện truyền thông.

Đã có những trường hợp buôn người trưởng thành vì mục đích khai thác sức lao động được ghi nhận. Trong đó, có các trường hợp buôn bán nam giới tới Malaysia và Thái Lan để làm việc tại các công trường xây dựng và đưa ngư dân đến làm việc ở Đài Loan. Những hợp đồng tuyển dụng và xuất khẩu lao động thiếu trung thực, thậm chí có tính chất lừa đảo đang là một vấn đề nhức nhối, mặc dù Chính phủ đã bắt đầu triển khai các bước nhằm quản lý hoạt động xuất khẩu lao động. Bộ Lao Động, Thương Binh và Xã hội cho biết nhiều lao động làm việc tại các công ty lao động quốc doanh được tuyển dụng và gửi đi lao động nước ngoài đã phải làm việc trong điều kiện tương tự như nô lệ cưỡng bức hay lao động ép buộc. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã báo cáo về những vụ việc xảy ra trong ngành xây dựng của Malaysia và cả Thái Lan (xem phần 6.e.).

Phụ nữ nghèo và các bé gái vị thành niên, đặc biệt là ở nông thôn, thường là đối tượng có nguy cơ trở thành nạn nhân của các đường dây buôn người. Nghiên cứu của Bộ Công an và UNICEF đã chỉ ra rằng nạn nhân buôn người có thể ở bất cứ khu vực nào trên cả nước, nhưng thường tập trung ở một số tỉnh biên giới phía Bắc và các tỉnh biên giới phía Nam, đặc biệt là ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và tỉnh Thanh Hóa. Nhiều người đã bị chính gia đình mình bán đi để làm người giúp việc gia đình hoặc vì mục đích khai thác tình dục. Trong nhiều trường hợp, kẻ buôn người trả cho gia đình nạn nhân vài trăm đô-la để cho con gái của họ sang Căm-pu-chia “đi làm”. Nhiều nạn nhân phải chịu sức ép trách nhiệm đóng góp vào thu nhập gia đình; số khác thì bị lôi kéo bởi những lời hứa hẹn về những công việc có thu nhập cao từ những người quen biết. Những lời hứa hẹn đường mật, nợ nần, bị tịch thu giấy tờ và đe dọa trục xuất là những thủ đoạn thường được những kẻ buôn người, thành viên gia đình và chủ lao động sử dụng để đe dọa nạn nhân.

Những kẻ cơ hội, các mạng lưới không chính thức, và một số nhóm có tổ chức đã lôi kéo phụ nữ nghèo ở nông thôn bằng những lời hứa hẹn việc làm hoặc hôn nhân rồi ép họ hành nghề mại dâm. Họ hàng đôi khi cũng là một mắt xích trong đường dây buôn người. Chính phủ khẳng định các nhóm tội phạm có tổ chức tham gia vào quá trình tuyển mộ, trung chuyển và các hoạt động khác có liên quan đến việc buôn bán người.

Luật quy định hình phạt tù từ 2 tới 20 năm đối với tội danh buôn bán phụ nữ và từ 3 năm tới chung thân với tội danh buôn bán trẻ em. Chính phủ tiếp tục gia tăng nỗ lực truy tố những kẻ buôn người. Tại tỉnh Tây Ninh, công an đã phát hiện bốn đường dây buôn người, bắt 11 nghi can, cứu được 15 nạn nhân buôn người sau một loạt vụ tấn công thực hiện trong nửa đầu năm. Vào thời điểm cuối năm, 9 trong số 11 nghi can đã bị giam giữ chờ xét xử và hai người đã được thả do thiếu chứng cứ.

Một Ban chỉ đạo quốc gia do Bộ Công an đứng đầu đã điều phối các nỗ lực của Chính phủ trong việc phát hiện và khởi tố các vụ án buôn người, hỗ trợ ngăn chặn nạn buôn người và các hoạt động đào tạo. Cục Cảnh sát Hình sự của Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng và Cục Phòng chống tội phạm xã hội của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội là những cơ quan chính phủ nắm vai trò chủ đạo trong cuộc chiến chống nạn buôn người, với sự phối hợp chặt chẽ của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Ban chỉ đạo này đã tiếp tục đào tạo cán bộ trung ương và địa phương để chống buôn người. Chính phủ đã cho ra một cuốn cẩm nang đào tạo toàn diện về ngăn chặn và dập tắt hoạt động buôn người, với sự đóng góp của các tổ chức phi chính phủ quốc tế trong quá trình soạn thảo nội dung. Nội dung cuốn cẩm nang này bao gồm tổng quan về vấn đề buôn người, giới thiệu về các hình thức hỗ trợ nạn nhân, giải thích các văn bản pháp lý quốc tế và trong nước, luật pháp và chính sách về chống buôn người. Trong năm qua, công an đóng vai trò ngày càng chủ động và tích cực trong hoạt động điều tra, tiếp tục xây dựng một lực lượng tinh nhuệ chống buôn người. Chính phủ cho biết số vụ điều tra và truy tố không tăng do nhân dân cảnh giác hơn, còn tội phạm buôn người đã nhận thức rõ là Chính phủ quyết tâm bắt và truy tố tội phạm buôn bán người.

Chính phủ tiếp tục triển khai Chương trình hành động quốc gia 2004-2010 về đấu tranh chống nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em, cũng như Luật Xuất khẩu Lao động mới và các chỉ thị về minh bạch trong tuyển dụng và ký kết hợp đồng lao động. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã ra thông tư quy định thủ tục tiếp nhận và hỗ trợ nạn nhân buôn người.

Các tổ chức quần chúng và các tổ chức phi chính phủ đã triển khai các chương trình giáo dục những người có nguy cơ trở thành nạn nhân về vấn đề buôn bán người và tái hòa nhập phụ nữ và trẻ em là nạn nhân của các vụ buôn người vào đời sống xã hội và cộng đồng. Trong năm, các chương trình này tiếp tục được xây dựng nhằm bảo vệ và hỗ trợ tái hòa nhập nạn nhân buôn người, thông qua hoạt động trợ giúp tâm lý và dạy nghề, đồng thời bổ sung nỗ lực ngăn ngừa trên phạm vi quốc gia và khu vực nhằm vào nhóm dân cư có nguy cơ cao. Các tổ chức chính thức, bao gồm Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội và Vụ Gia đình, các tổ chức đoàn thể như Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Đoàn Thanh niên, tiếp tục triển khai các chương trình ngăn chặn nạn buôn người, nâng cao nhận thức của cộng đồng và bảo vệ nạn nhân. Các cơ quan chính phủ đã phối hợp chặt chẽ với Tổ chức Di cư Quốc tế, Quỹ Châu Á, Quỹ Liên kết Thái Bình Dương và các tổ chức phi chính phủ quốc tế khác để cung cấp chỗ ở tạm thời, dịch vụ y tế, giáo dục, tín dụng, tư vấn và tái hòa nhập đối với những nạn nhân buôn người hồi hương. Các cơ quan an ninh có trách nhiệm kiểm soát biên giới được đào tạo kỹ thuật điều tra nhằm ngăn chặn buôn người.

Chính phủ đã hợp tác với các tổ chức phi chính phủ quốc tế nhằm bổ sung và tăng cường hơn nữa các biện pháp và định chế thực thi pháp luật, đồng thời phối hợp với các chính phủ nước ngoài để ngăn chặn hoạt động buôn người. Chính phủ cũng đã phối hợp chặt chẽ với các quốc gia khác trong khuôn khổ Tổ chức Cảnh sát Quốc tế (Interpol), các đối tác châu Á và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á. Ngày 24/3, Chính phủ ký một biên bản ghi nhớ về chống buôn người với Thái Lan, gia tăng hợp tác quản lý an ninh biên giới, xác minh và truy tố các vụ buôn người.

Báo cáo Buôn người hàng năm của Bộ Ngoại giao có thể truy cập tại trang www.state.gov/g/tip.

Người khuyết tật

Luật yêu cầu nhà nước bảo vệ quyền lợi và khuyến khích tuyển dụng người khuyết tật. Việc cung cấp dịch vụ cho người khuyết tật dù còn nhiều hạn chế song đã được cải thiện trong năm qua.

Bộ Giao thông Vận tải thực hiện bộ quy tắc sử dụng các phương tiện giao thông công cộng và đào tạo cán bộ chuyên trách các cơ quan vận tải và sinh viên cách thực hiện quy tắc này.

Việc xây dựng hoặc nâng cấp các tòa nhà công cộng hoặc các cơ quan chính phủ buộc phải có lối đi cho người khuyết tật. Bộ Xây dựng vẫn duy trì những đơn vị kiểm soát việc thi hành quy định này tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Quảng Nam và Ninh Bình để bảo đảm việc thi hành trên thực tế những quy định “không có rào cản đối với người khuyết tật” này.

Luật pháp cũng quy định rõ những hình thức đối xử ưu đãi đối với các doanh nghiệp tuyển dụng người khuyết tật và cũng quy định rõ mức phạt đối với những doanh nghiệp không đáp ứng yêu cầu có ít nhất 2 đến 3% lực lượng lao động là người khuyết tật. Tuy nhiên, Chính phủ không thực hiện những quy định này một cách đồng bộ. Các doanh nghiệp có 51% lao động là người khuyết tật trở lên có thể đủ điều kiện để nhận các khoản trợ cấp đặc biệt của Chính phủ.

Chính phủ tôn trọng các quyền chính trị và dân sự của người khuyết tật. Theo Luật Bầu cử, các hòm phiếu có thể được mang tới nhà người khuyết tật không thể tự đi bỏ phiếu.

Chính phủ cũng hỗ trợ thành lập các tổ chức giúp đỡ người khuyết tật. Những tổ chức này được tham khảo ý kiến trong quá trình xây dựng hoặc đánh giá các chương trình quốc gia, ví dụ như các chương trình xóa đói giảm nghèo, các luật về đào tạo nghề và các chính sách giáo dục khác. Ủy ban Điều phối quốc gia về người khuyết tật và các bộ thành viên của ủy ban này đã phối hợp chặt chẽ với các tổ chức trong và ngoài nước để bảo vệ, hỗ trợ, tiếp cận, giáo dục và việc làm cho người khuyết tật. Chính phủ cũng đã vận hành một mạng lưới nhỏ các trung tâm tái hòa nhập nhằm cung cấp liệu pháp tâm lý lâu dài. Nhiều tỉnh thành, các cơ quan chính phủ và các trường đại học cũng đã có các chương trình đặc biệt hỗ trợ người khuyết tật.

Dân tộc, chủng tộc, các dân tộc thiểu số

Mặc dù Chính phủ chính thức cấm tình trạng phân biệt đối xử đối với các dân tộc thiểu số, nhưng tình trạng này vẫn tồn tại lâu nay. Bất chấp tốc độ tăng trưởng kinh tế đáng ghi nhận của đất nước, các cộng đồng dân tộc thiểu số vẫn chỉ được thụ hưởng rất ít những lợi ích của quá trình phát triển kinh tế.

Một số thành viên của các nhóm dân tộc thiểu số vẫn tiếp tục chạy sang Căm-pu-chia và Thái Lan để tìm kiếm cơ hội kinh tế tốt hơn hoặc để tìm đường tắt để di cư sang các quốc gia khác. Các quan chức chính phủ giám sát chặt chẽ động thái của một số dân tộc thiểu số, đặc biệt là các nhóm dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, do lo ngại là kiểu đạo Tin Lành mà những nhóm dân tộc này theo khuyến khích chủ trương ly khai.

Chính phủ tiếp tục áp dụng các biện pháp an ninh ở khu vực Tây Nguyên để đối phó với những lo ngại về khả năng xảy ra hoạt động li khai của các nhóm dân tộc thiểu số. Nhiều báo cáo cho biết công an đặc biệt theo dõi các cuộc điện thoại từ các cá nhân người dân tộc thiểu số gọi cho cộng đồng thiểu số ở nước ngoài. Một số ít báo cáo cho biết các nhóm dân tộc thiểu số tìm cách vượt biên sang Căm-pu-chia đã bị công an Việt Nam tuần tra ở cả hai bên đường biên giới bắt phải quay trở về, đôi khi còn bị đánh đập và giam giữ.

Chính phủ tiếp tục giải quyết nguyên nhân khiến người dân tộc thiểu số bất mãn thông qua những chương trình đặc biệt nhằm cải thiện các cơ sở giáo dục, y tế, nâng cấp đường xá và cấp điện cho các làng xã. Chính phủ cũng đã giao đất cho các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên thông qua một chương trình đặc biệt, nhưng vẫn còn nhiều lời phàn nàn cho rằng việc triển khai thực hiện chương trình đặc biệt này còn chưa đồng bộ.

Chính phủ vẫn duy trì chương trình dạy tiếng dân tộc cho học sinh đến lớp 5. Chính phủ cũng phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương để xây dựng chương trình giảng dạy bằng tiếng địa phương, nhưng dường như chương trình này được triển khai một cách toàn diện hơn tại khu vực Tây Nguyên so với khu vực miền núi phía Bắc và các tỉnh Tây Bắc. Chính phủ cũng đã xây dựng các trường chuyên biệt dành cho người dân tộc thiểu số tại nhiều tỉnh, thành, bao gồm các trường dân tộc nội trú ở cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông được Chính phủ trợ cấp; học sinh dân tộc thiểu số được tham dự các lớp dự bị đại học, được hưởng học bổng cũng như các điều kiện xét tuyển ưu tiên vào bậc đại học. Chính phủ cũng trợ cấp cho các trường kỹ thuật và dạy nghề dành cho người dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, vẫn có tình trạng phân biệt đối xử đối với người dân tộc thiểu số theo đạo Thiên Chúa, mặc dù pháp luật đã quy định giáo dục phổ cập dành cho mọi trẻ em trong độ tuổi đến trường, không phân biệt tôn giáo và dân tộc.

Chính phủ phát các chương trình phát thanh và truyền hình bằng tiếng dân tộc tại một số vùng. Chính phủ cũng chỉ thị cho cán bộ người Kinh phải học tiếng dân tộc tại nơi họ làm việc. Chính quyền các tỉnh tiếp tục đưa những sáng kiến về tăng việc làm, giảm khoảng cách thu nhập giữa người dân tộc và người Kinh, và hướng cán bộ phải tôn trọng và hưởng ứng truyền thống cũng như văn hóa của các dân tộc.

Chính phủ cũng dành ưu đãi cho các công ty trong nước và nước ngoài đầu tư vào các khu vực miền núi - nơi có nhiều người dân tộc sinh sống. Chính phủ đã triển khai các chương trình phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ người nghèo tại những nơi có đông người dân tộc sinh sống và xây dựng các chương trình khuyến nông tại những vùng nông thôn xa xôi hẻo lánh.

Các biểu hiện phân biệt đối xử và lạm dụng xã hội khác

Một số người đã từng bị giam trong các trại cải tạo vì liên quan đến chính quyền trước 1975 tiếp tục cho biết có sự phân biệt chính thức trong xã hội khi họ và gia đình tìm mua nhà ở, học hành, tìm việc làm, mặc dù trên thực tế tình trạng phân biệt đối xử đã giảm đáng kể khi những quy định cấm trước kia được rỡ bỏ và tỉ lệ cựu chiến binh trong lực lượng lao động đã giảm đi.

Không có bằng chứng nào cho thấy có sự phân biệt đối xử chính thức đối với bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS, nhưng thái độ phân biệt đối xử trong xã hội vẫn xảy ra đối với những bệnh nhân này. Các báo cáo đáng tin cậy cho biết những người nhiễm HIV/AIDS thường bị mất việc làm hoặc phải chịu sự phân biệt đối xử tại nơi làm việc hay khi tìm kiếm nhà ở. Tuy nhiên, số trường hợp này cũng đã giảm so với các năm trước. Trong một số ít trường hợp, con cái của những người nhiễm HIV/AIDS không được đi học, mặc dù điều này là trái với quy định của pháp luật. Với sự hỗ trợ của các nhà tài trợ quốc tế, chính quyền trung ương và cấp tỉnh/thành đã từng bước thực hiện các chương trình điều trị, trợ giúp và trợ cấp cho những người nhiễm HIV/AIDS; làm giảm tình trạng phân biệt đối xử và định kiến xã hội. Tuy nhiên, những hoạt động này chưa được thực hiện đồng bộ. Các tổ chức tôn giáo làm từ thiện đôi khi cũng được Chính phủ cho phép hoạt động trong lĩnh vực này.

Ở Việt Nam hiện vẫn đang tồn tại một cộng đồng những người đồng tính luyến ái nhưng ít được xã hội biết đến. Nhận thức của dân chúng về vấn đề này vẫn còn rất hạn chế và có ít bằng chứng cho thấy có sự phân biệt đối xử đối với những đối tượng này.

Phần 6. Quyền lợi của người lao động

a. Quyền lập hội

Người lao động có thể quyết định gia nhập hay không gia nhập các tổ chức công đoàn và cấp mà họ muốn tham gia (địa phương, tỉnh hoặc trung ương). Tuy nhiên, mỗi công đoàn đều là thành viên và do một tổ chức công đoàn duy nhất kiểm soát, đó là Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam - do Đảng Cộng sản kiểm soát - có chức năng thông qua và quản lý các tổ chức công đoàn cơ sở hoạt động tại mỗi địa phương và trong từng ngành công nghiệp. Người lao động không được tự do tham gia hoặc thành lập các công đoàn độc lập với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.

Theo thống kê của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, tính đến tháng 8, tổng số thành viên của tổ chức này là hơn 6,2 triệu người, ước tính chiếm khoảng 39% trong số gần 16 triệu người làm công ăn lương. Trong số này, 36,5% đang làm việc trong khu vực nhà nước, 33,1% đang làm việc trong các doanh nghiệp quốc doanh và 30,4% đang làm việc trong khu vực tư nhân. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cho biết số lượng thành viên của tổ chức này đại diện cho 95% lao động trong khu vực nhà nước và 90% lao động làm việc trong các doanh nghiệp quốc doanh. Gần 1,7 triệu công đoàn viên đang làm việc trong khu vực tư nhân, kể cả tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (hơn 700.000 người).

Các công đoàn viên phải đóng phí công đoàn là 1% lương, các chủ lao động phải đóng 2% lương. Mặc dù việc thu phí này là nhằm hỗ trợ người lao động và các hoạt động công đoàn, tuy nhiên việc sử dụng nguồn này không được minh bạch lắm. Đại đa số lực lượng lao động không tham gia công đoàn và không phải đóng phí, vì hầu hết 34 triệu trong số 45,3 triệu lao động sống ở nông thôn và tham gia các hoạt động nông nghiệp quy mô nhỏ hoặc làm việc trong các công ty nhỏ và các khu vực tư nhân phi chính thức.

Lãnh đạo Công đoàn có thể gây ảnh hưởng tới các quyết định quan trọng, ví dụ như việc sửa đổi luật lao động, phát triển mạng lưới an sinh xã hội, xây dựng các tiêu chuẩn về an toàn, sức khỏe và mức lương tối thiểu. Tuy nhiên, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam thừa nhận rằng chính quyền không phải lúc nào cũng truy tố các vụ vi phạm pháp luật. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội cũng thừa nhận thiếu sót trong hệ thống thanh tra lao động và cho rằng nguyên nhân chính là do không có đủ số lượng thanh tra lao động. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã chỉ ra và Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội cũng đã thừa nhận rằng mức phạt thấp áp dụng đối với các công ty không thể là biện pháp chống vi phạm hiệu quả.

Trong vụ việc bốn thành viên của Liên minh Nông dân và Lao động bị kết án tháng 12/2007 theo điều 258 Bộ Luật hình sự quy định cấm “lạm dụng các quyền tự do dân chủ làm ảnh hưởng tới lợi ích của nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức và công dân", Doãn Huy Chương đã được thả ngày 13/5 sau khi thụ án; Nguyễn Tấn Hoành cũng được thả hồi tháng 5. Ngày 25/2 Nguyễn Thị Tuyết người bị kết án tù ba năm đã bị tòa phúc thẩm giữ nguyên mức án. Có tin là Lê Văn Sỹ đã được thả hồi tháng 3/2007; nhưng đến cuối năm vẫn không có tin tức gì về tình hình của Nguyễn Toản và Lê Bá Triết.

Nguyễn Khắc Toàn, cựu nhà báo và người sáng lập Liên đoàn Lao động Quốc tế Việt Nam (ILUV) vẫn đang bị theo dõi chặt chẽ và quản thúc tại gia. Tháng 8, ông bị cấm không được ra nước ngoài để điều trị. Trong năm, một vài lần ông bị công an giam lỏng, máy tính cá nhân và các vật dụng khác bị thu giữ. Chính phủ tiếp tục coi ILUV là một tổ chức bất hợp pháp, đây là tổ chức do ông Toàn lập ra năm 2006 để bảo vệ quyền lợi của người lao động.

Bãi công là hành vi phi pháp nếu chúng không liên quan đến một tranh chấp lao động tập thể nào hoặc nếu nó có nguyên nhân là các vấn đề không thuộc phạm vi các mối quan hệ lao động. Trước khi một cuộc đình công hợp pháp được tiến hành, người lao động phải khiếu kiện thông qua tiến trình trong đó có sự tham gia của hội đồng hòa giải (hoặc người hòa giải lao động cấp quận/huyện nơi không có tổ chức công đoàn); nếu không đạt được giải pháp, đơn khiếu nại phải được gửi lên trọng tài tỉnh. Công đoàn (hoặc đại diện của người lao động tại nơi không có tổ chức công đoàn cơ sở) có quyền hoặc đưa quyết định của hội đồng trọng tài lao động tỉnh lên tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc tiếp tục đình công. Cá nhân người lao động có thể trực tiếp kiện ra tòa án nhân dân, song trong hầu hết trường hợp, họ chỉ có thể làm việc đó sau khi hòa giải thất bại. Luật sửa đổi cũng quy định công nhân đình công sẽ không được trả lương cho thời gian họ không làm việc.

Luật lao động cấm bãi công trong 54 lĩnh vực nghề nghiệp và kinh doanh vì mục đích công hoặc được Chính phủ coi là có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế và an ninh quốc phòng của đất nước. Một nghị định đã nêu cụ thể các loại hình doanh nghiệp này - những doanh nghiệp trong các ngành điện, bưu điện và viễn thông, đường sắt, đường thuỷ, hàng không, ngân hàng, các công trình công cộng, và ngành công nghiệp dầu mỏ và khí đốt. Luật cũng giao cho thủ tướng quyền được đình chỉ bãi công trong trường hợp cuộc bãi công đó gây tổn hại cho nền kinh tế quốc gia và an ninh công cộng.

Ngày 30/1, Chính phủ ra nghị định về hình thức bãi công “tự phát”, tuyên bố những cá nhân nào tham gia các cuộc bãi công mà một tòa án nhân dân tuyên là bất hợp pháp, có bằng chứng cho thấy gây ra thiệt hại cho chủ lao động của họ, thì các cá nhân đó phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại đã gây ra.

Thường thì các cuộc đình công không tuân thủ quy trình hòa giải và trọng tài và vì vậy bị coi là những cuộc đình công “tự phát”. Số cuộc đình công như vậy đã gia tăng đáng kể trong năm, hơn 90% trong số đó xảy ra tại Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận. Mặc dù theo luật thì những cuộc đình công này là bất hợp pháp, nhưng Chính phủ tỏ ra khoan dung, không tiến hành các biện pháp chống lại những người tham gia đình công. Luật nghiêm cấm mọi hành vi trả thù những người đình công và không có trường hợp trả thù nào xảy ra trên thực tế. Trong một số trường hợp, Chính phủ đã có hình thức kỷ luật đối với những chủ lao động có hành vi phi pháp dẫn đến đình công, đặc biệt là các công ty nước ngoài.

b. Quyền tổ chức và đàm phán tập thể

Theo luật, Liên đoàn Lao động tỉnh hay thành phố trực thuộc trung ương thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam có trách nhiệm tổ chức một công đoàn cơ sở tại các doanh nghiệp mới trong vòng 6 tháng kể từ ngày doanh nghiệp đó được thành lập và lãnh đạo doanh nghiệp được yêu cầu phải hợp tác với tổ chức công đoàn đó. Trên thực tế, chỉ 85% các doanh nghiệp nhà nước, 60% các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và 30% doanh nghiệp tư nhân có tổ chức công đoàn cơ sở.

Luật lao động yêu cầu các doanh nghiệp hỗ trợ người lao động tham gia công đoàn và cấm không để xảy ra tình trạng phân biệt đối xử chống công đoàn giữa chủ lao động và nhân công muốn tham gia công đoàn, tuy nhiên thực hiện quy định này chưa đồng bộ.

Luật pháp quy định các công đoàn trực thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam có quyền đàm phán tập thể nhân danh người lao động. Các tranh chấp lao động tập thể liên quan đến các quyền phải được giải quyết thông qua hội đồng hòa giải và nếu hội đồng không thể giải quyết, vụ việc sẽ được chuyển lên cho chủ tịch ủy ban nhân dân cấp quận/huyện giải quyết. Các điều khoản bổ sung trong luật lao động hồi tháng 6 đã chia các tranh chấp này thành hai loại: tranh chấp liên quan đến quyền của người lao động (tuân thủ pháp luật) và tranh chấp liên quan đến lợi ích của người lao động (những yêu cầu ngoài luật); hai loại tranh chấp này được giải quyết theo những trình tự thủ tục khác nhau. Luật quy định một quy trình hòa giải và trọng tài phải được thực hiện trước khi một cuộc đình công có thể được tổ chức một cách hợp pháp.

Trong bối cảnh pháp luật không cho phép thành lập các công đoàn độc lập, luật lao động sửa đổi năm 2007 quy định việc đàm phán giải quyết tranh chấp lao động có thể do “các chủ thể liên quan” giải quyết, có thể bao gồm các đại diện người lao động, trong trường hợp doanh nghiệp có tranh chấp không có tổ chức công đoàn. Mặc dù luật cho phép tiến hành “các hoạt động công đoàn”, đặc biệt trong các tình huống khẩn cấp chẳng hạn như đình công, nhưng Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam được yêu cầu phải thành lập một tổ chức công đoàn thành viên chính thức của mình trong vòng 6 tháng. Ít có bằng chứng cho thấy lãnh đạo hoặc các tổ chức hoạt động trong giai đoạn 6 tháng này sau đó lại tiếp tục hoạt động và được công nhận.

Không có điều luật đặc biệt hoặc trường hợp miễn trừ nào trong Bộ Luật Lao động được áp dụng riêng đối với các khu chế xuất hoặc khu công nghiệp. Không có bằng chứng cho thấy Chính phủ thi hành luật chặt chẽ hơn tại các khu chế xuất và khu công nghiệp so với những khu vực khác. Tuy nhiên, có những báo cáo đáng tin cậy cho biết chủ lao động tại các khu chế xuất và khu công nghiệp thường phớt lờ quyền lợi của người lao động và thường sử dụng hợp đồng ngắn hạn để tránh không thực hiện yêu cầu pháp lý về thành lập tổ chức công đoàn.

c. Nghiêm cấm sử dụng lao động bắt buộc và lao động cưỡng bức

Luật cấm mọi hình thức lao động bắt buộc và lao động cưỡng bức, trong đó có lao động trẻ em; tuy nhiên, có những báo cáo cho rằng tình trạng này vẫn xảy ra.

Tù nhân thường phải lao động không công hoặc với số tiền công rất ít ỏi. Họ tham gia sản xuất lương thực và các hàng hóa khác được sử dụng trực tiếp trong nhà tù hoặc được đem bán tại các chợ ở địa phương, tiền thu được được cho là dùng để mua những vật dụng phục vụ nhu cầu cá nhân của họ.

Trong khi lĩnh vực xuất khẩu lao động tăng trưởng nhanh chóng, các bài viết trên phương tiện thông tin đại chúng và các nhóm nhân quyền quốc tế đã cảnh báo Chính phủ về việc chỉ tập trung phát triển ngành này mà không có những biện pháp mạnh mẽ bảo vệ người lao động. Họ đưa ra con số ngày càng gia tăng những người lao động phải trả tới 165 triệu đồng (khoảng 10.000 đô-la) để có cơ hội lao động ở nước ngoài - mức phí mà hầu hết người lao động chỉ có thể bù đắp được sau một hoặc hai năm làm việc ở nước ngoài. Tiếp đó đã xuất hiện các báo cáo về tình trạng làm để trả nợ, buôn người vì mục đích tình dục, không có đủ các nguồn lực cần thiết để giúp đỡ cho người lao động đang trong cảnh khốn cùng, ám chỉ những sai phạm của các đơn vị môi giới lao động được Chính phủ cấp phép. Quyết định năm 2007 của Chính phủ quy định mức phí môi giới lao động và Luật Xuất khẩu lao động ban hành năm 2006, có hiệu lực vào tháng 7/2006, đã được soạn thảo với mục đích giảm bớt tình trạng này và giúp đỡ nạn nhân của các đường dây buôn người để bóc lột sức lao động. Chính phủ đã bắt đầu xử lý các công ty lừa đảo xuất khẩu lao động. Tháng 6, Chính phủ rút giấy phép của 16 công ty xuất khẩu lao động vì vi phạm luật.

d. Cấm lao động trẻ em và quy định độ tuổi tối thiểu khi tham gia lao động

Lao động trẻ em vẫn là một vấn đề cần quan tâm, đặc biệt là ở khu vực nông thôn, nơi mà 72% dân số Việt Nam đang sinh sống. Luật cấm hầu hết mọi hình thức lao động trẻ em song cho phép ngoại lệ đối với một vài loại hình công việc. Luật cũng quy định rõ độ tuổi tối thiểu để tham gia lực lượng lao động là 18 tuổi, nhưng các doanh nghiệp có thể thuê trẻ em từ 15 đến 18 tuổi nếu được phép của cha mẹ và của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội. Năm 2006, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội cho biết có gần 30% trẻ em trong độ tuổi từ 6 đến 17 đang tham gia vào các hoạt động kinh tế, thường là tại các nông trại gia đình hoặc các công ty gia đình không nằm trong phạm vi điều chỉnh của luật.

Theo luật, chủ lao động phải bảo đảm để người lao động dưới 18 tuổi không phải làm những công việc nguy hiểm hoặc những công việc có thể làm tổn hại đến sự phát triển tâm sinh lý của trẻ. Bộ Luật Lao động đã quy định cụ thể những công việc bị cấm. Luật cũng cho phép trẻ em từ 13 tuổi đăng ký theo học tại các trung tâm đào tạo nghề. Trẻ em có thể làm việc nhiều nhất 7 tiếng mỗi ngày và 42 tiếng mỗi tuần và phải được chăm sóc sức khỏe đặc biệt.

Ở nông thôn, trẻ em thường làm việc trong các trang trại gia đình và làm các công việc đồng áng khác hoặc làm việc nhà. Trong một số trường hợp, trẻ em bắt đầu làm việc từ khi mới 6 tuổi và bắt đầu phải đảm đương những công việc của người lớn từ khi lên 15. Đặc biệt vào vụ thu hoạch hoặc mùa gieo cấy, một số bậc cha mẹ còn không cho con cái đi học. Ở khu vực thành thị, trẻ em thường làm việc trong các doanh nghiệp nhỏ của gia đình hoặc đánh giày hay bán báo hoặc bán vé số. Hiện tượng di cư từ nông thôn ra thành thị cũng làm cho vấn đề lao động trẻ em trở nên trầm trọng hơn vì người di cư bất hợp pháp không được quyền đăng ký hộ khẩu ở khu vực thành thị. Hệ quả là trẻ em không được học tại các trường công lập và gia đình họ có ít cơ hội tiếp cận tín dụng hơn. Các quan chức tuyên bố rằng trẻ em vị thành niên tại các trung tâm giáo dưỡng - thực ra là các trại cải tạo - hoặc tại các trung tâm quản giáo trẻ vị thành niên, thường tham gia lao động vì “mục đích giáo dục”.

Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm thực thi các luật và chính sách về lao động trẻ em. Cán bộ chính quyền có thể phạt, trong trường hợp vi phạm luật hình sự, truy tố các chủ lao động vi phạm luật lao động trẻ em. Mặc dù Chính phủ không dành đủ nguồn lực để thực thi một cách có hiệu quả các điều luật quy định về bảo đảm an toàn cho trẻ em, đặc biệt trẻ làm việc tại các mỏ hoặc làm người giúp việc trong gia đình, chính phủ đã phát hiện ra một số trường hợp bóc lột trẻ em, đưa trẻ em thoát khỏi tình trạng bị bóc lột và phạt các chủ lao động.

Hỗ trợ của các nhà tài trợ quốc tế tập trung vào vấn đề lao động trẻ em. Chính phủ cũng tiếp tục thực hiện các chương trình xóa bỏ tình trạng lao động trẻ em, tập trung chủ yếu vào những gia đình cần được giúp đỡ và trẻ em mồ côi.

e. Điều kiện làm việc có thể chấp nhận được

Luật pháp yêu cầu Chính phủ quy định mức lương tối thiểu, được điều chỉnh theo tỷ lệ lạm phát và những biến động kinh tế khác. Mức lương tối thiểu của lao động không có tay nghề tại các liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài và các tổ chức quốc tế là 1 triệu đồng (61 đô-la) tại các huyện thành thị của Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh; 900.000 đồng (khoảng 55 đô-la) tại các quận/huyện ngoại ô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh và tại một số huyện và thị trấn công nghiệp; và 800.000 đồng (khoảng 48 đô-la) ở những khu vực còn lại. Chính phủ có thể tạm thời miễn cho một số liên doanh không phải tuân thủ quy định về mức lương tối thiểu trong những tháng hoạt động đầu tiên của doanh nghiệp hoặc nếu doanh nghiệp đó hoạt động tại khu vực xa xôi hẻo lánh, tuy nhiên, mức lương tháng tối thiểu trong những trường hợp này không được thấp hơn 800.000 đồng (khoảng 48 đô-la). Mức lương tháng tối thiểu chính thức cho lao động không có tay nghề trong khu vực nhà nước là 540.000 đồng (34 đô-la). Đối với các lao động đang làm việc cho các công ty nhà nước, tại các nông trường hoặc tại các hộ gia đình, mức lương tối thiểu chính thức là 620.000 đồng (38 đô-la) ở khu vực thành thị và 540.000 (34 đô-la) tại khu vực nông thôn. Tuy nhiên, mức lương này không đủ để người lao động và gia đình của họ duy trì được một cuộc sống tươm tất, đặc biệt trong bối cảnh lạm phát cao trong năm qua.

Chính phủ quy định tuần làm việc 40 giờ đối với công chức chính phủ và lao động tại các doanh nghiệp trong khu vực nhà nước, và khuyến khích khu vực doanh nghiệp tư nhân và các tổ chức quốc tế hoặc nước ngoài có lao động là người địa phương giảm số giờ làm trong tuần xuống 40 giờ nhưng không đưa ra quy định bắt buộc.

Luật quy định ngày làm việc 8 giờ với 24 giờ nghỉ bắt buộc mỗi tuần. Làm thêm phải được trả tiền làm ngoài giờ ở mức bằng hoặc gấp rưỡi mức lương bình thường, gấp hai nếu làm trong ngày nghỉ và gấp ba nếu làm vào ngày lễ cũng như những ngày phép được trả lương. Luật pháp cũng giới hạn số giờ làm thêm tối đa là 4 giờ mỗi tuần và 200 giờ mỗi năm nhưng cũng cho phép một số trường hợp ngoại lệ với tối đa 300 giờ làm thêm mỗi năm và phải tuân thủ quy định của Chính phủ sau khi tham khảo ý kiến với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và các đại diện chủ lao động. Luật cũng quy định số ngày nghỉ phép hàng năm vẫn được hưởng nguyên lương áp dụng cho từng loại hình công việc. Tuy nhiên, không rõ Chính phủ có tổ chức thực hiện chặt chẽ những điều luật này không.

Theo luật, lao động nữ sắp kết hôn, có thai, trong kỳ nghỉ đẻ hoặc nuôi con dưới 1 tuổi không bị sa thải trừ khi doanh nghiệp đóng cửa. Lao động nữ có thai ít nhất 7 tháng hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 1 tuổi không bị buộc phải làm việc ngoài giờ, vào ban đêm hoặc tại những nơi cách xa nơi cư trú của họ. Cũng không rõ quy định này được thực hiện như thế nào.

Luật yêu cầu Chính phủ ban hành các quy định và điều luật bảo đảm an toàn cho người lao động. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội phối hợp với các ủy ban nhân dân ở địa phương và các tổ chức công đoàn cơ sở có trách nhiệm thi hành những quy định này. Tuy nhiên, việc thực hiện các quy định và điều luật này chưa đầy đủ do thiếu ngân sách và nhân sự đã qua đào tạo. Tai nạn lao động do điều kiện y tế và an toàn lao động tại nơi làm việc quá nghèo nàn cũng là một vấn đề bức xúc. Số lượng lớn nhất trong số các tai nạn nghề nghiệp xảy ra là do máy móc như máy cán hoặc máy ép.

Luật quy định người lao động có thể từ chối không làm việc trong những điều kiện nguy hiểm mà không sợ bị mất việc làm. Tuy nhiên, không rõ trên thực tế quy định này có được thực thi hay không. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội khẳng định không có người lao động nào phàn nàn về việc chủ lao động đã không tuân thủ luật pháp.

Theo một điều tra do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội thực hiện hồi tháng 7 về điều kiện lao động tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ, có tới 80% là không đáp ứng yêu cầu an toàn làm việc tối thiểu, 8% có điều kiện làm việc bị cho là quá nghèo nàn, và 90% sử dụng trang thiết bị quá cũ. Người lao động về cơ bản phải làm việc trong môi trường làm việc độc hại - 31% phải làm việc trong môi trường quá nóng, 24% làm việc trong điều kiện quá ồn ào, và 17% phải làm việc tại những nơi rất bụi bặm.

lên đầu trang ^

Công cụ:

Printer_icon.gif In trang này



 

    Trang Web này được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ quản lý.
    Chúng tôi không chịu trách nhiệm về nội dung và tính bảo mật thông tin của các trang Web khác được liên kết đến.


Đại sứ quán Hoa Kỳ