jump over navigation bar
Embassy SealBộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Đại sứ quán Hợp chúng quốc Hoa Kỳ - Hanoi, Vietnam flag graphic
Thông tin cập nhật
 
  Các dịch vụ của AC Dịch vụ Reference Update Tư liệu dịch Kinh tế & Thương mại An ninh khu vực Các vấn đề toàn cầu Báo chí, truyền thông và công nghệ thông tin Chính trị, xã hội và văn hóa Mỹ

Tư liệu dịch: Các vấn đề toàn cầu

BÁO CÁO NĂM 2005 VỀ TỰ DO TÔN GIÁO QUỐC TẾ
Cục Dân chủ, Nhân quyền và Lao động, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ
tháng 11/2005

BÁO CÁO VỀ VIỆT NAM

Hiến pháp và luật Việt Nam đều quy định quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng; tuy nhiên Chính phủ vẫn tiếp tục các biện pháp ngăn chặn các sinh hoạt có tổ chức của các nhóm tôn giáo mà Chính phủ cho là đi khác với đường lối và chính sách của nhà nước. Nói chung, Chính phủ cho phép các cá nhân được sinh hoạt tôn giáo theo lựa chọn của họ, nhưng luật pháp yêu cầu việc tổ chức và sinh hoạt tôn giáo của tất cả các giáo phái phải được sự cho phép chính thức của Nhà nước.

Việc tôn trọng quyền tự do tôn giáo đã được cải thiện trong khoảng thời gian báo cáo này được tường trình; tuy nhiên một số những cải cách về luật pháp tích cực vẫn còn trong giai đoạn đầu thực hiện. Trong thời gian này, Chính phủ đã ra lệnh thả một số tù nhân tôn giáo, hỗ trợ một hội nghị quốc gia bị trì hoãn từ lâu do một trong số những hệ phái của đạo Tin lành tổ chức, cho phép mở lớp đào tạo mục sư đạo Tin lành, và ban hành một số văn bản pháp luật mới, ít nghiêm khắc hơn về tôn giáo. Tháng 11 năm 2004, Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo bắt đầu có hiệu lực và trở thành văn bản pháp luật cơ bản quy định về sinh hoạt tôn giáo. Tháng 2 năm 2005, Thủ tướng Chính phủ ban hành “Chỉ thị về công tác đối với đạo Tin lành” yêu cầu các quan chức hỗ trợ các hệ phái chưa được công nhận đi đăng ký sinh hoạt tôn giáo để họ có thể sinh hoạt một cách công khai. Tháng 3 năm 2005, Chính phủ ban hành Nghị định số 22 hướng dẫn về thi hành Pháp lệnh tín ngưõng, tôn giáo.

Việc tham gia sinh hoạt tôn giáo trong cả nước tiếp tục gia tăng, các tín đồ miền trung và Tây Nguyên báo cáo là tình hình đã có tiến bộ. Tuy nhiên, nhiều ngăn cấm đối với giới chức sắc và tăng lữ của các hệ phái vẫn còn, Chính phủ vẫn giữ vai trò kiểm soát những tôn giáo được công nhận. Các vị lãnh đạo tôn giáo sẽ gặp những hạn chế ở mức cao nhất nếu họ có những hoạt động mà Chính phủ cho là tuyên truyền chính trị hay có tính thách thức đối với Chính phủ. Việc giám sát đối với các tôn giáo đã được công nhận, hay việc nhũng nhiễu hoặc đàn áp các tín đồ của các hệ phái chưa được công nhận có sự khác nhau ở từng địa phương, thường là do không hiểu biết hoặc hiểu sai về chính sách quốc gia. Rất nhiều trong số hàng trăm hội thánh Tin lành tại gia bị ra lệnh đóng cửa vào năm 2001 nay đã có thể lặng lẽ mở cửa lại dù phần lớn là chưa đi hoặc chưa nhận được giấy phép đăng ký. Chính quyền địa phương tỉnh Đắc Lắc vẫn tiếp tục nghiêm cấm việc mở và hoạt động các hội thánh tại gia tại tỉnh này. Vẫn có những báo cáo rằng chính quyền địa phương ép buộc người dân tộc thiểu số theo đạo Tin lành phải từ bỏ tín ngưỡng của họ, tuy nhiên, số báo cáo này ít hơn so với năm trước. Theo một số báo cáo đáng tin cậy, có tình trạng công an tùy tiện bắt giữ và đôi khi đánh đập các tín đồ, đặc biệt là ở những khu vực dân tộc thiểu số miền núi. Chính phủ bác bỏ những lời buộc tội này. Ước tính có ít nhất 6 người đã bị giam giữ vì lý do tôn giáo, và ít nhất là 15 người nữa đang phải chịu các cấp độ hạn chế về sinh hoạt tôn giáo, trong đó có cả một số trường hợp bị quản thúc tại gia.

Mối quan hệ giữa các tôn giáo trong xã hội nói chung hòa thuận. Ở một số vùng miền còn có sự hợp tác và đối thoại giữa các tín ngưỡng. Các lãnh đạo của những tôn giáo chính được công nhận được tham gia vào các cơ quan nhà nước như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Quốc hội.

Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội và Tổng Lãnh sự Mỹ tại Thành phố Hồ Chí Minh vẫn có những liên lạc tích cực và thường xuyên với các quan chức cấp cao của Chính phủ để thúc đẩy tự do tôn giáo hơn nữa. Ngài Đại sứ Mỹ và các quan chức Mỹ khác, kể cả Ngài Đại sứ Lưu động về Tự do Tôn giáo Quốc tế đều bày tỏ lo ngại với Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng, thành viên Quốc hội, các lãnh đạo Đảng và các quan chức địa phương khác về việc các tổ chức tôn giáo gặp khó khăn trong việc đăng ký và được công nhận, về việc giam giữ các lãnh đạo tôn giáo, việc đàn áp các tín đồ Tin lành ở miền Trung và Tây Nguyên, và những hình thức hạn chế tự do tôn giáo khác.

Tháng 9 năm 2004, Ngoại trưởng Mỹ đã đưa Việt Nam vào danh sách "các nước đặc biệt theo dõi" căn cứ theo Đạo luật về Tự do Tôn giáo Quốc tế vì Việt Nam đã có các vi phạm đặc biệt nghiêm trọng về tự do tôn giáo. Tháng 5 năm 2005, Mỹ và Việt Nam đã ký một thỏa thuận theo đó Chính phủ Việt Nam có một số cam kết về tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Phần I. Các tôn giáo

Việt Nam có diện tích khoảng 330.000 km2 với dân số khoảng 83 triệu người. Chính phủ chính thức công nhận một Giáo hội Phật giáo (tín đồ Phật giáo chiếm khoảng 50% dân số), Giáo hội Thiên chúa giáo (8-10% dân số), một số tổ chức của đạo Cao Đài (1,5-3% dân số), một tổ chức của giáo phái Hòa Hảo (1,5-4% dân số), hai tổ chức đạo Tin lành (0,5-2% dân số), và một tổ chức Hồi giáo (0,1% dân số). Có nhiều tín đồ thuộc các tổ chức tôn giáo không được nhà nước chính thức công nhận. Còn lại phần lớn người Việt Nam tự nhận mình không theo tôn giáo nào, mặc dù rất nhiều trong số họ vẫn giữ các tín ngưỡng truyền thống như việc thờ cúng tổ tiên và thờ các anh hùng dân tộc.

Trong số các cộng đồng tôn giáo ở Việt Nam, Phật giáo là tôn giáo chính. Các phật tử thực hành một sự hỗn hợp của Phật giáo Đại thừa (Mahayana Buddhism), Lão giáo, và Nho giáo mà đôi khi được gọi là “tam giáo đồng nguyên”. Ước tính có khoảng hơn một nửa dân số là theo đạo Phật về danh nghĩa. Con số của Văn phòng Các vấn đề về Tôn giáo thì ít hơn, khoảng 12% dân số (10 triệu) theo đạo Phật. Các phật tử thường đi chùa chiền vào các ngày lễ hội và có thế giới quan được hình thành một phần là từ đạo Phật, nhưng trên thực tế những đức tin này thường dựa trên một định nghĩa rộng hơn về tín ngưỡng. Có rất nhiều cá nhân, đặc biệt là người Kinh, thường không coi họ là phật tử nhưng lại thực hành những truyền thống của Nho giáo và Lão giáo và thường xuyên đi đền chùa. Một chức sắc Phật giáo đã ước tính khoảng 30% phật tử là mộ đạo và hành đạo đều đặn. Các tín đồ Phật giáo Đại thừa, phần lớn là dân tộc Kinh, sống ở khắp nơi trên đất nước, đặc biệt là các khu vực đông dân cư ở đồng bằng châu thổ phía bắc và nam. Ở một số khu vực cao nguyên có ít các phật tử hơn, tuy rằng sự di cư của người Kinh đến các vùng này đang phần nào thay đổi sự phân bố. Người Khơ-me ở miền Nam thì theo Phật giáo Nam tông. Họ có khoảng hơn 1 triệu tín đồ, gần như duy nhất chỉ có họ sống ở châu thổ sông Mê Kông.

Ước tính có khoảng 6 đến 8 triệu tín đồ Thiên chúa giáo ở Việt Nam. Thống kê chính thức của Chính phủ là 5.570.000. Các nhà truyền giáo người Pháp đã mang Công giáo đến Việt Nam từ thế kỷ XVII. Vào những năm 1940, các linh mục ở những giáo khu lớn ở Phát Diệm và Bùi Chu, nằm ở Đông Nam Hà Nội, đã thành lập một hiệp hội chính trị với đội dân quân riêng để chiến đấu với quân du kích Cộng sản cho đến khi bị quân du kích Cộng sản đánh tan vào năm 1954. Hàng trăm nghìn tín đồ Thiên chúa giáo từ miền Bắc đã di cư vào Sài Gòn và các tỉnh lân cận trước khi hai miền Nam Bắc bị chia cắt vào năm 1954. Các tín đồ Công giáo sống ở khắp mọi nơi trên đất nước nhưng tập trung nhiều nhất ở các tỉnh miền Nam quanh Thành phố Hồ Chí Minh, một phần ở cao nguyên Trung Bộ và một số tỉnh nằm phía đông nam Hà Nội. Thiên chúa giáo đã được khôi phục lại trong nhiều lĩnh vực với nhiều nhà thờ được xây mới hoặc cải tạo lại trong những năm gần đây, và số tín đồ ngày một gia tăng. Tỉ lệ tín đồ Thiên chúa giáo trong dân chúng ở một số tỉnh dường như đang tăng lên đôi chút.

Ước tính con số về tín đồ đạo Tin lành trong cả nước dao động từ 500.000 (theo con số chính thức của Chính phủ) lên 1,6 triệu (theo ước tính của các nhà thờ) hoặc cao hơn thế. Đạo Tin lành du nhập vào Việt Nam từ năm 1911 do một nhà truyền giáo người Canada thuộc Hội truyền giáo Phước âm Liên hiệp mang tới Đà Nẵng. Hai tổ chức Tin lành được chính thức công nhận là Hội thánh Tin lành miền Nam Việt Nam (SECV) được công nhận vào năm 2001, và Hội thánh Tin lành miền Bắc Việt Nam (ECVN) được công nhận từ năm 1963. SECV có chi hội ở khắp các tỉnh miền Nam và ECVN có 15 chi hội được công nhận ở miền Bắc. ECVN cũng ban hành giấy chứng nhận chi hội cho hơn 800 hội thánh tại gia của dân tộc thiểu số ở các khu vực miền núi phía Bắc và Tây Bắc, mặc dù ECVN chưa đăng ký hoạt động chính thức cho bất kỳ hội thánh tại gia nào. Các con số thống kê cho thấy trong vòng một thập kỷ qua, số lượng tín đồ Tin lành đã tăng lên 600%, bất chấp những quy định ngặt nghèo của Chính phủ về việc cưỡng bức thay đổi tín ngưỡng. Rất nhiều trong số này là những tín đồ thuộc các hội thánh tại gia không đăng ký. Theo số liệu của các tín đồ, 2/3 tín đồ đạo Tin lành là người dân tộc thiểu số như dân tộc Hmông, Thái, dân tộc trên cao nguyên Tây Bắc, và cao nguyên Trung Bộ (Ê-đê, Gia-rai, Bà-nà, Kờ-ho). Phong trào thành lập các hội thánh tại gia ở Tây Bắc xuất phát một phần là do đài phát thanh tiếng Hmông phát từ Philippin vào cuối những năm 1980. Vào những năm gần đây, các nhà truyền giáo, phần lớn là người dân tộc Hmông, đã phát triển đạo Tin lành lên rất nhiều.

Đạo Cao Đài bắt đầu xuất hiện từ năm 1926 ở miền Nam Việt Nam. Chính phủ chính thức thống kê là có 2,4 triệu tín đồ theo đạo Cao Đài, tuy nhiên các chức sắc đạo Cao Đài thường xuyên cho rằng phải có ít nhất 4 triệu tín đồ. Cao Đài là những hệ phái tôn giáo sinh hoạt sôi nổi nhất ở tỉnh Tây Ninh (là nơi có thánh tượng “Thiên Nhãn”), ở Thành phố Hồ Chí Minh và đồng bằng sông Cửu Long. Đạo Cao Đài có 13 hệ phái riêng biệt với hệ phái lớn nhất là phái Tây Ninh, chiếm hơn một nửa tín đồ đạo Cao Đài. Đạo Cao Đài là dung hợp một số tôn giáo đã có để lập ra một tôn giáo mới. Ý thức hệ Cao Đài chịu ảnh hưởng sâu sắc của Phật giáo Đại thừa (Mahayana Buddhism), mặc dù tôn giáo này cũng tôn vinh một loạt nhân vật thể hiện niềm thiên khải (divine revelation), bao gồm Thích Ca Mầu Ni, chúa Giê-su, Lão Tử, Khổng Tử, và Mô-sê. Trong những năm 1940 và 1950, đạo Cao Đài tham gia vào các hoạt động chính trị và quân đội. Sự chống đối của họ với quân cộng sản cho tới năm 1975 là nguyên nhân của việc họ bị đàn áp sau năm 1975. Một tổ chức Cao Đài nhỏ, phái Thiên Tiên, được chính thức công nhận năm 1995. Phái Cao Đài Tây Ninh thì được công nhận tư cách pháp nhân năm 1997.

Đạo Hòa Hảo, một tông phái Phật giáo, được khai lập ở miền Nam Việt Nam năm 1939. Hòa Hảo gần như là một giáo phái tu kín, chủ trương tu hành tại gia, không có hàng giáo phẩm và không thực hành nhiều nghi lễ của Phật giáo chính thống. Chính phủ thống kê có khoảng 1,6 triệu tín đồ theo giáo phái Hòa Hảo, trong khi con số do những chi nhánh hải ngoại thống kê là có khoảng 3 triệu. Các tín đồ theo giáo phái Hòa Hảo phần lớn tập trung ở khu vực đồng bằng Nam bộ, đặc biệt là ở tỉnh An Giang, nơi mà giáo phái Hòa Hảo thống trị trong lĩnh vực quân đội, chính trị, cũng như là tôn giáo trước năm 1975. Các giáo phái Hòa Hảo là những đối tượng cuối cùng ở đồng bằng Nam bộ chịu đầu hàng quân đội Cộng sản vào mùa hè năm 1975. Ban Trị sự Hòa Hảo được nhà nước công nhận vào năm 1999. Nhiều tín đồ Hòa Hảo theo các chi phái khác mà không được công nhận chính thức.

Các nhà thờ Hồi giáo phục vụ một dân số người Do Thái ít ỏi ở Việt Nam (khoảng 65.000 người) nằm rải rác ở An Giang, Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, và các tỉnh miền duyên hải phía Nam Việt Nam. Cộng đồng người Do Thái bao gồm phần lớn là người dân tộc Chăm, tuy nhiên ở Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh An Giang, có cả một số người Kinh và dân nhập cư từ Malaysia, Inđônêsia, và Ấn Độ. Khoảng một nửa dân Do Thái ở Việt Nam thực hành Hồi giáo Sunni. Người Hồi giáo Sunni tập trung ở 5 vùng trên đất nước. Khoảng 15.000 sống ở huyện Tân Châu, tỉnh An Giang (giáp biên giới Campuchia). Khoảng 3.000 người sống ở tỉnh Tây Ninh (giáp biên giới Campuchia). Hơn 5.000 người ở Thành phố Hồ Chí Minh, trong đó có 2.000 người ở tỉnh giáp ranh Đồng Nai. Khoảng 5.000 người ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ Ninh Thuận và Bình Thuận. Khoảng 50% người Hồi giáo theo đạo Chăm Bàni, một đạo Hồi giáo riêng biệt của người Chăm ở miền biển Trung Bộ. Các tu sĩ Bàni ăn chay trong tháng Ramađan, các tín đồ Bàni bình thường thì không làm thế. Kinh Cô-ran Bàni (Bani Qur’an) chỉ là một văn bản vắn tắt gồm 20 trang viết bằng tiếng Chăm. Người theo đạo Bàni vẫn tham gia vào một số lễ hội truyền thống của người Chăm, như việc cầu nguyện thánh Hindu và các “thánh mẫu” truyền thống của người Chăm. Cả hai chi nhánh Hồi giáo dường như đều tuân thủ Chính phủ và được tự do sinh hoạt tín ngưỡng của mình. Họ có ít liên hệ với người Hồi giáo ở nước ngoài, như Malaysia.

Còn một số cộng đồng tôn giáo nhỏ khác không được Chính phủ công nhận, trong đó cộng đồng lớn nhất là người Hindu. Có khoảng 50.000 người Chăm ở miền duyên hải Nam Trung Bộ theo đạo Hindu. Khoảng 4.000 người Hindu sống ở Thành phố Hồ Chí Minh, một số là dân tộc Chăm, nhưng phần lớn là người Ấn Độ hoặc thế hệ lai Việt-Ấn.

Có khoảng 6.000 tín đồ theo đạo Baha’i, phần lớn tập trung ở miền Nam. Theo các chức sắc của đạo Baha’i thì trước năm 1975 đạo này có khoảng 200.000 tín đồ. Nhưng trong giai đoạn 1975-1992, việc sinh hoạt công khai của đạo này bị nghiêm cấm và số tín đồ vì thế cũng giảm mạnh trong giai đoạn này. Từ năm 1992, người theo đạo Baha’i đã có những buổi họp mặt không chính thức. Lãnh đạo cộng đồng này cho biết họ có quan hệ tốt với chính quyền. Một số tín đồ Baha’i ở Thành phố Hồ Chí Minh đã được phép tổ chức một buổi lễ kín kỷ niệm 50 năm khai lập đạo vào tháng 5 năm 2004.

Có khoảng vài trăm tín đồ của Giáo hội Chúa Giê-su Christ thuộc Latter-day Saints (hay còn gọi là đạo Mormon) sống rải rác khắp Việt Nam, nhưng phần lớn sống ở Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội. Một số là người cải đạo trước 1975, một số khác trở thành tín đồ Mormon khi sinh sống ở nước ngoài.

Ít nhất có 10 giáo đoàn với khoảng vài trăm tín đồ thuộc đạo Những nhân chứng của Giê-hô-va đang hoạt động nhưng không được chính thức công nhận. Phần lớn những giáo đoàn này ở miền Nam với 5 giáo đoàn ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Trong 83 triệu dân, khoảng 14 triệu hoặc hơn cho biết là họ không theo một tổ chức tôn giáo nào cả. Một số nguồn định nghĩa chặt chẽ những người được coi là theo đạo Phật, không tính những người chỉ đi lễ vào những ngày lễ hội. Theo định nghĩa này thì con số người không theo đạo sẽ cao hơn nữa, có lẽ lên đến 50 triệu. Không có số liệu nào thống kê về mức độ tham gia vào những nghi lễ tôn giáo chính thức, nhưng người ta cho rằng mức độ này vẫn tiếp tục tăng lên từ đầu những năm 1990.

Các dân tộc thiểu số chiếm khoảng 14% dân số cả nước. Về lịch sử, người dân tộc thiểu số thường giữ những tín ngưỡng truyền thống khác với người Kinh. Nhiều dân tộc thiểu số nay đã chuyển sang theo đạo Thiên chúa hoặc Tin lành.

Các nhà truyền giáo nước ngoài không được phép truyền giáo hay hành đạo. Tuy nhiên, nhiều nhà truyền giáo nước ngoài không khai báo vẫn hoạt động ở Việt Nam.

Phần II. Hiện trạng về tự do tôn giáo

Cơ sở pháp lý/chính sách

Hiến pháp, các văn bản pháp luật, và nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành TƯ Đảng năm 2003 về tôn giáo đều quy định công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Tuy nhiên, Chính phủ yêu cầu các tổ chức tôn giáo phải đăng ký sinh hoạt tôn giáo và dùng yêu cầu này để giới hạn hoạt động trong một số trường hợp và ở một số nơi. Hơn thế nữa, Chính phủ tiếp tục hạn chế tối đa việc sinh hoạt có tổ chức của những nhóm tôn giáo độc lập và những cá nhân mà Chính phủ coi là mối đe dọa cho uy tín và quyền lực của Đảng. Nhìn chung, Chính phủ cho phép người dân sinh hoạt tín ngưỡng cá nhân tự do hoặc tham gia vào các hoạt động tín ngưỡng tập thể dưới sự lãnh đạo của những tổ chức tôn giáo lớn được công nhận tư cách pháp nhân.

Cơ sở pháp lý quy định về tôn giáo của Chính phủ có nhiều thay đổi đáng kể trong thời gian của báo cáo này. Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo mới có hiệu lực từ ngày 15 tháng 11 năm 2004 trở thành văn bản pháp luật căn bản quy định công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Nhà nước đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân mà không ai được xâm phạm quyền tự do ấy. Pháp lệnh quy định cụ thể những điều không được làm, trong đó nhấn mạnh không được lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước. Nhà nước sẽ đình chỉ hoạt động tôn giáo đối với các tổ chức, cá nhân khi hoạt động tôn giáo làm ảnh hưởng đến các truyền thống văn hóa của dân tộc. Pháp lệnh này tiếp tục duy trì sự quản lý và giám sát của nhà nước đối với các tổ chức tôn giáo. Trong các điều khoản của Pháp lệnh có nói rằng các giáo phái tôn giáo phải được chính quyền trung ương công nhận tư cách pháp nhân, rằng việc thành lập các trường đào tạo về tôn giáo và tuyển sinh phải được các cấp chính quyền liên quan phê chuẩn. Việc phong chức sắc tôn giáo phải được chính quyền phê chuẩn khi có liên quan đến yếu tố nước ngoài, như tòa thánh Vaticăng. Pháp lệnh cũng đã tự do hóa ở một mức độ nhất định việc quản lý của nhà nước về tôn giáo. Ví dụ, các tổ chức tôn giáo chỉ cần thông báo với các cấp chính quyền về hoạt động hàng năm của mình và về việc tăng chức hay thuyên chuyển giáo sĩ/tu sĩ, trong khi trước đây những việc này phải được phê chuẩn rõ ràng. Hơn nữa, Pháp lệnh cũng khuyến khích các nhóm tôn giáo hoạt động từ thiện trong lĩnh vực y tế và giáo dục, hai lĩnh vực trước đây bị hạn chế.

Ngày 1 tháng 3, Chính phủ ra nghị định hướng dẫn thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo. Như trong Pháp lệnh, nghị định nghiêm cấm việc cưỡng bức bỏ đạo. Nghị định cũng nêu rõ những thủ tục cần thiết để một tổ chức tôn giáo đăng ký nơi thờ tự, thành viên của tổ chức, những hoạt động của tổ chức, và sau đó mới được hoạt động công khai. Nghị định còn hướng dẫn thủ tục để những tổ chức tôn giáo này đăng ký công nhận chính thức từ Chính phủ để được hưởng các quyền lợi khác. Nghị định nói rõ rằng một tổ chức tôn giáo phải có 20 năm “hoạt động tôn giáo ổn định” ở Việt Nam để có được sự công nhận của nhà nước. Nghị định nói rằng hoạt động trong quá khứ, kể cả trước khi đăng ký, có thể được tính vào yêu cầu về 20 năm. Nghị định quy định khoảng thời gian cụ thể mà Chính phủ xem xét đơn của các tổ chức tôn giáo, và yêu cầu các quan chức phải có giải trình bằng văn bản đến các tổ chức tôn giáo nếu đơn của họ bị từ chối.

Ngày 4 tháng 2, Thủ tướng Chính phủ ban hành một “Chỉ thị hướng dẫn một số công tác về đạo Tin lành”. Chỉ thị kêu gọi các cấp chính quyền hỗ trợ các hệ phái Tin lành đã được công nhận trong việc xây dựng nhà thờ, đào tạo và bổ nhiệm mục sư. Chỉ thị ra lệnh cho các cấp chính quyền phải giúp đỡ những giáo phái chưa được công nhận đi đăng ký giáo đoàn của mình để họ có thể sinh hoạt công khai, và tiến tới hoàn thiện các yêu cầu để có được công nhận toàn diện. Đề cập đến cao nguyên Trung Bộ và Tây Bắc, Chỉ thị hướng dẫn các cấp chính quyền trong việc giúp đỡ các tín đồ đạo Tin lành đăng ký sinh hoạt tôn giáo tại gia hoặc tại những “địa điểm phù hợp”, cho dù họ chưa đáp ứng đủ điều kiện để thành lập một giáo đoàn chính thức. Chỉ thị cho phép các “hội thánh tại gia” chưa đăng ký được hoạt động nếu họ “cam kết tuân thủ các quy định pháp luật” và họ không liên kết với những phong trào chính trị ly khai.

Mùa xuân năm 2005, Ủy ban Tôn giáo Chính phủ đã có 2 hội nghị để hướng dẫn các ủy ban tôn giáo địa phương về những văn bản pháp luật mới về tôn giáo ở Việt Nam. Các ủy ban tôn giáo địa phương sẽ chịu trách nhiệm truyền đạt thông tin về những văn bản pháp luật mới này đến các cấp chính quyền tại huyện, xã, thôn, làng. Tuy nhiên, kiến thức về cơ sở pháp lý mới của Chính phủ tại địa phương còn chưa được đầy đủ và chính xác. Ủy ban Tôn giáo Chính phủ cũng đã chủ trì 3 cuộc hội nghị cho các vị lãnh đạo của các giáo phái được chính thức công nhận để phổ biến về cơ sở pháp lý mới. Chính quyền ở một số địa phương đã tích cực huy động các chức sắc tôn giáo để thực hiện những thay đổi mới, trong khi ở một số địa phương khác thì không hay biết gì.

Quyền cơ bản về tự do tín ngưỡng và tôn giáo được truyền đạt và thi hành không đồng đều. Ở một số nơi, quan chức địa phương cho phép các tín đồ sinh hoạt tín ngưỡng khá tự do, trong khi ở một số tỉnh khác, các tín đồ thuộc các tổ chức tôn giáo không được công nhận đôi khi phải chịu sự quấy nhiễu hoặc đàn áp nặng nề và là đối tượng chịu sự kỳ thị của quan chức địa phương. Điều này đặc biệt đúng đối với các tín đồ đạo Tin lành ở các cao nguyên Trung Bộ và Tây Bắc. Sau khi các văn bản pháp luật mới được ban hành, 16 nhà thờ mới được mở cửa ở cao nguyên Trung Bộ. Vào cuối kỳ báo cáo, ở một số nơi, chính quyền địa phương đã có các cuộc thảo luận với các chức sắc tôn giáo về vấn đề đăng ký hoạt động cho các hội thánh tại gia và việc công nhận những giáo đoàn mới.

Những điều khoản về an ninh quốc gia và đoàn kết dân tộc trong Hiến pháp đã vượt qua nhiều luật về tự do tôn giáo. Những điều khoản này đã từng ngăn cản tụ họp tôn giáo và phổ biến tôn giáo đến một số dân tộc. Bộ luật Hình sự, sửa đổi năm 1997, quy định hình phạt cho những tội danh được định nghĩa mơ hồ là “có chủ định phá hoại thống nhất đất nước” bằng việc thúc đẩy “sự chia rẽ giữa các tín đồ tôn giáo và người không theo tôn giáo nào”. Trong một số trường hợp, đặc biệt là những trường hợp liên quan đến các tín đồ Tin lành người Hmông ở Tây Bắc, tín đồ Tin lành người dân tộc thiểu số ở cao nguyên Trung Bộ, và các tín đồ đạo Hòa Hảo, khi chính quyền buộc tội người dân hoạt động tôn giáo phi pháp, họ dùng Điều 258 Bộ Luật hình sự, cho phép bỏ tù đến 3 năm nếu “vi phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo và các quyền tự do dân chủ khác mà xâm phạm đến lợi ích của nhà nước”.

Một chỉ thị năm 1997 về quản chế hành chính cho phép quan chức an ninh quốc gia và địa phương một phạm vi quyền hạn rộng, đủ để giam giữ và theo dõi công dân, kiểm soát nơi họ sống và làm việc trong thời gian tới 2 năm nếu họ bị coi là mối đe dọa cho “an ninh quốc gia”. Trong một số trường hợp, chính quyền đã sử dụng hình thức quản chế hành chính để áp đặt những biện pháp hạn chế hà khắc như là phương tiện để kiểm soát những người dân mà họ cho là khác chính kiến hoặc có tiềm năng lật đổ chính quyền. Hình phạt quản chế hành chính trong 2 năm đã được áp dụng cho 4 vị lãnh đạo UBCV vào tháng 10 năm 2003 và hiện vẫn còn hiệu lực.

Chính phủ không ưu tiên một tôn giáo cụ thể nào. Hầu hết các quan chức cấp cao của Đảng và Nhà nước, cũng như phần lớn các đại biểu Quốc hội đều chính thức “không tôn giáo”, mặc dù nhiều người vẫn công khai thờ cúng tổ tiên và sinh hoạt Phật giáo. Vị thế nổi trội mang tính truyền thống của đạo Phật không gây ảnh hưởng tiêu cực đến quyền tự do tôn giáo của người khác, kể cả đối với những người không muốn theo một tôn giáo nào cả.

Chính phủ yêu cầu các nhóm tôn giáo phải đăng ký và sử dụng quá trình này để quản lý và đôi khi kiểm soát các tổ chức tôn giáo, như Chính phủ kiểm soát các tổ chức xã hội.

Chính phủ chính thức công nhận các tổ chức Phật giáo, Thiên chúa giáo, Tin lành, Hòa Hảo, Cao Đài và Hồi giáo. Các chi hội cá nhân trong các nhóm tôn giáo này cũng phải đăng ký. Một số lãnh đạo và tín đồ của các tổ chức tôn giáo này không tham gia vào các hiệp hội được Chính phủ phê chuẩn. Nghị định hướng dẫn thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, ban hành ngày 1 tháng 3, quy định rõ những thủ tục mà các tổ chức tôn giáo và các giáo đoàn tôn giáo cá nhân phải làm để được chính thức công nhận. Nghị định cũng quy định các cơ quan chức năng phải trả lời đơn thư bằng văn bản trong vòng 60 đến 90 ngày, tùy thuộc vào nội dung và phạm vi của đơn thư. Trong trường hợp đơn thư bị từ chối, văn bản phúc đáp phải nêu rõ lý do đơn thư bị từ chối. Tuy nhiên, Pháp lệnh không quy định một cơ chế cụ thể cho việc kháng cáo, cũng như phân định gianh rới những lý do từ chối.

Một số giáo phái Tin lành chưa được công nhận cho biết họ sẽ đi đăng ký và xin được công nhận dựa trên những cơ sở pháp lý mới về tôn giáo. Tuy nhiên, Nghị định hướng dẫn thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo yêu cầu phải trải qua thời gian 1 năm kể từ sau ngày 15 tháng 11 năm 2004 thì một giáo phái mới đáp ứng đầy đủ các điều kiện thích hợp mới được công nhận. Để được công nhận, một giáo phái phải được nhà nước phê duyệt về người lãnh đạo, cơ cấu tổ chức, phạm vi hoạt động của giáo phái. Về mặt lý thuyết, những giáo phái đã được công nhận sẽ được phép mở cửa, hoạt động, tu bổ lại cơ sở thừa tự, đào tạo chức sắc, xin phép xuất bản tài liệu. Ngoài việc các giáo phái phải được công nhận về mặt tổng thể, từng chi hội của một giáo phái cũng phải đăng ký để được công nhận. Đi đăng ký là một quá trình khá đơn giản với việc các chi hội sẽ phải nộp lên cơ quan chức năng thông tin về cơ cấu tổ chức, người lãnh đạo và các hoạt động của mình. Cơ quan chức năng sau đó sẽ có 45 ngày để xem xét và nghiên cứu. Nếu không có phản đối gì, chi hội sẽ được chính thức cho phép hoạt động. Những chi hội mới thuộc Hội thánh Tin lành miền Nam Việt Nam (SECV) tại tỉnh Gia Lai đã bắt đầu đăng ký theo quy định mới này.

Ngoại trừ một số vùng ở cao nguyên Trung Bộ và Tây Bắc, những tổ chức tôn giáo được chính thức công nhận đang được phép hoạt động công khai và tín đồ của những tổ chức này được sinh hoạt tín ngưỡng thoải mái không gặp phiền nhiễu gì. Các tổ chức tôn giáo được chính thức công nhận phải đăng ký với các cơ quan chức năng về hoạt động thường niên, việc thuyên chuyển và thăng chức cho mục sư của tổ chức mình. Việc tổ chức các hội nghị, đại hội đồng, mở trường đào tạo, tuyển sinh vào trường dòng, tiếp nhận quyên góp từ tín hữu, xây dựng và cải tạo cơ sở thờ tự, tham gia các khóa học tôn giáo ở nước ngoài vẫn cần phải được chính quyền phê chuẩn. Việc đặt tên cho mục sư mới và phong chức sắc cũng phải đăng ký với chính quyền. Tuy nhiên, nếu có liên quan đến “yếu tố nước ngoài” như Vaticăng thì cần phải được cơ quan chức năng phê chuẩn trước.

Do công tác giám sát ở cấp cao hơn không được thực hiện đầy đủ, hoạt động của các tín đồ tôn giáo phải tùy thuộc vào quyền hạn thực thi pháp lý tương ứng của từng quan chức tại địa phương. Không có hình phạt nặng nào dành cho quan chức nhà nước, những người không làm đúng quy định về bảo vệ hoạt động tôn giáo, mặc dù đã có một nghị quyết về các nạn nhân của những trường hợp xử oan, được Quốc hội ban hành năm 2003, cung cấp cho người dân đường lối để được đền bù nếu bị xâm phạm.

Việt Nam không có ngày lễ tôn giáo quốc gia.

Những biện pháp hạn chế tự do tôn giáo

Chính phủ Việt Nam áp đặt nhiều hạn chế về tự do tôn giáo, mặc dù trong nhiều lĩnh vực, các phật tử, các tín đồ Thiên chúa giáo, đạo Tin lành, đạo Hòa Hảo, đạo Cao Đài, và bản thân Chính phủ cũng nhận thấy các hoạt động tôn giáo đang nhiều hơn. Các tổ chức tôn giáo được chính thức công nhận gặp phải khó khăn trong việc tiếp nhận tài liệu giảng dạy, mở rộng cơ sở đào tạo, xuất bản tài liệu tôn giáo, mở rộng giới tăng lữ do yêu cầu tăng lên từ các giáo đoàn. Tuy nhiên, so với năm trước thì những hạn chế này đã được giảm nhẹ đi rất nhiều.

Chính phủ vẫn tiếp tục nghiêm cấm và không khuyến khích việc tham gia vào những tổ chức tôn giáo chưa được công nhận, bao gồm Giáo hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam (UBCV) và một số nhóm Tin lành, Hòa Hảo và Cao Đài. Những hoạt động có tổ chức của những nhóm này bị coi là vi phạm pháp luật, mặc dù hiệu lực của những lệnh cấm này khác nhau sâu sắc.

Một số hội thánh Tin lành tại gia không có ý định đăng ký vì họ không muốn bị bất kỳ một hình thức kiểm soát nào của Chính phủ. Một số nhóm tôn giáo được công nhận đã có những sinh hoạt tôn giáo ngầm mà họ không khai báo với Chính phủ mà không bị hoặc ít bị phiền nhiễu. Một số nhóm tôn giáo không được công nhận cũng cứ tiến hành những sinh hoạt tôn giáo và hoạt động đào tạo mà không gặp rắc rối lớn gì mặc dù chính quyền biết.

Chính phủ yêu cầu tất cả các nhà sư phải được Giáo hội Phật giáo Việt Nam (VBS) phê chuẩn. Chính phủ có tác động đến việc tuyển chọn các vị lãnh đạo của VBS, ngoại trừ những chức sắc của tổ chức UBCV trước 1975. Số lượng các học viện Phật giáo bị quản lý và giới hạn bởi Văn phòng về các vấn đề Tôn giáo. Tuy nhiên trong những năm gần đây, số lượng các học viện Phật giáo và đại học Phật giáo ở tỉnh và địa phương tăng lên nhiều. Tháng 11 năm 2004, VBS khởi công xây dựng Học viện Phật giáo Việt Nam ở Hà Nội. Phật giáo Khơ-me Nguyên thủy (Khmer Theravada Buddhist) là một hệ phái tương đối riêng rẽ thuộc VBS.

Chính phủ tiếp tục phản đối việc UBCV muốn hoạt động độc lập. Năm 2003, các hòa thượng cao cấp của UBCV đã tổ chức một hội nghị tại một tu viện ở tình Bình Định mà không được Chính phủ cho phép. Sau hội nghị, 4 hòa thượng đã bị bắt giam và bị kết án 2 năm “quản chế hành chính” tại chùa mà không cần đưa ra toà. Chính quyền địa phương không cung cấp cho họ một văn bản nào về quyết định bị quản chế hành chính, mặc dù pháp luật quy định như vậy. Nhiều nhà tu hành của UBCV khác cũng chịu những biện pháp xử lý tương tự như quản chế hành chính, như “quản thúc tại gia”, mặc dù họ không bị kết án gì. Hòa thượng Thích Huyền Quang, Hội trưởng UBCV, và hòa thượng Thích Quảng Độ, Phó Hội trưởng UBCV, cũng bị những hình phạt tương tự, mặc dù Chính phủ dường như chẳng có điều tra gì về lời buộc tội “nắm giữ các bí mật quốc gia” dành cho các vị hòa thượng này. Tháng 11 năm 2004, Thích Quảng Độ dự định đi Quy Nhơn để thăm Thích Huyền Quang đang nằm viện. Thích Quảng Độ đã bị ngăn cản không cho đi và bị công an áp giải bắt quay về chùa của mình ở Thành phố Hồ Chí Minh. Tháng 6 năm 2005, một nhóm hòa thượng của UBCV dự định đến thăm Thích Huyền Quang tại chùa nhưng cũng bị công an ngăn không cho vào thăm. Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ được phép tiếp những nhà ngoại giao nước ngoài và các thành viên khác của UBCV trong thời gian báo cáo này được tường trình.

Giới chức sắc trong Giáo hội Thiên chúa giáo vẫn còn khá bức xúc về những biện pháp hạn chế của Chính phủ. Tuy nhiên, giới tăng lữ ở một số giáo khu cho biết Chính phủ cũng đã đỡ khắt khe hơn nhiều trong việc quản lý các hoạt động của họ. Giáo hội Thiên chúa giáo vẫn tiếp tục phải chịu đựng những hạn chế trong việc đào tạo, phong chức cho các linh mục và đặt tên cho các giám mục. Chính phủ vẫn duy trì quyền phủ quyết đối với những bổ nhiệm giám mục của Vatican; tuy nhiên, trên thực tế, Chính phủ đã cố gắng hợp tác với Giáo hội trong việc đề cử cho bổ nhiệm và Vatican và Chính phủ cũng đã đạt được thỏa thuận đối với những ứng cử viên được cả 2 bên đồng ý. Tất cả các chức giám mục trong năm 2004 đều được bổ nhiệm. Giáo hội Thiên chúa giáo điều hành 6 trường dòng với hơn 800 sinh viên theo học, cộng với một khóa đào tạo đặc biệt dành cho những sinh viên “lớn tuổi”. Tất cả học viên đều phải được chính quyền địa phương phê chuẩn trước khi nhập học và trước khi được phong chức linh mục. Giáo hội tin rằng số lượng học viên được phong chức linh mục hiện không đủ để phục vụ dân số Thiên chúa giáo đang ngày càng tăng. Họ muốn mở thêm nhiều trường dòng nữa và muốn các lớp học được mở thường xuyên hơn. Trong thời gian báo cáo này được tường trình, Trường dòng Hà Nội đã được phê duyệt để bắt đầu mở các lớp hàng năm, thay vì 2 năm 1 lần như ở các nơi khác. Giáo hội đã nộp đơn xin mở thêm một trường dòng nữa ở tỉnh Đồng Nai nhưng đến nay đã 5 năm rồi mà chính quyền địa phương vẫn tiếp tục trì hoãn chưa duyệt.

Hội thánh Tin lành miền Bắc Việt Nam ECVN vào tháng 12 năm 2004 cuối cùng đã tổ chức được Đại hội đồng của mình, Đại hội đồng lần đầu tiên kể từ 1988. Đại hội đồng là cơ hội để ECVN bầu ban lãnh đạo mới và đặt ra những vấn đề cần ưu tiên cho sự phát triển của Hội. Đại hội đồng lúc đầu bị trì hoãn là do Chính phủ không cho phép tổ chức, sau đó, trong mấy năm gần đây, là do Hội không chấp nhận sự can thiệp của Chính phủ vào việc chọn lựa các vị lãnh đạo của Hội. Các thành viên của ECVN cho biết Chính phủ đã mở rộng quyền hạn của Hội trong việc lựa chọn lãnh đạo mới và Chính phủ thể hiện sự đồng ý của mình về ban lãnh đạo mới bằng việc mời họ gặp gỡ với Phó Thủ tướng ngay sau khi Đại hội đồng ngừng họp. Hội thánh Tin lành miền Nam SECV thì tổ chức Đại hội đồng lần thứ 2 để bầu ra ban lãnh đạo mới vào ngày 1-4 tháng 3 năm 2005. Đại hội đồng lần đầu tiên của SECV được tổ chức vào năm 2001.

Việc sinh hoạt tín ngưỡng của đạo Tin lành ở các tỉnh thuộc cao nguyên Trung Bộ Việt Nam vẫn còn là vấn đề gây bất đồng. Một số phần tử ly khai người thiểu số thuộc nhóm “Đề-ga” hoạt động ở vùng này có liên quan đến “Hội thánh Đề-ga”. Những báo cáo đáng tin cậy cho biết nhóm “Tin lành Đề-ga” đã phối hợp sinh hoạt tôn giáo với hoạt động chính trị và kích động ly khai người dân tộc thiểu số. Trong thời gian báo cáo này được tường trình, các nhà thờ tại gia cho biết nói chung tình hình đã được cải thiện ở các tỉnh thuộc cao nguyên Trung Bộ như Gia Lai, Kon Tum, Đắc Nông, nhưng Chính phủ vẫn duy trì giám sát chặt chẽ. Ở tỉnh Đắc Lắc, tất cả các hội thánh Tin lành vẫn phải chịu những hạn chế ngặt nghèo do chính quyền áp đặt. Năm 2001, Chính phủ yêu cầu hầu hết những hội thánh tại gia chưa được công nhận và những điểm tụ họp ở cao nguyên Trung Bộ phải đóng cửa. Phần lớn nay đã được phép mở cửa trở lại để hoạt động, mặc dù họ chưa chính thức đăng ký. Quan chức địa phương ở Đắc Lắc vẫn tiếp tục không cho mở các hội thánh tại gia tại tỉnh này.

Năm 2003, Ủy ban các Vấn đề về Tôn giáo ở Hà Nội ban hành một nghị định về “bình thường hóa” đạo Tin lành ở cao nguyên Trung Bộ và tỉnh Bình Phước, nhằm giải quyết việc đăng ký của các nhà thờ trong vùng. 18 trong 33 giáo đoàn thuộc Hội thánh Tin lành miền Nam Việt Nam SECV ở cao nguyên Trung Bộ đã được công nhận sau khi nghị định về bình thường hóa được ban hành. Tháng 4 năm 2005, SECV mở một trường thuyết giảng Phúc Âm ở tỉnh Gia Lai để đào tạo các vị thuyết giáo cho các hội thánh tại gia trong vùng, cho phép họ có được sự công nhận chính thức là mục sư. SECV cũng xin phép được mở một trường tương tự ở tỉnh Đắc Lắc như đã nêu ra trong nghị định 2003, nhưng quan chức địa phương ở đây vẫn chống lại không cho mở. Một số vị thuyết giáo ở cao nguyên Trung Bộ nghi ngờ SECV vì thấy SECV bị Chính phủ chính thức trừng phạt, do đó họ không có ý định liên kết gì với SECV.

Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về đạo Tin lành đề nghị quan chức ở cao nguyên Trung Bộ tiếp tục xem xét và công nhận các tăng hội mới của SECV. Các quan chức cũng phải đăng ký cho những nhóm Tin lành chưa đáp ứng được những yêu cầu để thành lập một giáo đoàn, và phải “tạo điều kiện thuận lợi để họ có thể sinh hoạt tín ngưỡng bình thường tại nhà” hoặc tại những địa điểm phù hợp trong làng. Tại thời điểm cuối kỳ báo cáo, các vị chức sắc của SECV tỉnh Gia Lai đã có các buổi nhóm họp để thảo luận với chính quyền địa phương về việc thi hành chỉ thị.

Chính phủ tiếp tục duy trì sự giám sát chặt chẽ của mình, và với mức độ thành công khác nhau, đã nỗ lực quản lý giới chức sắc, các hoạt động tôn giáo có tổ chức, và các hoạt động khác của các nhóm tôn giáo thông qua Ủy ban về Các vấn đề Tôn giáo ở các cấp trung ương và địa phương. Mặc dù những ủy ban này có nhiệm vụ là bảo vệ quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở các tổ chức được công nhận, trên thực tế có rất ít các biện pháp hiệu quả xử phạt những vi phạm về tự do tôn giáo do quan chức nhà nước, đặc biệt là công an, gây ra. Tuy nhiên, cũng có tin cho biết ở một số nơi, công an địa phương đã bị khiển trách vì đã quấy nhiễu các nhà thờ tại gia, vi phạm Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về đạo Tin lành.

Rất nhiều mục sư của các giáo phái Tin lành như Seventh-day Adventists, Mennonites, Baptists, và Assemblies of God, không muốn gia nhập SECV vì có sự khác nhau về giáo lý. Ở nhiều nơi, đặc biệt là ở các khu đô thị, những giáo phái này và những tổ chức Tin lành chưa được công nhận khác cho biết họ có thể sinh hoạt tín ngưỡng công khai và quan chức địa phương đều biết. Ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt, như trường hợp của hội thánh Meno Thành phố Hồ Chí Minh do Lê Thị Phú Dung làm Hội trưởng, từ đầu năm 2005, mức độ quấy nhiễu của chính quyền địa phương đối với các hội thánh tại gia đã giảm đáng kể ở khắp mọi nơi trên đất nước. Chính phủ đã có những buổi thảo luận về việc công nhận và đăng ký tư cách pháp nhân với lãnh đạo của ít nhất là 4 giáo phái Tin lành, trong đó có giáo phái Baptists và Những nhân chứng của Jehovah.

Giữa các giáo phái Tin lành ở Thành phố Hồ Chí Minh có liên kết khá chặt chẽ, còn ở những nơi khác thì không. Các hội thánh tại gia thuộc các giáo phái trước năm 1975 nhìn chung là chịu ít các hình thức hạn chế hơn là những hội thánh được thành lập gần đây.

Ở cao nguyên Trung Bộ, nhiều vị chức sắc tôn giáo cho biết tình hình đã được cải thiện đáng kể đối với các hội thánh tại gia ở tỉnh Gia Lai. Tuy nhiên, ở Đắc Lắc, cộng đồng Tin lành vẫn bị giới hạn trong 4 hội thánh được chính thức công nhận. Các hội thánh tại gia chưa được công nhận gặp nhiều khó khăn trong việc tụ họp. Tín đồ Tin lành phần lớn chỉ có thể cầu nguyện tại nhà riêng của mình. Các quan sát viên phi chính phủ cho rằng tình trạng này là do chính quyền địa phương tỉnh Đắc Lắc nghi ngờ SECV và các hội thánh tại gia thành viên có liên quan đến những nhóm ly khai. Mặc dù vậy, số lượng các tín đồ Tin lành tại Đắc Lắc tiếp tục tăng và một số giáo phái Tin lành chưa được công nhận khác vẫn hoạt động.

Mặc dù ở cao nguyên Tây Bắc có khoảng hơn 110.000 tín đồ, không có một hội thánh Tin lành nào được chính thức công nhận. Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ nhận biết sự có mặt của các tín đồ ở Tây Bắc và đã chỉ đạo quan chức địa phương hướng dẫn họ tìm “địa điểm phù hợp” để sinh hoạt tín ngưỡng. Tuy thế, tháng 4 và 5 năm 2005, chính quyền các tỉnh Lai Châu, Hà Giang, Điện Biên đã tuyên bố với các nhà ngoại giao quốc tế rằng ở đây không có tín đồ Cơ đốc giáo nào. Chính quyền địa phương tỉnh Lào Cai ghi nhận sự có mặt của các tín đồ Tin lành và cho biết họ đang tìm cách để đối thoại với các tín đồ Tin lành về cách thức các tín đồ có thể sinh hoạt tín ngưỡng một cách phù hợp đúng theo chỉ thị từ Hà Nội.

Giáo phái Hòa Hảo chịu một số hạn chế về tôn giáo và chính trị từ 1975, một phần là do sự chống đối vũ trang của họ với lực lượng cộng sản. Sau 1975, tất cả cơ sở hành chính, cơ sở thờ tự, các viện xã hội và văn hóa liên quan đến đạo Hòa Hảo đều bị đóng cửa. Các tín đồ tiếp tục sinh hoạt tôn giáo tại nhà, nhưng do không được đến những nơi công cộng, cộng đồng Hòa Hảo bị cô lập và rời rã. Năm 1999, một cơ quan chính thức của đạo Hòa Hảo, Hội đồng Trị sự Hòa Hảo, được thành lập. Mùa xuân năm 2005, Hội đồng Trị sự Hòa Hảo mở rộng và đổi tên thành Ban Điều hành Phật giáo Hòa Hảo. Một số lãnh đạo của cộng đồng Hòa Hảo, bao gồm một số vị lãnh đạo trước năm 1975, công khai chỉ trích Ban Điều hành. Họ cho rằng ủy ban này quỵ luỵ Chính phủ và đòi quyền được chính thức công nhận cho Giáo hội Phật giáo Trung ương Hòa Hảo (HHCBC). Mặc dù chưa được công nhận, vào 4 tháng 5 năm 2005, HHCBC tổ chức một cuộc họp với sự tham gia của 126 đoàn đại biểu từ các tỉnh miền Nam. Tuy nhiên họ không đã không kỷ niệm được “Ngày khai lập” vào 24 tháng 6. Hai thành viên của HHCBC, Trần Văn Thanh và Trần Văn Hoàng, bị bắt giữ ngày 25 tháng 2 năm 2005 và bị kết án 6 đến 9 tháng tù vì tội phân phát phi pháp băng cát sét và đĩa DVD có nội dung giảng đạo của lãnh đạo HHCBC. Một thành viên Hòa Hảo khác, Bùi Tấn Nha, bị kết án tù từ năm 1997, vì lý do tôn giáo. Một số lãnh đạo của HHCBC kêu rằng họ bị công an theo dõi. Chính phủ tiếp tục hạn chế số lượng tăng lữ mà Hòa Hảo có thể đào tạo.

Có 6 chi hội thuộc Giáo hội Cao Đài được chính thức công nhận, ở miền Nam Việt Nam. Những giáo phái này phân bố dọc theo đường địa lý. Giáo phái Cao Đài lớn nhất ở tỉnh Tây Ninh, nơi giáo phái được thành lập vào năm 1926 và là trụ sở của lãnh đạo giáo phái. Hội đồng Trị sự Giáo hội Cao Đài tỉnh Tây Ninh được Chính phủ chính thức công nhận vào 1997. Các giáo phái Cao Đài độc lập buộc tội rằng sự can thiệp của Chính phủ đã làm hỏng tính độc lập của giáo phái Tây Ninh, rằng giáo phái Tây Ninh không còn trung thành duy trì những nguyên tắc và truyền thống của đạo Cao Đài nữa. Việc đào tạo diễn ra tại các chùa Cao Đài riêng lẻ chứ không diễn ra ở trường lớp tập trung. Giới chức sắc đạo Cao Đài cho biết họ không có nhu cầu mở một trường dòng.

Hội Hồi giáo Việt Nam bị cấm hoạt động từ năm 1975 nhưng được cho phép mở lại vào 1992. Đây là tổ chức Hồi giáo có đăng ký duy nhất ở Việt Nam. Lãnh đạo Hội nói rằng họ có thể sinh hoạt tín ngưỡng bình thường, như cầu nguyện hàng ngày, ăn chay trong tháng Ramadan, và giảng kinh Kô-ran. Một số tín đồ Hồi giáo có thể hành hương tới thánh địa Mecca hàng năm, phần lớn họ được trợ giúp từ các nhà bảo trợ nước ngoài. Trong thời gian báo cáo này được tường trình, một số sinh viên đạo Hồi đang đi du học ở nước ngoài do các chính phủ nước ngoài mời.

Chính phủ quản lý và giám sát tất cả các hình thức hội họp đông người, bao gồm cả hội họp tôn giáo; tuy nhiên, một số loại hình hội họp tôn giáo lớn được cho phép tiến hành, như lễ hội Thiên chúa giáo tại La Vang, lễ hội đền Hùng truyền thống, ngày khai lập đạo Hòa Hảo, ngày giỗ tổ Hùng vương, với sự tham gia của hàng trăm nghìn người mỗi năm. Ở Thành phố Hồ Chí Minh và một số nơi khác, các hội thánh tại gia được phép tụ họp theo nhóm lên đến 5.000 người vào những dịp lễ đặc biệt.

Chính phủ nghiêm cấm cải đạo do những nhóm truyền giáo hải ngoại tiến hành và không khuyến khích công chúng cải đạo ở ngoài các trung tâm thờ tự được công nhận, kể cả do các công dân Việt Nam. Mặc dù vậy, nhiều nhà truyền giáo nước ngoài vẫn đến tiến hành các hoạt động cải đạo không chính thức.

Chính sách của Chính phủ không cho phép người dân thuộc các nhóm tôn giáo không chính thức được phép phát biểu ý kiến công khai về tín ngưỡng của họ, nhưng vẫn có một số tiếp tục tiến hành giảng đạo và hành đạo mà không bị quấy nhiễu gì. Thành viên của các tổ chức tôn giáo có đăng ký, về mặt lý thuyết, được phép giảng đạo và thuyết phục người khác theo đạo của mình ở những địa điểm thờ tự được công nhận, chứ không được ở nơi khác.

Chính phủ yêu cầu tất cả những ấn phẩm về tôn giáo phải do Nhà xuất bản Tôn giáo, trực thuộc Văn phòng các Vấn đề về Tôn giáo, ấn hành, hoặc phải do các nhà xuất bản được Chính phủ cho phép in ấn nhưng phải được Chính phủ phê duyệt nội dung trước. Một loạt những bản kinh Phật, kinh thánh và các ấn phẩm tôn giáo khác được xuất bản và phân phối rộng rãi. Nhà xuất bản Tôn giáo đã in ấn 250.000 bản kinh phật Hòa Hảo, cùng với 100.000 bộ những lời giảng và tiên tri của nhà sáng lập; tuy nhiên các tín đồ đạo Hòa Hảo cho biết Chính phủ tiếp tục hạn chế việc phân phối toàn bộ kinh Phật, đặc biệt là tập thơ của nhà sáng lập. Ban Đại diện Hội Phật giáo Hòa Hảo chính thức nói rằng đó là do thiếu kinh phí chứ không phải do Chính phủ hạn chế. Hiệp hội Hồi giáo thì cho biết họ được in đầy đủ kinh Kô-ran vào năm 2000 để phân phát cho tất cả các tín đồ Hồi giáo ở Việt Nam. Kinh thánh được in bằng tiếng Việt, tiếng Trung Quốc và tiếng Anh, nhưng không được in ra tiếng dân tộc thiểu số. Một số tín đồ đạo Tin lành người dân tộc thiểu số có những bản kinh thánh bằng tiếng dân tộc được in ở nước ngoài đã bị chính quyền tịch thu.

Chính phủ cho phép đi lại vì mục đích tôn giáo, nhưng để tham gia vào các hội nghị tôn giáo và các khóa đào tạo ở nước ngoài thì phải được các cơ quan chức năng phê chuẩn. Các tín đồ theo đạo Hồi được phép hành hương đến thánh địa Mecca, các vị chức sắc Phật giáo, Thiên chúa giáo, đạo Tin lành nhìn chung là được đi ra nước ngoài học tập và dự hội nghị. Một số lãnh đạo các hội thánh Tin lành tại gia buộc tội Chính phủ rằng họ không được cấp hộ chiếu để đi nước ngoài trong khi các vị lãnh đạo không chính thức khác thì đi thường xuyên. Cũng như những công dân khác, những người theo đạo sau khi đi nước ngoài về thường bị hỏi về hoạt động của họ khi trở về và bị yêu cầu phải nộp lại hộ chiếu. Tuy nhiên, việc này diễn ra ngày càng ít đi.

Có theo tôn giáo nào không được ghi rõ trên chứng minh thư và “sổ hộ khẩu”. Thế nhưng trên thực tế, nhiều công dân có tôn giáo thường không ghi là có tôn giáo trên chứng minh thư, và chính phủ liệt họ vào dạng không tôn giáo. Không có điều khoản chính thức nào cấm việc thay đổi tôn giáo. Mặc dù có thể thay đổi mục tôn giáo trên chứng minh thư nhưng nhiều người đã gặp những thủ tục quá phiền hà hoặc sợ Chính phủ trừng phạt. Sự thay đổi tôn giáo chính thức dường như là rất hiếm, ngoài việc công dân không phải tín đồ Thiên chúa giáo lấy công dân là tín đồ Thiên chúa giáo. Chính phủ không yêu cầu ghi tôn giáo trên hộ chiếu.

Chính phủ cho phép, và trong nhiều trường hợp, khuyến khích mối giao lưu giữa các tổ chức tôn giáo được chính thức công nhận với các nhóm tôn giáo mộ đạo ở nước ngoài; tuy nhiên, Chính phủ đặc biệt ngăn cản UBCV liên lạc với những tín đồ Phật giáo ủng hộ họ ở nước ngoài. Hòa thượng Thích Nhật Hạnh, một lãnh đạo tổ chức Phật giáo ở Pháp, đã được phép trở về thăm nước nhà trong một chuyến đi 10 ngày vào tháng 1, chuyến thăm đầu tiên của ông sau 39 năm. Thích Nhật Hạnh đi khắp đất nước, gặp gỡ với các tín đồ thuộc các tổ chức Phật giáo lớn, nói chuyện với các vị lãnh đạo giới trí thức và chính trị, bao gồm cả Thủ tướng Phan Văn Khải. Nhiều lời bình luận nhận xét của Thích Nhật Hạnh rất quan trọng đối với các tín đồ Phật giáo, ông kêu gọi hòa giải giữa các nhóm Phật giáo.

Liên lạc giữa Vatican và Thiên chúa giáo trong nước diễn ra thường xuyên. Chính phủ duy trì đối thoại cởi mở và thường xuyên với Vatican về nhiều vấn đề, như ban lãnh đạo giáo hội, các hoạt động tổ chức, triển vọng thiết lập các mối quan hệ ngoại giao.

Liên lạc giữa một số tổ chức Tin lành chưa đăng ký với những thành phần ủng hộ ở nước ngoài bị Chính phủ ngăn cản nhưng vẫn diễn ra thường xuyên, bao gồm cả việc đào tạo, hỗ trợ tài chính và cung cấp tài liệu tôn giáo. Chính phủ đặc biệt thận trọng về sự liên lạc giữa các tín đồ Tin lành “Đề-ga” ly khai ở Cao nguyên Trung Bộ với các tổ chức ủng hộ hải ngoại. Chính phủ coi Tin lành Đề-ga là một nhóm lợi dụng tôn giáo vào mục đích quân sự để thiết lập một nhà nước Đề-ga tự trị.

Việc theo một tín ngưỡng nào đó nhìn chung không ngăn cản người dân tham gia vào đời sống kinh tế và những sinh hoạt đời thường, tuy nhiên nó cũng làm chậm quá trình thăng tiến trong Đảng Cộng sản, Chính phủ, và các cấp bậc trong quân đội. Quân đội không có chức giáo sĩ tuyên úy. Thừa nhận là có tôn giáo trước đây sẽ ngăn cản việc kết nạp Đảng, nhưng nay Đảng tuyên bố có đến hàng vạn trong số 2,6 triệu đảng viên là các tín đồ tôn giáo. Nghị quyết Trung ương Đảng năm 2003 kêu gọi việc kết nạp và thăng chức cho nhiều tín đồ tôn giáo vào hàng ngũ của Đảng. Tín đồ và giới tăng lữ của nhiều tín ngưỡng hiện đang nắm giữ những chức vụ trong chính quyền tỉnh và địa phương, và là đại biểu Quốc hội. Mùa xuân năm 2004, Mặt trận Tổ quốc cho biết họ muốn tăng đại diện của các tín đồ tôn giáo trong Hội đồng Nhân dân. Đảng và Chính phủ thường xuyên đến thăm đền chùa, nhà thờ, và thậm chí đến cả một số những nhà thờ Tin lành ở cao nguyên Trung Bộ nhân dịp Giáng sinh.

Chỉ thị hướng dẫn thi hành Pháp lệnh tôn giáo, tín ngưỡng quy định các ban về vấn đề tôn giáo địa phương phải cho phép xây dựng các cơ sở tôn giáo mới. Việc trùng tu các cơ sở tôn giáo chỉ cần thông báo cho chính quyền, một sự nới lỏng so với các quy định trước.

Các tổ chức tôn giáo không có quyền đòi lại đất đai và nhà cửa đã bị Nhà nước trưng dụng sau khi chiến tranh chống Pháp kết thúc vào 1954 và sau chiến thắng của quân đội cộng sản năm 1975. Mặc dù vậy, chính quyền các cấp, nhất là ở cấp tỉnh, đã trả lại một số ít đất đai nhà cửa bị tịch thu và tiếp tục thảo luận về các bất động sản khác. Một phó chủ tịch Hội Phật giáo Việt Nam cho biết khoảng 30% các bất động sản bị tịch thu ở miền Nam đã được trả lại. Các tổ chức Thiên chúa giáo và Tin lành được công nhận đã nhận lại được một số đất đai nhà cửa nhưng vẫn còn tranh chấp về những bất động sản khác. Một số đất đai nhà cửa cũng đã được trả lại cho Hội đồng Trị sự giáo phái Hòa Hảo, nhưng rất ít nhà cửa đất đai được trả lại cho đạo Cao Đài. Rất nhiều tài sản bị tịch thu trước kia là các trường đào tạo về tôn giáo nay được sát nhập vào hệ thống trường công lập.

Mặc dù Pháp lệnh mới về tôn giáo và tín ngưỡng “khuyến khích” các tổ chức tôn giáo tham gia vào các hoạt động từ thiện trong lĩnh vực giáo dục và y tế nhưng mức độ giám sát của chính quyền đối với các hoạt động này rất khác nhau ở các địa phương khác nhau. Ở một số vùng đặc biệt là ở miền Nam, các linh mục và nữ tu sĩ đã mở ra các nhà trẻ, các trại trẻ mồ côi, các trung tâm dạy nghề, các phòng khám và tham gia vào nhiều chương trình nhân đạo khác. Ở Thành phố Hồ Chí Minh và Huế, nhà thờ công giáo tham gia hỗ trợ trong việc xây dựng các trung tâm điều trị và bệnh viện cho bệnh nhân HIV/AIDS và tham gia tư vấn cho thanh niên về vấn đề này. Vào tháng 4 năm 2005, chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh đã không cho phép nhà thờ mở phòng khám mới cho những bệnh nhân nhiễm HIV. Họ nói rằng cần phải có sự thông qua của các quan chức cấp cao hơn.

Các hoạt động nhân đạo của nhà thờ Thiên chúa giáo còn bị hạn chế nhiều hơn ở miền Bắc Việt Nam. Giáo hội phật giáo Việt Nam đã tham gia vào các hoạt đông nhân đạo trong đó có cả chương trình chống ma tuý ở nhiều nơi trong cả nước. Theo một tổ chức đạo Hòa Hảo chính thống, tổ chức này đã tham gia vào nhiều hoạt động nhân đạo và các dự án phát triển vùng. Các nhóm đạo Tin lành, thiên chúa giáo và đạo Phật cũng được cho phép tổ chức các lớp giáo lý cho trẻ em. Trẻ em cũng được dạy về tôn giáo và và ngôn ngữ ngoài các buổi học văn hóa chính thức các nhà chùa và nhà thờ của người Khmer.

Chính phủ không cho phép giảng về tôn giáo ở các trường học tuy nhiên lại cho phép các mục sư giảng dạy ở các truờng đại học đối với các môn liên quan đến chuyên môn đó. Các nhà sư được phép giang dạy ở viện hàn lâm chính trị Thành phố Hồ Chí Minh trong khi các nữ tu sĩ và có một linh mục được phép giảng dạy tại các trường đại học ở Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, họ không được phép mặc lễ phục khi giảng dạy hoặc không để lộ ra mình là linh mục. Các nhà thờ trên cả nước hiện nay được cho phép tổ chức những lớp học giáo lý vào các ngày cuối tuần hoặc buổi tối. Các nhà sư Tiểu Thừa của người Khmer và những người theo đạo Hồi của dân tộc Chăm thường xuyên tổ chức các lớp giảng đạo và ngôn ngữ cho trẻ em ngoài giờ học văn hóa tại các nhà chùa và nhà thờ Hồi giáo.

Bản báo cáo cũng không đưa ra bất cứ một trường hợp chống Xê-mít nào. Một số ít người theo đạo Hồi của Việt Nam hầu hết là những người hồi hương.

Lạm dụng tự do tôn giáo

Các trường hợp lạm dụng tôn giáo giảm dần trong thời gian bản báo cáo này được tường trình. Tuy nhiên, khá nhiều những người theo tôn giáo đã bị đàn áp do hoạt động trái phép. Chính quyền địa phương đã cấm những mọi hoạt động của những người theo đao Tin lành ở miền Trung và Tây Bắc Tây Nguyên và các vùng khác bắt buộc các nhà thờ phải đóng cửa và ép buộc các tín đồ phải từ bỏ tông giáo của mình. Những người đứng đầu UBCV bị cảnh sát bắt giữ và tra hỏi nhất là những người có quan điểm chính trị và tôn giáo độc lập. Báo cáo còn chỉ ra các các trường hợp bắt giữ tùy tiện, áp đảo tinh thần một số cá nhân do theo một tín ngưỡng hay tôn giáo nào đó đặc biệt thường xảy ra ở các tỉnh miền núi.

Ngôi nhà nguyện Mennonnite của bà Lê Thị Phú Dung từ lâu đã nằm trong mục tiêu chú ý của cảnh sát Thành phố Hồ Chí Minh. Cảnh sát đã triệu tập bà Dung lên một vài lần và can thiệp vào hoạt động của nhà thờ, giam giữ một số nhóm người theo đạo trong một thời gian ngắn. Theo bản báo cáo, chồng bà Dung, mục sư của nhà nguyện Mennonite là ông Nguyễn Hồng Quang, người đứng đầu nhà thờ này đã phải ở tù 3 năm. 5 tín đồ cũng bị tuyên án phạt tù từ 9 tháng đến 2 năm. Ông Quang và các tín đồ đã bị bắt trong một vụ ẩu đả với hai người họ nghi là cảnh sát mặc thường phục. Họ đã bắt và giữ xe máy của hai người này, hai người tiếp tục tham gia ẩu đả với cảnh sát khi họ đến nơi giải quyết vụ ẩu đả. Tuy nhiên theo một số người, ông Quang bị bắt giữ do có ảnh hưởng xã hội quá lớn.

Tổ chức giám sát nhân quyền, một tổ chức phi chính phủ quốc tế đã cho biết lực lượng an ninh ở tỉnh Kontum đã cho phá nhà nguyện của mục sư Nguyễn Công Chính vào hồi tháng 1 và tháng 9 năm ngoái với lý do ông Chính đã đứng tên giả để mua khu đất xây nhà thờ. Tuy nhiên, theo các nhà quan sát thì ông Chính còn mở ít nhất một nhà thờ khác cách đó không xa không có đăng ký mà không chịu sự dàn áp nào từ phía chính quyền. Ông Chính cũng khiếu nại rằng ông đã từ chối đưa ra chứng minh thư được yêu cầu xuất trình khi đăng ký sở hữu nhà hoặc tài sản.

Báo cáo cũng đưa ra trường hợp mục sư Thân Văn Trường bị chính quyền tỉnh Đồng Nai ép buộc đưa vào trại tâm thần do tham gia hoạt động tôn giáo và chính trị. Trước đó ông cũng đã từng bị giam lỏng do tuyên truyền chống chính phủ và được tại ngoại trong 6 tháng sau khi mãn thời hạn giam lỏng. Ông bị bắt giam hồi tháng 6 năm 2004 do vi phạm trong thời gian tại ngoại và sau đó bị chuyển vào trại tâm thần.

Vào tháng 10 năm 2004, cảnh sát Thành phố Hồ Chí Minh đã can thiệp vào vào một khóa đào tạo cho 17 mục sư người Hmong tại một nhà riêng. Những người này đã bị cảnh sát giam trong 2 tuần và sau đó bị buộc phải quay về quê. Vào tháng 5 năm 2005, cảnh sát đã can thiệp vào một cuộc họp của các sinh viên đạo Tin lành trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội và giam giữ các sinh viên này trong vài giờ đồng hồ. Cũng vào tháng 5, mục sư Nguyễn Văn Cầm đã cho biết chính quyền xã Đồng Lâm, huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình đã không dưới một lần thuyết phục ông ký vào tài liệu nhằm chấm dứt hoạt động truyền giáo. Theo các báo cáo chưa chính thức, một nhà thờ thuộc hội giám lý ở xã Xuân Lãnh, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên và một nhà thờ Nazarene ỏ xã Phủ Lý, huyện Vĩnh Cưu, tỉnh Đồng Nai đã bị chính quyền đị phưong can thiệp do tổ chức các cuộc họp bất hợp pháp.

Theo báo cáo, chính quyền đã can thiệp thậm chí bắt giữ một số người đứng đầu nhiều nhà thờ ở cao nguyên Trung Bộ và Tây Bắc và buộc họ phải từ bỏ tôn giáo, tuy nhiên không thu được kết quả gì.

Nhiều nhà nguyện cũng đuợc cho phép hoạt động ở một số nơi tuy nhiên phải dưới tầm kiểm soát của chính phủ. Một ví dụ điển hình vào tháng 2 năm 2005, lực lượng biên phòng chính phủ ở làng Gap Trung, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang theo báo cáo đã uy hiếp các tín đồ tại một nhà thờ Tin lành và cấm không cho tổ chức các buổi truyền giáo diễn ra. Báo cáo cho biết, ít nhất 4 nhà nguyện ở xã Mường Nhà và Pú Nhi của tỉnh Điện Biên bị cấm gặp gỡ để tiến hành các hoạt động truyền giáo. Tháng 4 năm 2005, các quan chức địa phương ở làng Lu Khau ở xã Tả Phìn của thị trấn Sa Pa đã tịch thu đất của 12 gia đình theo đạo Tin lành người Hmong với lý do Chúa sẽ ban lương thực cho họ. Sau đó khoảng đất này cũng được trả lại. Ngoài ra, hai người theo đạo tin lành Giàng A Tính và Trang A Cam theo báo cáo còn bị các quan chức địa phương đánh đập và thúc ép ký vào một tài liệu nhằm buộc họ phải từ bỏ tôn giáo. Chính quyền thị trấn Sa Pa cho biết tất cả những vụ tịch thu đất hay đụng độ thực chất là do các già làng ngưòi Hmong khởi xướng như một hình thức phạt các cá nhân đã từ bỏ tín ngưỡng của bộ tộc và khi chính quyền đã kịp thời phát hiện can thiệp để trả lại đất cho các cá nhân đó.

Vào cuối khoảng thời gian báo cáo này được tường trình, Chính phủ đã không trả lời các câu hỏi về lý do bị giam giữ của một tín đồ đạo Tin lành tên là Mua Say So ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên. Theo nguồn tin không chính thức, Mua Say So đã bị bắt năm 2003 và bị tuyên bố 42 tháng tù sau khi cáo buộc cảnh sát đã can thiệp và gây ra cái chết của anh trai anh ta Mua Bua Senh cũng là một tín đồ đạo Tin lành. Các nhà hoạt động tôn giáo đã cáo buộc rằng Mua Bua Senh đã bị đánh chết năm 2002 do không đồng ý từ bỏ tôn giáo của mình. Năm 2003, chính phủ đã thông báo cho các nhà ngoại giao rằng Mua Bua Senh đã tự nhiên mà chết.

Việc đàn áp đạo Tin lành ở Cao nguyên Trung Bộ trở nên phức tạp do sự hiện diện của nhóm nhỏ ly khai "Đề-ga". Nhóm này yêu cầu có một quê hương tự trị độc lập cho người bản địa trong vùng, đặc biệt ở các tỉnh Gia Lai và Đắc Lắc. Đề-ga có liên hệ với các nhóm chính trị ở Mỹ trong đó có Montagnard Foundation, Inc., tự xưng là “chính phủ lưu vong Đề-ga”. Những người theo Đề-ga đều là tín đồ Tin lành, tuy nhiên “nhà thờ Đề-ga” kết hợp việc hành đạo với tuyên truyền chính trị và chủ nghĩa phân biệt chủng tộc thiểu số. Quan hệ giữa Đề-ga và các tín đồ Tin lành phụ thuộc sự lựa chọn giữa SECV đã được công nhận hay nhà thờ tại gia phi chính trị. Theo các báo cáo, Đề-ga đã phê phán một số mục sư đạo Tin lành chính phái, nhiều người trong số đó phê phán Đề-ga về việc sử dụng tôn giáo cho những mục đích chính trị. Theo các báo cáo, một số ít các mục sư đạo Tin lành ở khu vực này ủng hộ việc thành lập một Nhà nước Đề-ga tự trị ; nhưng một đa số chính thống hơn các mục sư đạo Tin lành ở Tây Nguyên không ủng hộ việc này. Một nhà lãnh đạo Tin lành cho rằng 20% tín đồ Tin lành trong tỉnh của mình tích cực ủng hộ hay có cảm tình với Đề-ga. Những đánh giá khác về sự ủng hộ phong trào Đề-ga đưa ra những con số thấp hơn nhiều.

Ngày 10/4/2004, vài nghìn người dân tộc thiểu số đã phản đối các nhà chức trách tại một số huyện ở các tỉnh Đắc Lắc, Gia Lai và Đắc Nông thuộc Tây Nguyên. Theo các báo cáo, các nhà chức trách đã đàn áp mạnh mẽ những người phản đối và có đánh đập hay giết một số người phản đối. Theo các báo cáo, một số người phản đối cũng đã có hành động bạo lực. Một số cá nhân ở nước ngoài ủng hộ phong trào Đề-ga cho rằng việc hạn chế tự do tôn giáo là yếu tố chính dẫn đến hành động phản đối. Chính phủ, cũng như nhiều nhà lãnh đạo chính thức và không chính thức thì cho rằng tranh chấp đất đai và các vấn đề kinh tế xã hội khác là nguyên nhân dẫn đến hành động phản đối.

Làn sóng người dân tộc thiểu số Tây Nguyên di cư sang Campuchia để tìm cách được hưởng quy chế tị nạn tiếp tục diễn ra tại thời gian mà báo cáo này được tường trình. Đặc biệt, số người di cư tăng mạnh từ tháng 7 đến tháng 12 năm 2004. Những người có khả năng được hưởng quy chế tị nạn được văn phòng Cao ủy về tị nạn của Liên Hợp Quốc tại Campuchia nói về tranh chấp đất đai và tình trạng đói nghèo kéo dài nhiều hơn bất cứ nguyên nhân nào khác khiến họ di cư, tuy rằng vấn đề ngược đãi tôn giáo cũng được nhắc đến.

Vào tháng 2 năm 2005, cảnh sát ở tỉnh An Giang đã bắt giam các tín đồ Hòa Hảo Trần Văn Hoàng và Trần Văn Thanh vì đã truyền bá những băng cassette và DVD có ghi các bài giảng tôn giáo. Ngày 27 tháng 4, các nhà chức trách kết án Hoàng 9 tháng tù và Thanh 6 tháng tù. Trong khi hai người này bị kết tội vì truyền bá những băng đĩa bất hợp pháp, ở Việt Nam số trường hợp mà quy định này được áp dụng là rất hiếm, vì vậy các nhà quan sát cho rằng nguyên nhân khiến họ bị kết tội là việc họ đã gia nhập Giáo hội Phật giáo Trung ương Hòa Hảo mà chính quyền không công nhận là hợp pháp.

Các nhà lãnh đạo và thành viên của HHCBC như Hà Hải, Trương Văn Đức và Nguyễn Văn Lia đã được ân xá trong thời gian mà báo cáo này được tường trình.

Vào tháng 8 năm 2004, các nhà chức trách đã bắt Hong Thien Hank, lãnh đạo của giáo phái nhỏ Tổ Đình Tân Chiếu Minh Cao Đài ở tỉnh Tiền Giang. Chính phủ tuyên bố rằng Hank đã tham gia những hoạt động tôn giáo bất hợp pháp, in và truyền bá bất hợp pháp những thông tin tôn giáo và lừa gạt tín đồ.

Các tu sỹ, con chiên của Giáo hội Thiên Chúa giáo dòng Đức Mẹ tiếp tục phải chịu những hạn chế của Chính phủ. Được Đức cha Trần Đình Thu sáng lập tại giáo khu Bùi Chu năm 1953, một giáo phái có lịch sử chống Cộng đã thiết lập lại trụ sở ở quận Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh vào năm 1954. Năm 1988, cảnh sát bao vây khu vực rộng khoảng 15 héc-ta này và bắt giữ tất cả các tu sỹ và con chiên trong khu vực. Kể từ đó, sau khi Cha Phạm Minh Trí được tha vào tháng 5 năm 2005, chỉ còn Nguyễn Thiên Phụng là bị giam. Thời hạn 20 năm tù của Nguyễn Thiên Phụng sẽ chấm dứt vào tháng 3 năm 2007.

Tín đồ Cao Đài Ngô Văn Thông bị bắt năm 1977 và bị tòa án Tây Ninh kết án tử hình, mức án của ông ta sau đó được giảm xuống thành tù chung thân. Thông được thả năm 2001. Lần đầu tiên Chính phủ thông báo về việc này vào tháng 9 năm 2004.

Dự đoán có khoảng 6 người còn bị tù và giam giữ vì lý do tôn giáo vào cuối thời kì báo cáo này được tường trình, mặc dù con số thực tế có thể cao hơn nhiều. So với báo cáo lần trước, con số này đã giảm rõ rệt. Con số này giảm một mặt là do một số tù nhân được tha và mặt khác là do việc Chính phủ đã làm rõ về việc nhiều cá nhân mà các nhóm tư nhân cho rằng đã bị bắt vì lý do tôn giáo trên thực tế là đang tự do.

Khó có thể xác định được chính xác số người bị tù và giam giữ vì lý do tôn giáo vì ít có thông tin minh bạch về hệ thống pháp luật và do việc rất khó xác định xung quanh việc bắt, giam giữ và thả người. Một số nhà quan sát cho rằng số tù nhân tôn giáo còn cao hơn nhiều, nói chung đó là kết quả của việc tính đến cả những người bị bắt vì tham gia nhóm ly khai Đề-ga hoặc tham gia những vụ đụng độ giữa cảnh sát và người dân tộc thiểu số có hành động chống đối vào tháng 4 năm 2004. Vào cuối thời kỳ mà báo cáo này được tường trình, người duy nhất được cho là bị giam giữ mà không có lệnh bắt hay cáo buộc chính thức vì lí do liên quan đến tôn giáo tín ngưỡng là linh mục Thân Văn Trường, hiện bị giam giữ tại một trại tâm thần ở tỉnh Đồng Nai.

Ít nhất có 15 người khác nữa bị giam giữ trong điều kiện giống như quản thúc tại gia vì những lý do liên quan đến việc bày tỏ tín ngưỡng tôn giáo hay cố gắng thành lập các tổ chức tôn giáo không được cho phép, mặc dù không hề có bất cứ cáo buộc chính thức nào chống lại họ.

Vào cuối giai đoạn báo cáo này được tường trình, những người được cho là bị cầm tù hoặc bị giam giữ một phần là vì bày tỏ một cách hòa bình tín ngưỡng tôn giáo của họ gồm có: con chiên Thiên Chúa giáo Nguyễn Thiên Phụng; tín đồ Tin lành Mua Say So, tín đồ Cao Đài Hong Thien Hank và tín đồ Hòa Hảo Trần Văn Hoàng, Trần Văn Thanh và Bui Tan Nha. Các nhóm Hòa Hảo và Tin lành cho rằng còn một số người khác bị giam giữ vì lí do tôn giáo, nhưng không thể kiểm chứng những thông tin này. Năm 2003, các hòa thượng UBCV Thích Tuệ Sỹ, Thích Nguyên Lý, Thích Thanh Huyền và Thích Đông Thổ bị lĩnh án hai năm quản chế hành chính. Các chức sắc tôn giáo khác, bao gồm hòa thượng UBCV Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ và linh mục Thiên chúa giáo Phạm Văn Lợi, bị quản thúc tại gia trên thực tế. Một số người khác, chức sắc hay tín đồ UBCV, Cao Đài, Thiên Chúa giáo, Hòa Hảo, và Tin lành bị hạn chế hoạt động hay bị công an giám sát và theo dõi.

Cưỡng bức cải giáo

Nghị định hướng dẫn thực hiện sắc lệnh về tôn giáo tín ngưỡng ban hành ngày 1 tháng 3 khẳng định “Không được ép buộc công dân theo một tôn giáo hay từ bỏ tín ngưỡng của mình”. Chỉ thị của Thủ tướng về một số nhiệm vụ liên quan đến đạo Tin lành, ban hành ngày 4 tháng 2 cũng khẳng định một cách tương tự. Trong khi chính phủ nói rằng việc cưỡng bức theo tôn giáo hay từ bỏ tín ngưỡng luôn luôn là không hợp pháp, những văn bản nói trên là những tài lỉệu đầu tiên trong đó điều này được nêu rõ. Sau khi nghị định hướng dẫn thực hiện được ban hành, các báo cáo về tình hình tôn giáo ở Tây Nguyên và vùng Tây Bắc cho thấy rằng việc cưỡng bức từ bỏ tín ngưỡng đã giảm bớt. Tuy nhiên vẫn có báo cáo về một số vụ việc diễn ra trong giai đoạn báo cáo này được tường trình.

Nhiều lần, theo các báo cáo, cán bộ của một số làng vùng Tây Bắc cố gắng thuyết phục hoặc ép người H’mông theo đạo Tin lành từ bỏ tín ngưỡng của họ. Chính quyền địa phương còn khuyến khích các già làng, trưởng bản gây áp lực đối với gia đình, con cháu họ từ bỏ Thiên chúa giáo và quay về với những nghi lễ truyền thống. Chẳng hạn, theo các báo cáo, binh sĩ biên phòng của chính phủ đã không thành công khi ép buộc 4 tín đồ Tin lành ở làng Gap Trung, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang kí giấy từ bỏ tín ngưỡng của họ vào tháng 4 năm 2005. Tương tự, theo các báo cáo, vào tháng 5, các nhà chức trách xã Cha Cang, huyên Mường Lay, tỉnh Điện Biên đã ép buộc tín đồ của một số nhà thờ tại gia lập bàn thờ truyền thống ở nhà họ và ép buộc ký giấy từ bỏ đạo Tin lành. Vào tháng 7 và tháng 8 năm 2004, theo các báo cáo, nhà chức trách bắt giam không kết tội hơn 100 tín đồ Tin lành Hmong, chọn ở mỗi gia đình một người, tại ít nhất 5 xã khác nhau ở huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai. Nhà chức trách đã tìm cách buộc những người bị bắt từ bỏ đạo Tin lành và chỉ thả họ sau khi họ hứa làm như vậy.

Ở Tây Nguyên, theo những báo cáo đáng tin cậy, nhà chức trách địa phương đang khuyến khích người dân tộc thiểu số từ bỏ việc tham gia nhà thờ Đề-ga và gia nhập các tổ chức Tin lành khác.

Không có báo cáo nào về việc ép buộc cải giáo của số ít công dân Mỹ bị bắt cóc hay bị đưa ra khỏi nước Mỹ một cách bất hợp pháp, hoặc không cho phép những công dân này quay trở lại Mỹ.

Những xâm phạm của các tổ chức khủng bố

Trong giai đoạn báo cáo này được tường trình không có vụ xâm phạm nào của các tổ chức khủng bố nhằm vào các tôn giáo cụ thể.

Những cải thiện và diễn biến tích cực trong lĩnh vực tôn trọng tự do tôn giáo

Tình hình tôn trọng tự do tôn giáo đã được cải thiện trong giai đoạn báo cáo này được tường trình. Nhiều thay đổi diễn ra thông qua việc sửa đổi một cách đáng kể khuôn khổ pháp lý về việc quản lý tôn giáo và giảm bớt sức ép của chính phủ đối với các nhóm Tin lành. Nhưng vào cuối giai đoạn báo cáo này được tường trình, việc thực hiện cải cách pháp lý vẫn chỉ ở giai đoạn đầu.

Pháp lệnh về Tôn giáo và tín ngưỡng, có hiệu lực ngày từ 15 tháng 11 năm 2004, đề cao nguyên tắc tự do tôn giáo tín ngưỡng. Trong khi duy trì những quy định cơ bản về sự kiểm soát chặt chẽ của chính phủ đối với các tổ chức tôn giáo, pháp lệnh này đã nới lỏng sự kiểm soát đối với các hoạt động tôn giáo hàng năm và việc thăng chức và thuyên chuyển giáo sĩ trong hầu hết các trường hợp bằng việc chỉ yêu cầu các tổ chức thông báo cho các nhà chức trách chứ không đòi hỏi phải xin phép một cách cụ thể. Ngoài ra, pháp lệnh này cho phép các tổ chức tôn giáo tiến hành các hoạt động từ thiện trong các lĩnh vực giáo dục và y tế, những hoạt động mà trước kia bị hạn chế rất nhiều.

Việc thực hiện Nghị định về tôn giáo và tín ngưỡng, ban hành ngày 1 tháng 3 năm 2005, đã giải thích thêm về những phương diện kiểm soát của chính phủ đối với tôn giáo. Nghị định khẳng định rằng hành động ép buộc người khác từ bỏ tín ngưỡng của họ là không hợp pháp. Với việc đặt ra những thủ tục đặc biệt cần thực hiện để các tổ chức tôn giáo đăng kí như một thực thể và để giáo đoàn đăng kí hoạt động và địa điểm hội họp, nghị định này cũng nói rõ về những quá trình mà trước kia phần lớn được dành cho các quan chức địa phương hay tỉnh định đoạt. Hơn nữa, nghị định này cũng quy định rằng cần phải trả lời những yêu cầu nêu trên bằng văn bản trong những thời hạn nhất định, làm cho quy trình thêm minh bạch.

Chỉ thị của Thủ tướng về “Một số nhiệm vụ liên quan đến đạo Tin lành” ban hành ngày 4 tháng 2 năm 2005 yêu cầu các quan chức hợp tác với tín đồ đạo Tin lành và đề nghị nhà chức trách tạo thuận lợi cho các tôn phái Tin lành đã được công nhận trong việc xây dựng nhà thờ cũng như đào tạo và bổ nhiệm các mục sư. Ngoài ra, bản chỉ thị cũng yêu cầu các nhà chức trách giúp đỡ các tôn phái chưa được công nhận đăng kí các giáo đoàn của mình để họ có thể hành đạo công khai và tiến tới đáp ứng đủ các tiêu chuẩn đề ra để được hoàn toàn công nhận. Trên thực tế, quy định này cho phép các “nhà thờ tại gia” chưa được công nhận hoạt động chừng nào vẫn “cam kết tuân thủ các quy định” và không tham gia các phong trào ly khai.

Việc phổ biến các quy định này được tiến hành một cách chậm chạp và tới cuối giai đoạn báo cáo này được tường trình, nhiều người đứng đầu những nơi thờ cúng cho biết rằng cảnh sát và các nhà chức trách đã không thực hiện đầy đủ những quy định mới này. Trong một số trường hợp, các quan chức không biết đến hoặc chưa thấy những quy định đó. Có những báo cáo đặc biệt về việc cảnh sát và các quan chức địa phương tiếp cận những người đứng đầu nhà thờ tại gia tại một số địa phương để thông báo cho những người này về các quy định mới. Có những báo cáo từ những địa phương thuộc vùng núi Tây Bắc về việc quan chức địa phương nói với tín đồ rằng luật lệ mới không áp dụng đối với Tây Bắc. Sau khi Nghị định hướng dẫn thực hiện được ban hành vào tháng 3 năm 2005, khi 6 nhà thờ tại gia ở tỉnh Hà Giang dự định đăng kí với chính quyền địa phương, đơn của họ không được chấp thuận. Tuy nhiên, nhiều nhóm tôn giáo đã được công nhận hay không được công nhận cho biết rằng họ tin rằng tình hình sẽ tiếp tục được cải thiện đối với người hành đạo.

Trong một số trường hợp đặc biệt, một mục sư ở tỉnh Hà Giang cho biết rằng ông phụ trách 55 giáo đoàn, chỉ có một giáo đoàn trong số đó gặp khó khăn với chính quyền. Trong khi trước kia những người hành đạo bị bắt buộc phải hội họp vào những giờ không bình thường, thì bây giờ họ hội họp công khai vào ban ngày, và các nhà chức trách đều biết điều đó. Ở Hà Nội, nhà thờ Thiên chúa giáo ghi nhận rằng những yêu cầu lâu ngày chưa giải quyết về việc mở rộng trường dòng và tăng số lớp đều đã được đáp ứng. SECV cho biết rằng có một số cải thiện ở Cao nguyên Trung Bộ. Ở tỉnh Gia Lai, SECV đã được phép mở trường giảng Kinh thánh cho những linh mục không được công nhận, có khả năng điều đó sẽ dẫn đến việc gia tăng nhanh chóng số mục sư mới ở tỉnh này. SECV cũng đã mở 9 nhà thờ mới ở tỉnh Gia Lai và 7 nhà thờ mới ở tỉnh Đắc Nông trong giai đoạn báo cáo này được tường trình. Theo báo cáo, một số giáo đoàn ở Gia Lai được nhà chức trách địa phương cấp đất để xây dựng nhà thờ mới.

Việc tham dự các buổi phụng sự tôn giáo tiếp tục gia tăng trong giai đoạn báo cáo này được tường trình. Số nhà sư đạo Phật và số linh mục Thiên chúa giáo cũng tiếp tục gia tăng.

Một số tù nhân tôn giáo đã được ân xá hay được tha tù duới hình thức khác trong giai đoạn báo cáo này được tường trình. Bốn tín đồ Tin lành Hmong - Vang Chin Sang, Vang Mi Ly, Ly Chin Seng và Ly Xin Quang - ở huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang, đã từng bị kết án tù vào tháng 12 năm 2003 từ 26 đến 36 tháng sau khi tổ chức những hoạt động phụng sự tôn giáo không được phép, đã được ân xá vào tháng 5 năm 2005. Người đứng đầu đạo Tin lành Mua A Chau, đã từng bị giam giữ ở tỉnh Lai Chau vào tháng 3 năm 2003 và bị kết án tù 36 tháng vì “chống đối người thi hành công vụ” sau khi va chạm với cảnh sát, cũng được ân xá vào tháng 5 năm 2005. Hòa thượng UBCV Thích Thiện Minh, đã từng bị tù từ tháng 3 năm 1979, đã được ân xá vào tháng 2 năm 2005. Ông này đã bị kết án 20 năm tù vì “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”, theo các báo cáo, sau khi phản đối việc phá hủy ngôi đền của mình, và bị kết án 10 năm tù sau khi tìm cách vượt ngục.

Tín đồ Hòa Hảo Nguyễn Văn Lia, đã từng bị kết án 3 năm tù vào tháng 10 năm 2003 sau khi tổ chức kỉ niệm việc mất tích của nhà tiên tri Hòa Hảo, đã được ân xá vào tháng 9 năm 2004. Nguyễn Hà Hải, sĩ quan hạng 3 của HHCBC, đã từng bị kết án 5 năm tù vào năm 2001 vì lạm dụng “quyền dân chủ”, đã được tha ngày 31 tháng 5 năm 2004 nhưng chết vì ung thư sau đó 15 ngày. Hồ Văn Trọng, đã từng bị kết án 4 năm tù vào tháng 5 năm 2001 sau khi một nhóm 60 – 70 người tấn công một nhóm Hòa Hảo do Lê Quang Liêm người đứng đầu nhà thờ đẫn đầu, đã được tha vào ngày 11 tháng 6 năm 2004. Trương Văn Đức, đã từng bị kết án 12 năm tù cũng vì tham gia vào sự kiện đó, đã được tha vào tháng 1 năm 2005. Linh mục Thiên chúa giáo Nguyễn Văn Lý, đã từng bị kết án 5 năm tù từ tháng 5 năm 2001 vì “phá hoại chính sách đoàn kết của Chính phủ”, đã được ân xá vào tháng 5 năm 2005. Cũng được thả trong tháng 5 là Cha Phạm Minh Trí, một linh mục dòng Chúa Cứu thế đã bị bỏ tù từ năm 1987.

Phần III. Thái độ xã hội

Nói chung, có các quan hệ hữu hảo giữa các cộng đồng tôn giáo khác nhau mà không có những trường hợp phân biệt đối xử xã hội hoặc bạo lực vì lý do tôn giáo trong thời kỳ chuẩn bị bản báo cáo này. Ở Thành phố Hồ Chí Minh và Huế, có một vài cuộc đối thoại về Thiên chúa giáo giữa những nhà lãnh đạo của các cộng đồng tôn giáo khác nhau. Những người Phật giáo, Hòa Hảo và Cao Đài được biết là đôi khi cũng hợp tác về một vài đề án xã hội và từ thiện. Những người Phật giáo thuộc VBCV và những nhà hoạt động Công giáo, Cao Đài, Tin lành và Hòa Hảo hình như có quan hệ chặt chẽ với nhau; nhiều người trong số họ được biết đã hình thành những mối liên hệ trong thời gian bị cầm tù tại Xuân Hòa. Ngày 15 tháng 2, hơn 6.000 người đã dự một lễ liên tôn giáo được tổ chức tại Tổng Địa phận Công giáo tại Thành phố Hồ Chí Minh để tăng cường sự hiểu biết về HIV/ AIDS. Các nhà lãnh đạo Phật giáo. Hồi giáo, Cào Đài, Hòa Hảo và Tin lành đã phát biểu tại buổi lễ với các quan chức lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh.
 
Phần IV. Chính sách của Chính phủ Mỹ
 
Thàng 9 năm 2004. Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ đã lần đầu tiên liệt kê Việt Nam là “một nước cần đặc biệt quan tâm” (CPC) vì đã có những vi phạm đặc biệt về tự do tôn giáo. Sau đó, Đại sứ lưu động phụ trách về Tự do Tôn giáo Quốc tế cùng với phái bộ Hoa Kỳ tại Việt Nam đã tiến hành thảo luận với Chính phủ thúc giục phải có những cải thiện về tự do tôn giáo.
 
Ngày 21/6/2005, Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Việt Nam đã thảo luận về quy chế tự do tôn giáo tại Việt Nam. Vào đầu tháng 5, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ đã thăm Việt Nam và thảo luận về nhân quyền và tự do tôn giáo với các quan chức chính phủ cao cấp.
 
Ngày 5/5/2005, Mỹ và Việt Nam đã ký một thỏa thuận nhằm giải quyết một số mối quan tâm về tự do tôn giáo quan trọng. Theo thỏa thuận này, Chính phủ Việt Nam đã có một số cam kết bao gồm việc thực hiện đầy đủ những đạo luật mới về các hoạt động tôn giáo và bỏ những quy định trái ngược hồi trước đây, chỉ thị cho chính quyền địa phương phải chấp hành nghiêm chỉnh và đầy đủ đạo luật mới và đảm bảo việc chấp hành đạo luật này, tạo điều kiện dễ dàng cho quá trình các nhóm tôn giáo có thể tổ chức các nhà cầu nguyện, và; xem xét đặc biệt đối với các tù nhân và những trường hợp cần quan tâm do Mỹ nêu ra trong những đợt ân xá tù nhân. Tùy thuộc vào việc hoàn thành những cam kết này của Chính phủ Việt Nam, Mỹ cam kết xem xét việc rút Việt Nam ra khỏi danh sách những nước cần đặc biệt quan tâm (CPC).
 
Sứ quán tại Hà Nội và Tổng lãnh sự tại Thành phố Hồ Chí Minh tích cực và thường xuyên nêu những quan tầm của Mỹ về tự do tôn giáo với nhiều nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam và các quan chức chính phủ, kể cả những nhà lãnh đạo Bộ Ngoại giao, Ủy ban Tôn giáo Chính phủ, Bộ Công an và các cơ quan khác tại Hà Nội, thành phố Hồ chí Minh và các tỉnh.
 
Đại sứ lưu động phụ trách về Tự do tôn giáo Quốc tế và các viên chứng đã đến nhiều vùng tại Việt Nam trong 3 dịp vào giữa những năm 2003 và 2005 để gặp gỡ những nhà lãnh đạo tôn giáo và chính quyền địa phương. Trong một chuyến thăm kéo dài đến Hà Nội vào tháng 3 năm 2005. Đại sứ lưu động phụ trách về Tự do Tôn giáo Quốc tế cùng với Phái bộ Mỹ tại Việt Nam đã gặp các quan chức chính phủ cao cấp của bốn bộ và tiến hành thảo luận về những bước tiếp theo sau khi đã liệt kê là một nước cần quan tâm đặc biệt. Trong các cuộc thảo luận này, các quan chức chính phủ đã giải thích chế độ pháp luật mới ít hạn chế hơn mà chính phủ đã ban hành để quản lý tôn giáo tại Việt Nam sau sự liệt kê trên. Ngoài ra, các quan chức chính phủ đã đồng ý về chi tiết bằng văn bản các biện pháp mà chính phủ thi hành để đảm bảo rằng những đạo luật này được thực hiện trong toàn quốc.
 
Giám đốc Cao cấp Hội đồng An ninh Quốc gia phụ trách về châu Á và Thứ trưởng Ngoại giao phụ trách về Dân chủ Nhân quyền và Lao động cũng đã nêu những vấn đề tự do tôn giáo với các quan chứng chính phủ tại Việt Nam trong thời kỳ chuẩn bị bản báo cáo này. Ngài Đại sứ, Ngài Tổng lãnh sự tại Thành phố Hồ Chí Minh và các quan chức khác ở Sứ quán và Lãnh sự Hoa Kỳ đã nêu các vấn đề tự do tôn giáo với các thành viên hội đồng Chính phủ Việt Nam, kể cả Thủ tướng, hai Phó thủ tướng, Bộ trưởng ngoại giao, các quan chức cao cấp khác của chính phủ, Người đứng đầu văn phòng các vấn đề Tôn giáo, các Thứ trưởng Bộ Ngoại giao và An ninh xã hội các quan chức văn phòng Ngoại vụ thuộc Bộ Ngoại giao ở Thành phố Hồ Chí Minh, các chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh trong cả nước, và các quan chức khác, đặc biệt tại Cao nguyên Trung Bộ và Cao Nguyên Tây Bắc, các quan chức Sứ quán và Tổng lãnh sự thường xuyên duy trì tiếp xúc với các cơ quan chủ yếu của chính phủ có trách nhiệm quan tâm đến nhân quyền. Các quan chức Sứ quán và Tổng lãnh sự nhiều lần đã thông báo với các quan chức chính phủ rằng tiến triển về nhân quyền và tự do tôn giáo còn thiếu là một cản trở quan trọng trong quan hệ song phương.
 
Ngài Đại sứ và các quan chức đoàn ngoại giao Hoa Kỳ đã lưu ý việc thừa nhận công khai hơn các nhóm tôn giáo, kể cả các thành viên của Giáo Hội phật giáo thống nhất Việt Nam các Hội thánh tin lành tại gia và các giáo phái Hòa Hảo và Cao Đài không theo nhà thờ chính thống. Họ đã yêu cầu tự do hơn cho các nhóm tôn giáo đã được thừa nhận. Ngài Đại sứ và các quan chức Hội Truyền giáo khác đã nhiều lần ủng hộ việc chấm dứt các biện pháp ngăn cản đối với Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ và một số người khác. Ngài Đại sứ còn yêu cầu chính phủ điều tra những hành vi được coi là đối xử tàn tệ với các tín đồ tôn giáo và trừng phạt bất cứ quan chức nào có liên đới. Họ cùng với Ngài Đại sứ lưu động về Tự do Tôn giáo và Phó trợ lý Ngoại trưởng về Dân chủ Nhân quyền và Lao động tiếp tục yêu cầu ngừng việc cưỡng bức các tín đồ và trừng phạt các quan chức có liên quan, và đề nghị đăng ký và mở cửa lại các hội thánh tại gia đã bị đóng cửa.
 
Đại diện của Sứ quán và Tổng lãnh sự thường tiếp xúc với các lãnh đạo của các cộng đồng tôn giáo chính, bao gồm Phật giáo, Công giáo, Đạo tin lành, Cao Đài, Hòa Hảo và Đạo Hồi. Trong tháng 11 năm 2004, Ngài Đại sứ đã gặp giáo trưởng Giáo hội phật giáo Thống nhất Việt Nam Thích Huyền Quang trong tình trạng giáo trưởng như đang bị quản thúc tại chùa của ông ta, và trong tháng 12, ngài Đại sứ đã gặp thượng tọa Giáo hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam Thích Quảng Độ. Các quan chức Tổng lãnh sự đã duy trì tiếp xúc thường xuyên với hai vị này và các thượng tọa Phật giáo khác trong Giáo hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam. Các quan chức Sứ quán và Tổng lãnh sự đã gặp Hồng y Giáo chủ tại Thành phố Hồ Chí Minh, các tổng giám mục công Giáo ở Huế và Hà Nội và các Giám mục ở Gia Lai, Kontum, Cần Thơ, Lạng Sơn, Buôn Ma Thuột và Hải Phòng cũng như các thành viên khác ở Hội nghị Giám mục. Các quan chức Sứ quán và Tổng lãnh sự cũng nhiều lần gặp gỡ với các lãnh đạo nhà thờ Thánh Tin lành và các lãnh đạo cộng đồng Hồi giáo. Trong chuyến đi ra ngoài Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, các quan chức Sứ quán và Tổng lãnh sự thường làm việc với ủy ban về các vấn đề tôn giáo tỉnh, các trưởng làng, tăng lữ địa phương và các tín đồ.
 
Sức ép của Chính phủ Mỹ có thể có tác động trực tiếp trong một số trường hợp cầm tù vì lý do tôn giáo. Mười ba cá nhân được Mỹ nêu ra là những tù nhân có liên quan đến những lý do về tín ngưỡng đã được Chính phủ Việt Nam thả tự do trong thời gian báo cáo này được tường trình. Nói rộng ra, một vài nguồn tin tôn giáo đã viện ra có sự can thiệp ngoại giao, ban đầu là từ Mỹ, như là lý do tại sao Chính phủ đang tìm cách hợp pháp hóa nhiều nhóm tôn giáo hơn nữa và cho phép các nhóm đã được hợp pháp hóa này nhiều tự do hơn.

 

lên đầu trang ^

Công cụ:

Printer_icon.gif In trang này

- Báo cáo về tự do tôn giáo quốc tế năm 2005 -

Bản tiếng Anh




 

    Trang Web này được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ quản lý.
    Chúng tôi không chịu trách nhiệm về nội dung và tính bảo mật thông tin của các trang Web khác được liên kết đến.


Đại sứ quán Hoa Kỳ