jump over navigation bar
Embassy SealBộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Đại sứ quán Hoa Kỳ - Hanoi, Vietnam flag graphic
Thông tin cập nhật
 
  Trung tâm Thông tin Tư liệu Các dịch vụ của IRC Dịch vụ Reference Update Tư liệu dịch Kinh tế & Thương mại An ninh khu vực Các vấn đề toàn cầu Báo chí, truyền thông và công nghệ thông tin Chính trị, xã hội và văn hóa Mỹ Các chương trình trao đổi giáo dục Quan hệ Mỹ-Việt Góc Nghiên cứu Việt Nam-Hoa Kỳ Học tập ở Hoa Kỳ Cơ hội xin viện trợ/học bổng Các hoạt động dành cho công chúng

Tư liệu dịch: Các vấn đề toàn cầu

BÁO CÁO VỀ TỰ DO TÔN GIÁO QUỐC TẾ NĂM 2007
Cục Dân chủ, Nhân quyền và Lao động , Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, công bố ngày 14/9/2007

LỜI TỰA BÁO CÁO 2007

Vì sao các báo cáo được soạn thảo

Báo cáo này được Bộ Ngoại giao đệ trình lên Quốc hội, theo quy định tại mục 102(b) của Đạo luật Tự do Tôn giáo Quốc tế (IRFA) ban hành năm 1998. Theo quy định của luật này, Ngoại trưởng Mỹ, với sự hỗ trợ của Đại sứ Lưu động về Tự do Tôn giáo Quốc tế, sẽ chuyển tới Quốc hội “Báo cáo Thường niên về Tự do Tôn giáo Quốc tế, bổ sung cho các báo cáo mới nhất về Nhân quyền với những thông tin chi tiết về các vấn đề liên quan tới tự do tôn giáo quốc tế”.

Báo cáo được soạn thảo như thế nào

Để chuẩn bị các dự thảo báo cáo đầu tiên, các đại sứ quán Mỹ thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm các quan chức chính phủ và chức sắc tôn giáo, các tổ chức phi chính phủ, các nhà báo, các nhà hoạt động nhân quyền, các nhóm tôn giáo và các học viện. Việc thu thập thông tin như vậy có thể rất mạo hiểm. Cán bộ ngoại giao Hoa Kỳ thường phải nỗ lực hết mình, đôi khi phải ở trong những hoàn cảnh rất nguy hiểm để tiến hành điều tra báo cáo về lạm dụng nhân quyền, giám sát các cuộc bầu cử, và hỗ trợ những người gặp nguy hiểm vì tín ngưỡng, tôn giáo của họ.

Văn phòng Tự do Tôn giáo Quốc tế phối hợp thu thập và phân tích thông tin cho báo cáo về tình hình từng nước, dựa trên nguồn tin của các văn phòng khác trong Bộ Ngoại giao, các tổ chức tôn giáo, các tổ chức phi chính phủ khác, nguồn tin từ các quan chức chính phủ nước ngoài, đại diện Liên Hợp Quốc, các tổ chức và thể chế quốc tế và khu vực khác, các chuyên gia thuộc các học viện và giới truyền thông. Khi soạn thảo và biên tập báo cáo tình hình các nước, Văn phòng Tự do Tôn giáo Quốc tế cũng tham khảo ý kiến của các chuyên gia về các vấn đề phân biệt và ngược đãi tôn giáo, tham khảo các chức sắc tôn giáo thuộc mọi tín ngưỡng và các chuyên gia về luật pháp. Nguyên tắc chỉ đạo của Văn phòng là đảm bảo mọi thông tin liên quan được đánh giá khách quan, toàn diện và công bằng nhất có thể.

Bản báo cáo sẽ được các bộ, ngành, cơ quan trong Chính phủ Mỹ sử dụng để xây dựng chính sách, triển khai công tác ngoại giao, hỗ trợ, đào tạo và phân bổ các nguồn lực khác, đồng thời giúp xác định những nước vi phạm đặc biệt nghiêm trọng hoặc dung túng “những vi phạm đặc biệt nghiêm trọng” quyền tự do tôn giáo, để liệt vào danh sách những nước cần quan tâm đặc biệt.

Về việc sử dụng báo cáo

Khi báo cáo này khẳng định một chính phủ “nhìn chung là tôn trọng” quyền tự do tôn giáo trong giai đoạn báo cáo tường trình, có nghĩa là chính phủ đó đã cố gắng bảo vệ quyền tự do tôn giáo một cách đầy đủ nhất. Do vậy, cụm từ “nhìn chung là tôn trọng” thể hiện mức tôn trọng cao nhất đối với quyền tự do tôn giáo nêu tại báo cáo này. Cụm từ “nhìn chung là tôn trọng” được sử dụng vì việc bảo vệ và thúc đẩy quyền tự do tôn giáo là một nỗ lực liên tục, không thể nói một cách chính xác chính phủ nào tôn trọng đầy đủ quyền này trong cả năm thực hiện báo cáo, ngay cả trong những hoàn cảnh tốt nhất.

Lời cảm ơn

Báo cáo năm 2006 được thực hiện từ 1/7/2006 đến 30/6/2007, phản ánh một năm đầy nỗ lực của hàng trăm cán bộ và nhân viên ngoại giao tại Bộ Ngoại giao và các sứ quán Hoa Kỳ ở nước ngoài. Chúng tôi xin cảm ơn rất nhiều cán bộ Ngoại giao tại các sứ quán và lãnh sự quán của Hoa Kỳ ở nước ngoài vì đã giám sát và thúc đẩy quyền tự do tôn giáo, và theo dõi chi tiết tình hình tự do tôn giáo. Bên cạnh nỗ lực của họ, chúng tôi ghi nhận sự lao động miệt mài và cam kết không mệt mỏi đối với quyền tự do tôn giáo của nhân viên Văn phòng Tự do Tôn giáo Quốc tế, những người đã giúp hoàn thành bản báo cáo này, trong đó có Clarissa Adamson, Julia Becker, Judson Birdsall, Mary Anne Borst, Sandra Bunn-Livingstone, Cierra Burnett, Barbara Cates, Warren Cofsky, A. Jack Croddy, Doug Dearborn, Lauren Diekman, Augustine Fahey, Carrie Flinchbaugh, Maureen Gaffney, Albert Gombis, Noel Hartley, Caitlin Helfrich, Nancy Hewett, Olivia Hilton, Victor Huser, Emilie Kao, Justin Kern, Stephen Liston, Kathryn Lurie, Gwendolyn Mack, Courtney Magill, Safia Mohamoud, Joannella Morales, Aaron Pina, Danielle Polebaum, David Rodearmel, Deborah Schneider, Suzanne Sittichai, Rebecca Struwe, H. Knox Thames, and Gilberto Torresvela. Công việc của những cá nhân này thúc đẩy sự nghiệp tự do, đảm bảo độ chính xác của báo cáo và mang đến hy vọng cho những con người bị đàn áp trên toàn thế giới.

Giới thiệu báo cáo 2007

“Quyền tự do hành đạo quan trọng đối với nước Mỹ tới mức chúng ta muốn nắm ngay lấy nó khi những người khác bị tước đoạt. Đất nước chúng ta lên tiếng tiên phong nhân danh những người Do Thái bị kìm kẹp ở Liên Xô. Người Mỹ có chung sự nghiệp với các tín đồ Công giáo và Tin Lành - những người bí mật cầu nguyện sau Bức màn Sắt. Nước Mỹ sát cánh với người Hồi giáo tìm kiếm quyền tự do hành đạo ở những quốc gia như My-an-ma và Trung Quốc”.
-- Tổng thống Bush, 27/6/2007

Các nhà lập quốc của chúng ta quy định tự do tôn giáo là trụ cột trong hệ thống hiến pháp của nước Mỹ, ghi nhận quyền đó trong Điều sửa đổi đầu tiên của Hiến pháp gọi là Tuyên ngôn Nhân quyền. Rất nhiều trong số những người định cư đầu tiên đến đất nước ta đã phải trốn chạy đến Mỹ để tránh bị đàn áp tôn giáo; bởi vậy họ hiểu rất rõ tầm quan trọng của quyền tự do tôn giáo.

Ngay bên trên cổng chính vào Bộ Ngoại giao Mỹ là bức họa thể hiện rõ cam kết này. Bức tranh cỡ 50x12 foot này của Kindred McLeary thể hiện các quyền tự do hành đạo, tự do ngôn luận, tự do hội họp và tự do báo chí (một phần của bức họa xuất hiện trên trang bìa các tài liệu của báo cáo năm nay). Bức họa được hoàn thành năm 1942, đỉnh cao của một trong những thời kỳ nhiều thách thức nhất trong lịch sử nước Mỹ. Ngày nay, bức họa nhắc nhở chúng ta rằng, ngay cả ở những thời điểm đất nước bị thách thức và đe dọa, thì trọng tâm chính sách đối ngoại của chúng ta vẫn là bảo vệ và thúc đẩy các quyền tự do cơ bản, bắt đầu bằng quyền tự do hành đạo.

Hoa Kỳ không đơn độc khi cam kết thúc đẩy tự do tôn giáo. Cộng đồng quốc tế luôn khẳng định tự do tôn giáo là quyền cơ bản của con người. Tuyên bố đó có thể tìm thấy ở Điều 18 trong Tuyên ngôn Nhân quyền Toàn cầu, Điều 16 Văn kiện Ký kết Công ước Viên của Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu, Điều 12 trong Tuyên ngôn Nhân quyền châu Mỹ của Tổ chức các nước châu Mỹ, và Điều 9 Công ước Bảo vệ Nhân quyền và các Quyền tự do cơ bản của Hội đồng châu Âu.

Công ước Quốc tế của Liên Hợp Quốc về các quyền Dân sự và Chính trị đặc biệt có giá trị, vì quy định các quyền đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn Toàn cầu phải được tuân thủ. Điều 18 khẳng định: "Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng và tự do tôn giáo; bao gồm quyền tự do theo hoặc không theo một tôn giáo hoặc tín ngưỡng, và tự do biểu hiện tôn giáo hay tín ngưỡng của mình trong quá trình học tập, hành đạo, thờ cúng và lễ nghi, một mình hoặc cùng với những người khác, ở nơi công cộng hoặc nhà riêng”. Điều 18 còn khẳng định: “Không ai bị ép buộc làm ảnh hưởng tới quyền tự do theo hay không theo một tôn giáo hoặc tín ngưỡng mà họ lựa chọn”.

Thật không may là khi các cá nhân và cộng đồng đấu tranh vì quyền tự do tôn giáo thì các chính phủ lại phớt lờ các nghĩa vụ quốc tế của họ. Ở nhiều quốc gia, chính phủ từ chối công nhận và không bảo vệ quyền tự do tôn giáo, và hệ quả là hàng triệu người phải chịu thiệt thòi. Trong một số trường hợp, các tín đồ tôn giáo bị bỏ tù hoặc lạm dụng thân thể, chỉ vì can đảm thực hiện chính kiến của mình. Trong các trường hợp khác, họ bị tước quyền tự do lựa chọn tín ngưỡng và bày tỏ công khai tín ngưỡng đó. Ví dụ gần đây về mối đe dọa đối với quyền tự do này là xu hướng ban hành các luật mới, mỉa mai thay, mặc dù nhân danh khoan dung tôn giáo, nhưng các luật này lại cản trở việc thảo luận các quan điểm tôn giáo khác nhau trong phạm vi một tôn giáo hoặc giữa các tôn giáo, tín ngưỡng với nhau.

Phản ứng trước những mối đe dọa này và các mối đe dọa khác đối với quyền tự do tôn giáo, Quốc hội Mỹ năm 1998 đã ban hành Đạo luật Tự do Tôn giáo Quốc tế. Đạo luật tái khẳng định chính sách của Hoa Kỳ là “lên án các vụ vi phạm quyền tự do tôn giáo, thúc đẩy và hỗ trợ các chính phủ khác trong việc thúc đẩy quyền tự do tôn giáo-một quyền cơ bản”. Quan trọng nhất là Đạo luật này tuyên bố Hoa Kỳ sẽ đấu tranh vì tự do và sát cánh cùng những con người bị ngược đãi.

Đạo luật đã thành lập Văn phòng Tự do Tôn giáo Quốc tế (Văn phòng IRF) trực thuộc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và có nhiệm vụ thực hiện Báo cáo Thường niên về Tự do Tôn giáo Quốc tế. Báo cáo này đề cập tới tình hình trên toàn thế giới và là ấn phẩm toàn diện nhất về các vụ lạm dụng tự do tôn giáo và những cải thiện đối với quyền cơ bản này. Sản phẩm cuối cùng cho thấy các sứ quán, lãnh sự quán Mỹ ở nước ngoài và nhân viên Văn phòng IRF ở Washington đã phải dành biết bao thời gian để điều tra, thu thập tài liệu và phân tích. Kẻ mạnh, người yếu, nạn nhân bị ngược đãi tôn giáo và những người có khả năng sửa chữa bất công đó sẽ đọc Báo cáo Thường niên về Tự do Tôn giáo Quốc tế vì sự chi tiết, tỉ mỉ và phạm vi đề cập rộng của nó.

Đạo luật Tự do Tôn giáo Quốc tế cũng tạo ra chức Đại sứ Lưu động về Tự do Tôn giáo Quốc tế có trách nhiệm làm cố vấn chính cho Tổng thống và Ngoại trưởng Mỹ về việc thúc đẩy tự do tôn giáo trên toàn thế giới. Với sự ủng hộ của Văn phòng IRF và sự hợp tác của các quan chức Mỹ khác, vai trò của Đại sứ là lên tiếng nhân danh những người không có tiếng nói và bị đàn áp. Tôi và nhân viên của mình can dự với các chính phủ, dù đó là các chính phủ đồng minh hay kẻ thù, để nêu lên những quan ngại về tất cả các vụ vi phạm quyền tự do tôn giáo. Chúng tôi cũng hợp tác trong chính phủ Mỹ để đảm bảo rằng chính sách đối ngoại của Mỹ phản ánh cam kết có tính lịch sử của nước Mỹ đối với tự do tôn giáo.

Rất may mắn là đất nước và Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ được dẫn dắt bởi những con người có cam kết sâu sắc đối với vấn đề này. Cả Tổng thống Bush và Ngoại trưởng Rice đã rất nỗ lực để thúc đẩy quyền tự do tôn giáo trên toàn thế giới. Quốc hội cũng là một đồng minh kiên định trong việc phát hiện các vụ lạm dụng và khuyến khích cải thiện tình hình ở nhiều quốc gia. Các tổ chức phi chính phủ và các nhóm tôn giáo cũng đánh giá cao các đối tác trong sự nghiệp của chúng ta. Báo cáo thường niên lần thứ 9 về Tự do Tôn giáo Quốc tế là sự khẳng định cam kết của lãnh đạo và công dân chúng ta đối với vấn đề này.

Báo cáo Thường niên về Tự do Tôn giáo Quốc tế là sự phát triển tự nhiên của lịch sử đất nước và phản ánh các giá trị của chúng ta. Như Ngoại trưởng Rice đã nói: “Chúng ta phải nhớ rằng rất nhiều người chỉ có thể nói thầm với Chúa trong những nhà nguyện thầm lặng bởi họ sợ bị ngược đãi vì tín ngưỡng của mình”. Ngoại trưởng kết luận: “Đơn giản là Chính phủ không có quyền đứng trung lập giữa cá nhân và Đấng Tối cao”.

Đã có những tiến bộ đáng kể trong việc bảo vệ quyền tự do tôn giáo cả ở Mỹ và trên thế giới. Tuy nhiên, điều đáng buồn là vẫn còn nhiều cá nhân không được tự do hành đạo và phải chịu đau khổ vì tín ngưỡng của họ, có khi còn chịu cảnh bạo lực và ép buộc. Chính hiểu biết này thúc đẩy chúng ta thực hiện Báo cáo thường niên này và là động lực thôi thúc chúng ta cống hiến cho tới ngày mọi người dân đều được hưởng quyền cơ bản này.

John V. Hanford III, Đại sứ Lưu động về Tự do Tôn giáo Quốc tế

VIỆT NAM

Hiến pháp quy định quyền tự do hành đạo; tuy nhiên Chính phủ vẫn tiếp tục hạn chế các hoạt động có tổ chức của các nhóm tôn giáo.

Trong khoảng thời gian báo cáo này tường trình, đã có những cải thiện đáng kể đối với việc tôn trọng quyền tự do tôn giáo và hành đạo. Chính phủ triển khai mạnh mẽ Pháp lệnh Tôn giáo, Tín ngưỡng năm 2004 và các nghị định bổ sung về chính sách tôn giáo ban hành năm 2005 (khuôn khổ pháp lý tôn giáo của Chính phủ). Các giáo hội mới đã được đăng ký tại 64 tỉnh, thành trên cả nước; một số giáo đoàn được đăng ký ở cấp quốc gia; công dân nhìn chung được phép hành đạo một cách tự do hơn. Tình hình kinh tế đất nước được cải thiện cũng tạo điều kiện cho người dân được tự do hành đạo hơn và tiếp cận thoải mái hơn các nguồn lực. Tháng 11/2006, ghi nhận những “tiến bộ quan trọng này nhằm thúc đẩy quyền tự do tôn giáo”, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã đưa Việt Nam ra khỏi danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt (CPC) về tự do tôn giáo.

Mặc dù có những tiến bộ trong thời gian báo cáo này đề cập, song việc thực hiện khuôn khổ pháp lý về tôn giáo vẫn còn một số vấn đề, đó là sự chậm trễ - trong một số trường hợp còn không thực hiện - trong việc đăng ký các hội thánh Tin Lành ở miền Bắc và Tây Bắc Việt Nam; việc áp dụng không nhất quán các thủ tục đăng ký giáo đoàn và các quy định pháp luật khác; tiếp tục hạn chế gia nhập các giáo đoàn; khó khăn trong việc thành lập các trường dòng Công giáo và mở các khóa đào tạo mục sư Tin Lành; các khiếu kiện về việc tịch thu đất của một số giáo hội chưa được giải quyết. Một số chính quyền địa phương tỏ ra tích cực hơn, trong khi các chính quyền địa phương khác có vẻ như không quan tâm tới việc thực hiện một cách tích cực và nhất quán khuôn khổ pháp lý về tôn giáo như là một ưu tiên. Chính phủ bác bỏ việc bổ nhiệm hai giám mục Công giáo của Tòa thánh Vatican. Tuy nhiên, Giáo hội Công giáo báo cáo Chính phủ nhìn chung tiếp tục nới lỏng những hạn chế đối với việc bổ nhiệm giám mục mới, đồng thời cho biết họ đã bắt đầu bày tỏ với các giới chức chính phủ mong muốn thành lập thêm các trường dòng.

Chính phủ tiếp tục lo ngại rằng một số nhóm sắc tộc thiểu số ở Tây Nguyên đang điều hành một “Giáo hội Đề-ga”, có tin là tổ chức này kết hợp hành đạo với hoạt động chính trị và kêu gọi các nhóm sắc tộc thiểu số ly khai. Chính phủ cũng tăng cường hạn chế giới lãnh đạo của Giáo hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam không được công nhận (UBCV) và khẳng định sẽ không công nhận tổ chức này với ban lãnh đạo hiện nay. Chính phủ duy trì vai trò giám sát chủ chốt các tôn giáo được công nhận. Các nhóm tôn giáo gặp phải những hạn chế lớn nhất nếu tham gia vào các hoạt động mà Chính phủ cho là hoạt động chính trị hoặc thách thức quyền lực của chính phủ. Chính phủ tiếp tục cấm và hạn chế tham gia một giáo phái không được công nhận của Đạo Hòa Hảo. Giới chức chính phủ đã bỏ tù và tước mũ áo một số phật tử Khmer là người thiểu số vì đã tham gia vào các cuộc biểu tình chống Chính phủ ở đồng bằng sông Cửu Long hồi đầu năm 2007. Một số chức sắc tôn giáo, kể cả Cha Nguyễn Văn Lý và Mục sư Tin Lành Nguyễn Văn Đài, đã bị kết án tù vì hoạt động chính trị.

Tuy nhiên, xét tổng thể, việc tôn trọng quyền tự do tôn giáo đã được cải thiện trong khoảng thời gian báo cáo này tường trình. Việc tham gia các hoạt động tôn giáo trong cả nước tiếp tục gia tăng, và các tín đồ Tin Lành ở Tây Nguyên báo cáo là tình hình đã có tiến bộ đáng kể. Trong thời gian thực hiện báo cáo đã có khoảng 40 Hội thánh Tin Lành được đăng ký ở miền Bắc Việt Nam và hàng trăm ở miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, hàng trăm đơn đăng ký khác vẫn chưa được giải quyết, đặc biệt ở Tây Nguyên. Lần đầu tiên kể từ năm 1975, Chính phủ cho phép in Kinh thánh bằng ba thứ tiếng dân tộc ở Tây Nguyên. Trong thời gian thực hiện báo cáo, Đạo Tin Lành vẫn là tôn giáo phát triển nhanh nhất trên cả nước trong số sáu tôn giáo được công nhận - Đạo Phật, Đạo Hòa Hảo, Thiên chúa, Tin Lành, Đạo Cao Đài và Đạo Hồi.

Trong thời gian thực hiện báo cáo, Chính phủ đã cho đăng ký một số giáo đoàn mới, trong đó có Hội thánh Ngày thứ bảy, Hội thánh dòng Baptist Grace, Hội Sứ mệnh Thế giới Thống nhất, một giáo phái của dòng Menno-Hội thánh Baha’si và hai nhóm phật giáo nhỏ hơn- Nhóm Từ Ân Hiếu Nghĩa và Hội hành đạo tại gia.

Trong thời gian báo cáo tường trình, Ban Tôn giáo Chính phủ và các ban tôn giáo một số tỉnh (CRA) đã tích cực giải quyết những vấn đề và quan ngại liên quan đến tôn giáo. Ban Tôn giáo Chính phủ đã tổ chức một số chương trình tập huấn cho thành viên một số giáo đoàn về thủ tục đăng ký hợp pháp và các chương trình dành cho các địa phương nhằm hướng dẫn thực hiện khuôn khổ pháp lý về tôn giáo. Trong thời gian diễn ra Hội nghị Thượng đỉnh APEC và nhân chuyến thăm của Tổng thống George Bush tới Hà Nội tháng 11/2006, Tổng giáo phận Hà Nội và Hội thánh Tin Lành miền Bắc đã tổ chức buổi lễ tôn giáo đầu tiên của cả nước. Tháng 1/2007 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã thăm tòa thánh Vatican và gặp gỡ Giáo hoàng Benedict XVI. Tháng 3/2007 một phái đoàn chính thức từ Tòa thánh Vatican đã đến thăm Việt Nam.

Các tín đồ Tin Lành và Công giáo ở miền Bắc báo cáo đã có chuyển biến tốt trong thái độ của hầu hết cán bộ đối với tôn giáo của họ và nhìn chung các tín đồ Tin Lành và Công giáo được phép tụ tập để cầu nguyện mà không bị sách nhiễu, mặc dù vẫn có một số vụ lẻ tẻ xảy ra. Trong các ngày lễ Giáng sinh và Phục sinh nhìn chung trên cả nước không xảy ra vụ lộn xộn nào. Mùa thu 2006, Hội thánh Tin Lành miền Nam Việt Nam (SECV) báo cáo lễ tốt nghiệp của 219 mục sư được phong chức kể từ khi tổ chức này được công nhận năm 2001. Trong thời gian báo cáo này tường trình, Chính phủ hoan nghênh sự trở lại của Hòa thượng Thích Nhất Hạnh vì hàng loạt sự kiện “cầu nguyện vì mục đích hòa giải” ở Thành phố Hồ Chí Minh, Huế và Hà Nội.

Trong khoảng thời gian báo cáo này đề cập, không có vụ bạo lực hay trường hợp phân biệt đối xử nào trong xã hội vì lý do tôn giáo xảy ra.

Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội và Lãnh sự quán Mỹ tại Thành phố Hồ Chí Minh vẫn duy trì đối thoại tích cực và thường xuyên với các quan chức cấp cao cũng như các quan chức chuyên trách của Chính phủ Việt Nam nhằm thúc đẩy tự do tôn giáo hơn nữa. Các quan chức Hoa Kỳ cũng gặp gỡ và tiếp xúc thường xuyên với các chức sắc tôn giáo, kể cả các nhà hoạt động tôn giáo nằm trong danh sách theo dõi của Chính phủ Việt Nam. Đại sứ Mỹ và các quan chức Mỹ khác, kể cả Đại sứ Lưu động về Tự do Tôn giáo Quốc tế, đều bày tỏ lo ngại với Thủ tướng, Phó Thủ tướng, các thành viên chính phủ, lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam (CPV) và các quan chức địa phương khác về việc các tổ chức tôn giáo gặp khó khăn trong việc đăng ký và được công nhận, những khó khăn mà các tín đồ Tin Lành ở Tây Nguyên và vùng núi Tây Bắc phải đối mặt và những hình thức hạn chế tự do tôn giáo khác. Trong các buổi hội kiến với những người đồng nhiệm trong cả năm, Tổng thống Bush và Ngoại trưởng Rice đều kêu gọi cải thiện hơn nữa quyền tự do tôn giáo. Tự do tôn giáo cũng được đề cập đến trong Đối thoại Nhân quyền song phương Mỹ-Việt năm 2007.

Tháng 9/2004, Ngoại trưởng Mỹ lúc đó là ông Colin Powell, đã đưa Việt Nam vào danh sách "các nước cần đặc biệt quan tâm" (CPC) căn cứ theo Đạo luật Tự do Tôn giáo Quốc tế vì Việt Nam vi phạm đặc biệt nghiêm trọng quyền tự do tôn giáo. Tháng 11/2006, Ngoại trưởng Rice đã đưa Việt Nam ra khỏi danh sách trên, ghi nhận Việt Nam “không còn là quốc gia vi phạm nghiêm trọng quyền tự do tôn giáo” như quy định trong Đạo luật.

Mặc dù giới truyền thông quốc tế đưa tin về các vụ bắt giam một số nhân vật bất đồng chính kiến hồi đầu năm 2007, song tất cả các cá nhân mà Mỹ nêu là tù nhân cần quan tâm vì những lý do liên quan đến tín ngưỡng của họ đều đã được Chính phủ trả tự do. Một số nguồn tin tôn giáo cho biết sự can thiệp về ngoại giao, chủ yếu từ phía Mỹ, là lý do khiến Chính phủ muốn hợp pháp hóa nhiều nhóm tôn giáo hơn nữa.

Phần I. Các tôn giáo

Việt Nam có diện tích khoảng 127.000 dặm vuông với dân số khoảng 83,5 triệu người. Ước tính cho thấy khoảng hơn một nửa dân số theo Đạo Phật. Giáo hội Công giáo chiếm 8-10% dân số, một số tổ chức của đạo Cao Đài chiếm 1,5-3% dân số, một tổ chức của giáo phái Hòa Hảo chiếm 1,5-4% dân số, hai tổ chức đạo Tin Lành chiếm 0,5-2% dân số, và một tổ chức Hồi giáo chiếm chưa đầy 0,1% dân số. Còn lại phần lớn công dân tự nhận mình không theo tôn giáo nào, mặc dù nhiều người trong số họ vẫn giữ các tín ngưỡng truyền thống như thờ cúng tổ tiên và các anh hùng dân tộc.

Phật giáo là tôn giáo chính. Các phật tử đã hành lễ hỗn hợp của Phật giáo Đại thừa (Mahayana Buddhism), đạo Lão, Nho giáo mà đôi khi được gọi là “tam giáo”. Ban Tôn giáo Chính phủ ước tính khoảng 12% dân số (10 triệu người) theo Phật giáo Đại thừa, phần lớn là người Kinh, sống ở khắp nơi trên cả nước, đặc biệt là các khu vực đông dân cư ở đồng bằng châu thổ phía bắc và nam. Ở một số khu vực cao nguyên có ít các phật tử hơn, mặc dù việc người Kinh di cư đến các vùng này đang phần nào làm thay đổi sự phân bố. Nhóm người Khơ-me thiểu số ở miền Nam theo Phật giáo dòng Nam tông. Với số lượng khoảng hơn 1 triệu người, hầu hết họ sống tập trung ở châu thổ sông Cửu Long.

Ước tính có khoảng 6 đến 8 triệu tín đồ Công giáo La Mã ở Việt Nam, mặc dù thống kê chính thức của Chính phủ là 5,9 triệu. Tín đồ Công giáo sinh sống trên khắp mọi miền đất nước, nhưng tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Nam xung quanh Thành phố Hồ Chí Minh, một vài nơi ở Tây Nguyên và ở các tỉnh phía Đông Nam Hà Nội. Trong những năm gần đây, Công giáo đã được khôi phục lại ở nhiều khu vực với nhiều nhà thờ được xây mới hoặc cải tạo lại, và số tín đồ ngày một gia tăng.

Theo con số thống kê chính thức của Chính phủ có 2,3 triệu tín đồ theo đạo Cao Đài, mặc dù các chức sắc đạo Cao Đài thường xuyên khẳng định phải có tới 4 triệu tín đồ. Các nhóm đạo Cao Đài hoạt động sôi nổi nhất ở tỉnh Tây Ninh, nơi có thánh tượng “Thiên Nhãn”, ở Thành phố Hồ Chí Minh và đồng bằng sông Cửu Long. Đạo Cao Đài có 13 giáo phái riêng biệt với giáo phái lớn nhất là phái Tây Ninh, chiếm hơn một nửa tín đồ đạo Cao Đài. Đạo Cao Đài là một sự dung hợp các yếu tố của nhiều đức tin khác nhau.

Theo Chính phủ, có khoảng 1,2 triệu tín đồ theo giáo phái Hòa Hảo, trong khi con số do những chi nhánh hải ngoại thống kê lên tới 3 triệu. Các tín đồ giáo phái Hòa Hảo tập trung ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là ở các tỉnh như An Giang và Đồng Tháp, nơi giáo phái Hòa Hảo nổi trội với tư cách một lực lượng xã hội, chính trị, và quân sự trước năm 1975. Ban Trị sự Hòa Hảo (HHAC) được Chính phủ công nhận thành lập năm 1999. Một số tín đồ Hòa Hảo theo các chi phái không được công nhận chính thức khác.

Hai hội thánh Tin Lành được chính thức công nhận là Hội thánh Phúc âm miền Nam Việt Nam (Tổng hội Hội thánh Tin Lành miền Nam-SECV), và Hội thánh Phúc âm miền Bắc Việt Nam nhỏ hơn (Tổng hội Hội thánh Tin Lành miền Bắc-ECVN). Ước tính số tín đồ Tin Lành trong cả nước dao động từ 500 nghìn -theo con số chính thức của Chính phủ - đến 1,6 triệu theo ước tính của các nhà thờ. Ước tính trong thập kỷ qua, số lượng tín đồ Tin Lành tăng 600%, bất chấp những quy định ngặt nghèo của Chính phủ đối với hoạt động cải đạo và các hoạt động khác của giáo hội. Một số tín đồ cải đạo mới này thuộc các hội thánh tại gia không đăng ký. Theo tính toán của các tín đồ, 2/3 tín đồ Tin Lành là người dân tộc thiểu số như dân tộc H’mông, Dao, Thái và các nhóm thiểu số khác vùng Tây Bắc và Tây Nguyên (Ê-đê, Gia-rai, Mơ-nông và các dân tộc khác).

Các nhà thờ Hồi giáo, phục vụ một lượng tín đồ Hồi giáo ít ỏi ở Việt Nam, ước tính có khoảng 50 đến 80 nghìn người hành đạo ở tỉnh miền tây An Giang, Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và các tỉnh duyên hải miền Nam. Chính phủ chính thức ước tính có khoảng 67 nghìn tín đồ Hồi giáo. Cộng đồng người Hồi giáo chủ yếu là người dân tộc Chăm, tuy nhiên ở Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh An Giang, có cả một số người thuộc các dân tộc khác của Việt Nam và dân di cư từ Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a và Ấn Độ. Khoảng một nửa tín đồ Hồi giáo ở Việt Nam theo dòng Sunni, tập trung ở năm vùng trên cả nước. Khoảng 15.000 người sống ở huyện Tân Châu, tỉnh An Giang giáp biên giới Căm-pu-chia. Gần 3.000 người sống ở tỉnh Tây Ninh, cũng giáp biên giới Căm-pu-chia. Hơn 5.000 người ở Thành phố Hồ Chí Minh, trong đó có 2.000 người ở tỉnh giáp ranh Đồng Nai. Khoảng 5.000 người nữa ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ Ninh Thuận và Bình Thuận. Số tín đồ Hồi giáo còn lại theo đạo Chăm Bàni- một đạo Hồi riêng biệt của người Chăm ở miền biển Trung Bộ.

Còn một số cộng đồng tôn giáo nhỏ khác, lớn nhất trong số đó là cộng đồng người Hindu. Có khoảng 50.000 người Chăm ở miền duyên hải Nam Trung Bộ theo đạo Hindu. Khoảng 4.000 người Hindu khác sống ở Thành phố Hồ Chí Minh, một số là dân tộc Chăm, nhưng phần lớn là người Ấn Độ hoặc thế hệ lai Việt-Ấn.

Uớc tính có khoảng 6.000 tín đồ theo đạo Baha’i, phần lớn tập trung ở miền Nam. Theo các chức sắc của đạo Baha’i thì trước năm 1975 đạo này có khoảng 200 nghìn tín đồ. Nhưng trong giai đoạn 1975-1992, việc hành đạo công khai bị cấm và số tín đồ vì thế cũng giảm mạnh trong giai đoạn này.

Có khoảng vài trăm tín đồ của Giáo phái chủ trương cánh chung của Thánh Ðồ Giêsu Kitô (hay còn gọi là giáo phái Mormon) sống rải rác khắp Việt Nam, nhưng phần lớn sống ở Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội.

Ít nhất có 10 giáo đoàn với số lượng khoảng vài trăm tín đồ mỗi giáo đoàn, thuộc phái Những nhân chứng của Giê-hô-va đang hoạt động nhưng không được công nhận chính thức. Phần lớn những giáo đoàn này ở miền Nam với 5 giáo đoàn ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Khoảng 14 triệu người, chiếm khoảng 17% dân số hoặc hơn, cho biết là họ không theo một tôn giáo có tổ chức nào cả. Một số nguồn tin khác cho rằng những người chỉ đi lễ vào những ngày lễ hội thì không phải là phật tử. Theo định nghĩa này thì số người không theo đạo sẽ cao hơn nữa, có thể lên đến 50 triệu. Không có số liệu nào thống kê về mức độ tham gia vào các nghi lễ tôn giáo chính thức, nhưng người ta cho rằng con số này vẫn tiếp tục tăng lên từ đầu những năm 1990.

Các dân tộc thiểu số chiếm khoảng 14% dân số cả nước. Về lịch sử, các dân tộc thiểu số giữ những tín ngưỡng truyền thống khác với người Kinh. Nhiều người dân tộc thiểu số, đặc biệt là người H’mong, Dao và Gia Rai, đã cải đạo theo Tin Lành.

Các nhà truyền giáo không khai báo từ một vài quốc gia khác vẫn hoạt động ở Việt Nam. Các nhà truyền giáo nước ngoài không được ép người khác cải đạo hoặc tổ chức các họat động tôn giáo.

Phần II. Hiện trạng về tự do tôn giáo

Cơ sở pháp lý/chính sách

Hiến pháp, các văn bản pháp luật, và nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng năm 2003 về tôn giáo đều quy định công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Tuy nhiên, Chính phủ yêu cầu các tổ chức tôn giáo phải đăng ký tất cả các hoạt động và dùng quy định này để hạn chế hoạt động trong một số trường hợp. Hơn thế nữa, Chính phủ tiếp tục hạn chế đáng kể hoạt động có tổ chức của những nhóm tôn giáo độc lập và những cá nhân mà Chính phủ coi là mối đe dọa đối với quyền lực của Đảng.

Pháp lệnh mới về Tín ngưỡng, Tôn giáo, có hiệu lực từ tháng 11/2004 là văn bản pháp luật cơ bản quy định hoạt động tôn giáo. Pháp lệnh này khẳng định lại quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, có thể theo hoặc không theo một tôn giáo nào, và nghiêm cấm việc xâm phạm quyền tự do đó. Tuy nhiên, Pháp lệnh cũng nhấn mạnh việc “lợi dụng” tự do tín ngưỡng hoặc tôn giáo nhằm mục đích “phá hoại hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước” là phạm pháp và cảnh báo đình chỉ hoạt động tôn giáo nếu các hoạt động đó ảnh hưởng tiêu cực tới các truyền thống văn hóa của dân tộc.

Pháp lệnh này tiếp tục duy trì sự quản lý và giám sát của chính phủ đối với các tổ chức tôn giáo. Theo các quy định trong pháp lệnh, các giáo đoàn phải được chính thức công nhận hoặc đăng ký; các hoạt động và chức sắc của từng giáo đoàn phải được chính quyền cấp thấp hơn chấp thuận. Việc thành lập các trường dòng, tổ chức và tuyển sinh vào các lớp học phải được các cấp chính quyền phù hợp chấp thuận. Việc phong chức linh mục hoặc các chức sắc tôn giáo khác phải được phép của chính quyền chỉ khi có “yếu tố nước ngoài”, như Tòa thánh Vatican can thiệp. Pháp lệnh cũng đã nới lỏng ở một mức độ nhất định sự giám sát của chính phủ đối với tôn giáo. Chẳng hạn như, các tổ chức tôn giáo chỉ cần thông báo với các cấp chính quyền về hoạt động hàng năm của mình hoặc về việc phong chức hay thuyên chuyển giáo sĩ, trong khi trước đây những việc này phải được sự chấp thuận chính thức. Hơn nữa, Pháp lệnh cũng khuyến khích các nhóm tôn giáo tổ chức các hoạt động từ thiện trong lĩnh vực y tế và giáo dục, hai lĩnh vực trước đây bị hạn chế.

Tháng 2/2005, Thủ tướng ban hành “Chỉ thị về một số công tác đối với đạo Tin Lành”, kêu gọi các cấp chính quyền hỗ trợ các giáo hội Tin Lành được công nhận xây dựng nhà thờ, đào tạo và bổ nhiệm mục sư, đồng thời chỉ đạo các cấp chính quyền phải giúp đỡ những giáo đoàn chưa được công nhận đi đăng ký để họ có thể hành đạo công khai, tiến tới đáp ứng các yêu cầu để được công nhận đầy đủ. Chỉ thị hướng dẫn các cấp chính quyền ở Tây Nguyên và Tây Bắc giúp đỡ các nhóm tín đồ Tin Lành đăng ký các hoạt động tôn giáo và hành đạo tại gia hoặc tại những “địa điểm phù hợp”, ngay cả khi “họ chưa đáp ứng đủ điều kiện để thành lập một giáo đoàn chính thức. Chỉ thị cũng hướng dẫn cán bộ địa phương cho phép các “nhà thờ tại gia” chưa đăng ký được hoạt động nếu họ “cam kết tuân thủ các quy định” và họ không liên kết với các phong trào chính trị ly khai.

Tháng 3/2005, Chính phủ ra nghị định hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo (Nghị định số 22). Như trong Pháp lệnh, Nghị định nghiêm cấm việc cưỡng ép bỏ đạo. Nghị định cũng quy định chi tiết thủ tục để một tổ chức tôn giáo chưa được công nhận có thể đăng ký nơi thờ tự, giới giáo sĩ, các hoạt động của tổ chức, và từ đó có thể hoạt động công khai. Nghị định còn hướng dẫn thủ tục để các nhóm tôn giáo này đăng ký để được Chính phủ công nhận chính thức và hưởng thêm các quyền khác. Theo quy định cụ thể trong Nghị định, một tổ chức tôn giáo phải có 20 năm “hoạt động tôn giáo ổn định” ở Việt Nam mới được Chính phủ công nhận chính thức, và các hoạt động trong quá khứ có thể được tính để đạt được mức yêu cầu 20 năm. Nghị định còn quy định khung thời gian cụ thể Chính phủ xét đơn của các tổ chức tôn giáo, và yêu cầu cán bộ chuyên trách phải có giải trình bằng văn bản đến các tổ chức tôn giáo nếu đơn của họ bị từ chối.

Nghị định Hướng dẫn thi hành số 22 quy định rõ những thủ tục mà các tổ chức tôn giáo và từng giáo đoàn phải thực hiện để được chính thức công nhận. Về nguyên tắc, các giáo đoàn được công nhận sẽ được phép mở cửa, hoạt động và cải tạo lại nơi thờ tự, đào tạo chức sắc tôn giáo, và xin phép xuất bản tài liệu. Để được công nhận chính thức, trước hết giáo đoàn phải đăng ký ở cấp quốc gia. Theo khuôn khổ pháp lý, một tổ chức tôn giáo phải trải qua ba giai đoạn mới được đăng ký ở cấp quốc gia. Thứ nhất, tổ chức đó phải phải đệ đơn và được chấp thuận đăng ký ở khu vực hành chính địa phương nơi tổ chức hoạt động. Việc đăng ký yêu cầu giáo đoàn phải gửi thông tin lên các cấp chính quyền liên quan về cơ cấu, lãnh đạo và hoạt động của giáo đoàn. Chính quyền có 45 ngày để chất vấn hoặc nêu quan ngại. Đăng ký ở cấp quốc gia mất 60 ngày. Ban Tôn giáo Chính phủ phải cấp giấy phép trước khi một tổ chức được xem xét đăng ký. Khi một giáo đoàn được đăng ký ở địa phương, giáo đoàn đó có thể xin đăng ký ở cấp tỉnh và trung ương. Sau khoảng thời gian chờ đợi tối thiểu là một năm, một tổ chức đủ điều kiện có thể đệ đơn xin công nhận chính thức và phải được Chính phủ chấp thuận về lãnh đạo, cơ cấu và phạm vi hoạt động.

Nghị định 22 còn quy định cụ thể rằng các cấp chính quyền phải có trả lời bằng văn bản đối với các đơn xin công nhận chính thức trong vòng 30, 45, 60 hoặc 90 ngày tùy theo mức yêu cầu. Tuy nhiên, hiếm khi các cán bộ Chính phủ tuân thủ quy định khung thời hạn này. Trong trường hợp bị từ chối, văn bản phúc đáp phải nêu rõ lý do từ chối, tuy nhiên có vẻ như quy định này cũng không được áp dụng một cách có hệ thống. Hơn thế nữa, Pháp lệnh không quy định một cơ chế cụ thể nào về việc xem xét lại, cũng như không nêu rõ lý do từ chối bằng một cách nào đó cụ thể.

Ban Tôn giáo Chính phủ có nhiệm vụ phổ biến thông tin về khung pháp lý mới đến cơ quan chức năng các cấp từ cấp tỉnh, quận, huyện, đến thôn xã và đảm bảo sự tuân thủ thống nhất theo khung pháp lý mới này. Việc triển khai khung pháp lý mới ở cấp dưới còn chưa đầy đủ và chính xác. Tuy nhiên, trong thời gian báo cáo này đề cập, chính quyền trung ương và tỉnh đã tổ chức một số khóa tập huấn cho cán bộ cấp dưới về các điều luật mới để đảm bảo là họ hiểu và tuân thủ đúng khung pháp lý này. Chính quyền ở một số khu vực đã tích cực huy động các chức sắc tôn giáo thực hiện những thay đổi mới, đặc biệt là trong việc đăng ký cho các nhóm Tin Lành và mở lại các nhà thờ bị đóng cửa ở Tây Nguyên. Chính quyền ở các khu vực khác, đặc biệt ở vùng núi Tây Bắc, ít chủ động hơn trong việc áp dụng những quy định mới của cấp Trung ương, mặc dù điều kiện hoạt động của các tín đồ Tin Lành ở khu vực này nhìn chung đã được cải thiện trong thời gian nêu trong báo cáo này.

Các điều khoản về an ninh quốc gia và đoàn kết dân tộc trong Hiến pháp không đề cập tới pháp luật và quy định về quyền tự do tôn giáo, và có tin là những quy định này được dùng để ngăn chặn các buổi tụ họp tôn giáo và sự phổ biến tôn giáo trong các nhóm sắc tộc nhất định. Bộ Luật hình sự sửa đổi năm 1997 quy định các hình phạt đối với tội danh được định nghĩa rất mơ hồ, trong đó có tội “cố ý phá hoại sự đoàn kết dân tộc” thông qua “chia rẽ những người theo đạo và không theo đạo”. Trong quá khứ, các chính quyền viện dẫn Điều 258 của Bộ Luật hình sự để buộc tội những người hành đạo bất hợp pháp. Điều này cho phép bỏ tù tới 3 năm vì tội “lạm dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác để xâm phạm lợi ích Nhà nước”. Trong thời gian báo cáo này tường trình, Điều 258 không được viện dẫn để cản trở việc hành đạo.

Chính phủ không chính thức ưu tiên một tôn giáo cụ thể nào và hầu hết các cán bộ cấp cao của Đảng và Chính phủ, cũng như phần lớn các đại biểu Quốc hội đều chính thức “không theo tôn giáo nào”. Tuy nhiên nhiều quan chức Đảng và Chính phủ vẫn công khai thờ cúng tổ tiên và đi lễ tại các chùa Phật giáo. Vị thế nổi trội mang tính truyền thống của đạo Phật không gây ảnh hưởng tiêu cực đến quyền tự do tôn giáo của người khác, kể cả những người không muốn theo một tôn giáo nào cả.

Chính phủ chính thức công nhận các tổ chức Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Hòa Hảo, Cao Đài và Hồi giáo. Giáo phái Baha’i được đăng ký ở cấp quốc gia năm 2007, như vậy đủ điều kiện để đệ đơn xin công nhận chính thức vào năm 2008. Các giáo đoàn đơn lẻ trong các nhóm tôn giáo này cũng phải đăng ký. Một số chức sắc và tín đồ của các tổ chức Phật giáo, Tin Lành, Hòa Hảo và Cao Đài khác không tham gia vào các hiệp hội tôn giáo được Chính phủ chấp thuận.

“Sách Trắng” về tôn giáo của Chính phủ báo cáo cho đến cuối năm 2006, Chính phủ đã cho đăng ký 718 nơi thờ tự của SECV và chính thức công nhận 67 giáo đoàn SECV và 71 mục sư của SECV.

Trong thời gian báo cáo này tường trình, Chính phủ tiến hành cho đăng ký thí điểm khoảng 40 giáo đoàn của ECVN tại 9 tỉnh miền Bắc. Ban Tôn giáo Chính phủ khẳng định chương trình đăng ký thí điểm là “một bước quan trọng nhằm tránh mâu thuẫn và phức tạp có thể xảy ra trong các gia đình và cộng đồng có thể ảnh hưởng tiêu cực tới đời sống ổn định của người dân thường”. Hơn thế nữa “kết quả đạt được ở các tỉnh... của miền Bắc Việt Nam đã định hướng và sẽ tiếp tục định hướng cho những người theo đạo và các nhóm đăng ký các hoạt động của họ phù hợp với Chỉ thị của Thủ tướng”. Đến cuối năm 2006, Chính phủ thông báo đã đăng ký 16 tổ chức tôn giáo thuộc 6 tôn giáo theo khuôn khổ pháp lý mới.

Việt Nam không có ngày lễ tôn giáo quốc gia.

Những biện pháp hạn chế tự do tôn giáo

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được Hiến pháp quy định tiếp tục được giải thích và thực hiện không đồng bộ. Ở một số vùng, cán bộ địa phương cho phép các tín đồ được tự do hơn; ở một số tỉnh khác thành viên các nhóm tôn giáo không được công nhận đôi khi bị cán bộ địa phương sách nhiễu. Hành động của chính phủ và trở ngại từ bộ máy công quyền dẫn đến những hạn chế đối với quyền tự do và sự phát triển của tôn giáo, mặc dù ở nhiều nơi, các phật tử, các tín đồ Công giáo, đạo Tin Lành, đạo Hòa Hảo, đạo Cao Đài và bản thân Chính phủ đều cho biết có sự gia tăng trong các hoạt động tôn giáo và tuân thủ quyền tự do tôn giáo. Các tổ chức tôn giáo được chính thức công nhận gặp khó khăn trong việc nhận tài liệu giảng dạy, mở rộng cơ sở đào tạo, xây dựng nơi thờ tự mới, xuất bản tài liệu tôn giáo, mở rộng đào tạo giới tăng lữ do yêu cầu ngày càng tăng từ các giáo đoàn. Tuy nhiên, so với những năm trước Chính phủ tiếp tục nới lỏng những biện pháp hạn chế này.

Do thiếu quy trình pháp lý đúng đắn và sự kiểm soát thiếu nhất quán cao độ, nên hoạt động của người theo đạo phụ thuộc vào cán bộ địa phương trong phạm vi thẩm quyền của họ. Trong một số trường hợp, có tin là cán bộ địa phương nói với các chức sắc tôn giáo rằng luật của nhà nước không áp dụng đối với thẩm quyền của họ. Trong các trường hợp khác, cùng một luật nhưng các tỉnh lại áp dụng theo cách khác nhau. Ví dụ, tỉnh Gia Lai ở Tây Nguyên theo sát các chính sách của Chính phủ và đăng ký tất cả “các điểm tụ họp” của SECV trong tỉnh, làm chậm lại khả năng họ được công nhận trong tương lai. Trong khi đó tại các tỉnh giáp ranh là Đắc Lắc và Bình Phước, nhiều “điểm tụ họp” của SECV vẫn chưa được đăng ký. Trong một số trường hợp, các nhóm Tin Lành được công nhận và chưa được công nhận tránh được sự sách nhiễu ở địa phương và bác bỏ những quyết định tiêu cực của địa phương khi họ thỉnh cầu lên chính quyền cấp cao hơn.

Trong giai đoạn báo cáo này tường trình vẫn còn những hạn chế đối với việc phát triển và đào tạo tôn giáo, trong đó có cản trở đối với việc đăng ký các giáo đoàn Tin Lành ở miền Bắc Việt Nam, khiếu nại về tài sản của ECVN chưa được giải quyết gây trở ngại cho việc xây dựng một trung tâm đào tạo mục sư, chính quyền tỉnh Điện Biên không đăng ký được giáo khu Công giáo ở địa phương, chính quyền tỉnh Hà Giang không trao quyền cư trú hợp pháp cho một linh mục ở giáo khu, những hạn chế của chính quyền tỉnh Thừa Thiên-Huế đối với việc tuyển mộ tại trường dòng và giải quyết khiếu nại tài sản của Giáo hội dòng Baptist, và những hạn chế về pháp lý đối với việc cải đạo. Ở một số tỉnh, các nhà thờ tại gia được yêu cầu phải cung cấp danh sách tất cả những người hành đạo - một phần trong quá trình đăng ký hoạt động - điều này trái với khuôn khổ pháp lý về tôn giáo. Hiện tượng này có vẻ diễn ra phổ biến ở đồng bằng sông Cửu Long nhưng cũng rất đáng lưu ý ở các vùng khác trên cả nước, kể cả ở tỉnh Thanh Hóa - Bắc trung bộ. Trong một số trường hợp các chính quyền đã bỏ yêu cầu này sau khi bị các nhóm đăng ký phản đối; trong một số trường hợp khác yêu cầu này vẫn được giữ nguyên, ngăn cản quá trình đăng ký.

Chính phủ vẫn tiếp tục cấm và không khuyến khích việc tham gia vào những tổ chức tôn giáo chưa được công nhận, bao gồm Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (UBCV) và một số nhóm Tin Lành, Hòa Hảo và Cao Đài.

Chính phủ yêu cầu tất cả các nhà sư phải được chấp thuận và hoạt động trong khuôn khổ của Giáo hội Phật giáo Việt Nam - tổ chức được công nhận chính thức. Số lượng các học viên Phật giáo do Ban Tôn giáo quản lý và giới hạn, mặc dù số lượng các học viện Phật giáo ở các tỉnh và địa phương tăng lên nhiều trong những năm gần đây ngoài một số học viện tương đương với trường đại học.

Ở Đồng bằng sông Cửu Long, các nguồn tin đáng tin cậy cho biết ít nhất 10 hòa thượng Khme đã bị tước áo mũ và bị phạt, bị giam hoặc bị bắt tại chùa vì đã tham gia vào một cuộc biểu tình hoặc những cuộc biểu tình chống chính quyền hồi đầu năm 2007.

Chính phủ tiếp tục phản đối nỗ lực hoạt động của Giáo hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam không được công nhận (UBCV) và hạn chế việc đi lại của các chức sắc Giáo hội này. Tháng 8/2006, Chính phủ cho phép Hòa thượng Thích Huyền Quang đến Thành phố Hồ Chí Minh để chữa bệnh trong hai tháng, nhưng năm 2007 lại cản trở không muốn cho ông trở lại đây. Tuy nhiên, Chính phủ cho phép các nhà ngoại giao nước ngoài tới thăm Thích Quảng Độ và Thích Huyền Quang. Trong thời gian báo cáo này tường trình, Thích Quảng Độ đã có dịp gặp gỡ với các thành viên khác của UBCV. Thích Quảng Độ và một số chức sắc khác của UBCV được duy trì tiếp xúc với các cơ sở ở nước ngoài. Tuy nhiên, lãnh đạo của UBCV ở các tỉnh trên toàn miền nam Việt Nam lại phải chịu áp lực, trong đó có trường hợp một nhà sư nữ tại văn phòng đại diện của UBCV ở tỉnh Khánh Hòa bị sách nhiễu từ đầu tháng 3/2006 và có tin là bị buộc ra khỏi chùa nơi bà xây dựng. Tháng 5/2006 và tháng 5/2007 các giáo đoàn của UBCV ở miền Trung được tụ họp để kỷ niệm ngày sinh của Phật tổ, nhưng lãnh đạo của họ ở Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Định không thể tổ chức các buổi lễ tương tự.

Chính phủ vẫn duy trì quyền phủ quyết đối với việc bổ nhiệm Giám mục của Vatican và thực hiện quyền phủ quyết đó đối với việc bổ nhiệm hai giám mục hồi đầu năm 2007. Tuy nhiên, trên thực tế Chính phủ đã cố gắng hợp tác với Giáo hội Công giáo trong việc bổ nhiệm các giám mục. Giáo hội Công giáo điều hành sáu trường dòng với hơn 1.000 sinh viên theo học, cộng với một khóa đào tạo đặc biệt dành cho những sinh viên “lớn tuổi hơn”. Tất cả học viên đều phải được chính quyền địa phương chấp thuận trước khi nhập học và trước khi được phong chức linh mục. Giáo hội cho rằng số lượng học viên được thụ phong hiện không đủ để phục vụ dân số Công giáo đang ngày càng tăng. Họ muốn mở thêm nhiều trường dòng nữa và muốn các lớp học được mở thường xuyên hơn nhưng vẫn chưa nhận được hồi âm từ Chính phủ.

Chính phủ vẫn lo ngại về một số nhóm dân tộc thiểu số hoạt động ở vùng này đang điều hành “Hội thánh Đề-ga” mà có tin là tổ chức này phối hợp hành đạo với hoạt động chính trị và kích động ly khai trong nhóm người dân tộc thiểu số. Sự việc này làm phức tạp và gây chậm chễ cho quá trình đăng ký và công nhận các giáo hội khác ở Tây Nguyên.

Mặc dù tình hình được cải thiện trong thời gian báo cáo này đề cập tới, Tổng hội Hội thánh Tin Lành miền Nam và các nhà thờ tại gia ở các tỉnh Tây Nguyên như Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum, Đắc Nông vẫn tiếp tục bị Chính quyền giám sát chặt chẽ.

Một số nhà thờ Tin Lành tại gia, bao gồm Báp-tít, Giáo hội Trưởng lão, Giáo hội Thế giới Thống nhất cũng hoạt động tại Tây Nguyên. Các nhà thờ này cho biết tình hình của các giáo đoàn của họ đã được cải thiện đáng kể.

Chính phủ tiếp tục giám sát và đã kiểm soát được - ở mức độ khác nhau - giới chức sắc, các hoạt động tôn giáo có tổ chức, và các hoạt động khác của các nhóm tôn giáo thông qua các Ban Tôn giáo ở cấp trung ương và địa phương.

Hàng trăm giáo đoàn thuộc ECVN đã nộp đơn đăng ký hoạt động trong thời gian báo cáo này đề cập tới; tuy nhiên, hầu hết hồ sơ đăng ký hoặc chưa được giải quyết hoặc đã bị bác bỏ. Lý do bác bỏ đơn đăng ký thường là gây khó khăn, cản trở như chưa đúng thủ tục hoặc khai chưa đúng mẫu, hoặc thông tin chưa đầy đủ. Đôi khi các nhà chức trách địa phương đưa ra những lý do về an ninh như quyền lực chính trị của họ có thể bị đe dọa hoặc xung đột sẽ xảy ra giữa những tín đồ truyền thống và những người mới cải đạo sang Công giáo ở một số khu vực. Mặc dù trong thời gian báo cáo này tường trình, một số giáo đoàn ở Tây Bắc đã đăng ký được nhưng nhiều việc còn phải làm để triển khai đăng ký đối với hội thánh Tin Lành và các giáo đoàn Công giáo ở đây.

Giáo phái Hòa Hảo chịu một số hạn chế về các hoạt động tôn giáo và chính trị từ năm 1975, một phần vì Đảng Cộng sản vẫn nghi ngờ hoạt động chống đối vũ trang của họ từ thời thực dân Pháp còn cai trị. Sau 1975, tất cả cơ sở hành chính, nơi thờ tự, các viện xã hội và văn hóa liên quan đến đạo Hòa Hảo đều bị đóng cửa. Các tín đồ tiếp tục hành đạo tại nhà riêng, nhưng do không được đến những nơi công cộng, nên cộng đồng Hòa Hảo bị cô lập và phân tán. Năm 1999, một cơ quan chính thức của đạo Hòa Hảo, Hội đồng Trị sự Hòa Hảo, được thành lập. Mùa xuân năm 2005, Hội đồng Trị sự Hòa Hảo mở rộng và đổi tên thành Ban Điều hành Phật giáo Hòa Hảo, bao gồm một số vị lãnh đạo trước năm 1975, công khai chỉ trích Ban Điều hành. Họ cho rằng Ủy ban này quỵ lụy Chính phủ và đòi quyền được chính thức công nhận đối với tổ chức của riêng họ - Giáo hội Phật giáo Trung ương Hòa Hảo (HHCBC). Mặc dù chưa được đăng ký, nhưng ngày 4/5/2005, HHCBC đã tổ chức một cuộc họp với sự tham gia của 126 đại biểu từ các tỉnh miền Nam. Tuy nhiên họ đã bị đàn áp mạnh.

Xung đột giữa các nhà hoạt động đạo Hòa Hảo và cán bộ chính quyền ở vùng đồng bằng sông Cửu Long vẫn tiếp diễn trong thời gian báo cáo này tường trình.

Tháng 5/2007 một tòa án ở tỉnh Đồng Tháp thuộc đồng bằng sông Cửu Long đã kết án bốn tín đồ đạo Hòa Hảo từ 4 đến 6 năm tù giam vì “gây rối trật tự công cộng” theo điều 245, bộ Luật Hình sự năm 1999. Bốn người trên bị bắt do dính líu vào một vụ tuyệt thực nhằm phản đối việc bắt và bỏ tù các thành viên giáo phái Hòa Hảo khác trong năm 2005 và những cáo buộc việc Chính phủ đàn áp tín ngưỡng Hòa Hảo.

Tám tín đồ Cao Đài bị bỏ tù hồi tháng 7/2005 với mức án lên tới 13 năm vì tội “chạy ra nước ngoài chống phá chính quyền” và “phát tán tài liệu chống Chính phủ Việt Nam nhằm kích động biểu tình và bạo loạn”. Nhóm này đã phản đối sự kiểm soát của Chính phủ đối với giáo hội Cao Đài hồi tháng 9/2004 ở Phnom Penh nhưng đã bị bắt và trục xuất khỏi Việt Nam.

Không có quy định chính thức cấm việc cải đạo. Tuy nhiên, rất ít trường hợp cải đạo chính thức, ngoại trừ trường hợp những người không theo Công giáo kết hôn với các tín đồ Công giáo. Nhiều người cải đạo cho rằng các thủ tục quá phức tạp hoặc sợ bị chính quyền trừng phạt. Một số báo cáo riêng lẻ cho biết cán bộ địa phương ở các vùng nông thôn tiếp tục cản trở việc cải đạo sang đạo Tin Lành bằng cách đe dọa cắt phúc lợi xã hội và giáo dục của họ. Tuy nhiên, có thể thấy trong tài liệu tập huấn của Ban Tôn giáo Chính phủ dành cho cán bộ địa phương ở miền Bắc chỉ thị cán bộ khuyến khích những người mới cải đạo quay về tín ngưỡng truyền thống của họ. Chính phủ đã cam kết với các nhà ngoại giao và các đại diện nước ngoài sẽ thay đổi những lời lẽ đó, và thừa nhận nội dung đó có thể không phù hợp với các quy định.

Chính phủ kiểm soát và theo dõi tất cả các hình thức tụ họp nơi công cộng, bao gồm tụ họp tổ chức các hoạt động tôn giáo. Tuy nhiên, trong thời gian báo cáo này tường trình, một số cuộc tụ họp tôn giáo quy mô lớn đã được phép tổ chức.

Điều 35 Nghị định 22 quy định các nhóm truyền giáo hải ngoại phải được chính quyền cho phép mới được tiến hành các hoạt động cải đạo. Tuy nhiên, các hoạt động đó phải diễn ra dưới sự bảo trợ của một tổ chức tôn giáo trung ương hoặc địa phương. Nghị định này cản trở việc cải đạo công khai ngoài các trung tâm thờ tự đã được công nhận, kể cả việc cải đạo của các cá nhân. Một số nhà truyền giáo đã đến thăm Việt Nam bất chấp quy định cấm chính thức này và đã tiến hành một số hoạt động cải đạo không chính thức.

Tháng 4/2006 Hội thánh Liên hữu Tân sinh (NLF) có trụ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức buổi lễ cầu nguyện lớn đầu tiên cho người nước ngoài kể từ tháng 8/2005 tại sân của một khách sạn ở Thành phố Hồ Chí Minh. NLF - phục vụ cả người nước ngoài và người dân trong nước, đứng đầu là một nhà truyền giáo nước ngoài - bị ngăn không cho tổ chức tụ họp tại các khách sạn ở Thành phố Hồ Chí Minh tháng 8/2005 sau khi khởi xướng và quảng bá dịch vụ cho người dân địa phương trái quy định của luật. Kể từ đó tới nay, người nước ngoài trong Hội thánh Liên hữu Tân sinh có thể tập hợp thành từng nhóm nhỏ tại gia. Hội thánh vẫn đang thảo luận với thành phố và các quan chức trung ương về việc tìm một giải pháp hợp pháp và lâu dài về quy chế của mình. Các nhóm chỉ có người nước ngoài khác không phải chịu sự sách nhiễu nào. Ít nhất một giáo hội đã nhận được giấy phép hoạt động chính thức từ chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh vào giữa năm 2007.

Chính sách của Chính phủ không cho phép người dân thuộc các nhóm tôn giáo không chính thức được phát biểu ý kiến công khai về tín ngưỡng của họ, nhưng vẫn có một số tiếp tục tiến hành giảng đạo và hành đạo mà không bị sách nhiễu. Thành viên của các tổ chức tôn giáo có đăng ký được phát ngôn về tín ngưỡng của họ và thuyết phục người khác theo đạo ở những địa điểm thờ tự được công nhận, nhưng không được làm việc đó ở nơi khác.

Chính phủ yêu cầu tất cả những ấn phẩm tôn giáo phải do Nhà xuất bản Tôn giáo, trực thuộc Văn phòng Tôn giáo, ấn hành, hoặc phải do các nhà xuất bản được Chính phủ cho phép in ấn nhưng phải được Chính phủ phê duyệt nội dung trước. Nhà xuất bản Tôn giáo đã in 130 ấn phẩm tôn giáo mới trong thời gian báo cáo này tường trình, trong đó có các Bộ kinh bằng tiếng dân tộc Tây Nguyên. Một loạt bộ kinh, kinh phật, và các ấn phẩm, tài liệu tôn giáo khác được các tổ chức này in và phát hành công khai. Nhà xuất bản Tôn giáo đã in 250.000 bản kinh phật Hòa Hảo, cùng 100.000 bộ những lời giảng và tiên tri của nhà sáng lập. Tuy nhiên, các tín đồ Hòa Hảo cho biết Chính phủ tiếp tục hạn chế việc phát hành toàn bộ kinh Phật, đặc biệt là tập thơ của nhà sáng lập. Ban Đại diện Hội Phật giáo Hòa Hảo chính thức nói rằng đó là do thiếu kinh phí chứ không phải do Chính phủ hạn chế không cho in toàn bộ kinh phật Hòa Hảo. Kinh thánh được in bằng tiếng Việt, tiếng Trung Quốc, tiếng Êđê, Jarai và tiếng Anh. Tuy nhiên, tháng 1/2007 các nhà chức trách đã tịch thu các bộ kinh và các tài liệu tôn giáo khác được in ở nước ngoài tại một nhà thờ Tin Lành tại gia ở Thành phố Hồ Chí Minh vì bất cứ một tài liệu nào “bằng tiếng nước ngoài” không được Chính phủ công khai cho phép đều là bất hợp pháp. Nhóm này sau đó đã phải mua các bộ kinh do chính phủ chấp thuận để phân phát.

Chính phủ cho phép đi lại vì mục đích tôn giáo, nhưng để tham gia vào các hội nghị tôn giáo và các khóa đào tạo ở nước ngoài thì phải được các cơ quan chức năng phê chuẩn. Các tín đồ Hồi giáo được phép hành hương đến thánh địa Mecca, các vị chức sắc Phật giáo, Công giáo, Tin Lành nhìn chung được đi ra nước ngoài học tập và dự hội nghị. Các nhà lãnh đạo tôn giáo không chính thức khác thì đi nước ngoài thường xuyên. Những người theo đạo sau khi đi nước ngoài về thỉnh thoảng bị chất vấn về hoạt động của họ khi trở về và được yêu cầu nộp lại hộ chiếu. Tuy nhiên, việc này ngày càng ít đi.

Việc theo tôn giáo nào được ghi rõ trên chứng minh thư và trong “sổ hộ khẩu”. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều công dân theo đạo thường không ghi như vậy trên chứng minh thư, và Chính phủ liệt họ vào nhóm không theo đạo. Mặc dù có thể thay đổi mục tôn giáo trên chứng minh thư nhưng nhiều người cải đạo đã gặp những thủ tục quá phiền hà hoặc sợ Chính phủ trừng phạt. Chính phủ không yêu cầu ghi tôn giáo trên hộ chiếu.

Chính phủ cho phép, và trong một số trường hợp còn khuyến khích các tổ chức tôn giáo được chính thức công nhận liên kết với các nhóm tôn giáo mộ đạo ở nước ngoài; tuy nhiên, Chính phủ tích cực ngăn chặn UBCV liên lạc với những Phật tử ủng hộ họ ở nước ngoài.

Tiếp xúc giữa một số tổ chức Tin Lành chưa đăng ký với những thành phần ủng hộ ở nước ngoài bị Chính phủ ngăn cản nhưng vẫn diễn ra thường xuyên, bao gồm cả việc đào tạo, hỗ trợ tài chính và cung cấp tài liệu tôn giáo. Chính phủ vẫn lo ngại về sự liên lạc giữa các tín đồ Tin Lành “Đề-ga” ly khai ở Tây Nguyên với những người ủng hộ ở hải ngoại. Chính phủ coi Tin Lành Đề-ga là một nhóm lợi dụng tôn giáo để kích động ly khai trong các dân tộc thiểu số, gây bạo loạn chính trị và thành lập một nhà nước độc lập của người dân tộc thiểu số.

Việc theo một tín ngưỡng nào đó nhìn chung không ngăn cản người dân tham gia vào đời sống kinh tế và những sinh hoạt đời thường, tuy nhiên nó cản trở sự thăng tiến trong Đảng Cộng sản, Chính phủ, và trong hàng ngũ quân đội. Quân đội không có chức giáo sĩ tuyên úy. Trước đây việc thừa nhận theo đạo cản trở việc kết nạp Đảng, nhưng nay Đảng tuyên bố có đến hàng vạn trong số hơn ba triệu Đảng viên theo đạo. Tín đồ và giới tăng lữ của nhiều tín ngưỡng hiện đang nắm giữ các chức vụ trong chính quyền tỉnh và địa phương, và là đại biểu Quốc hội. Quan chức Đảng và Chính phủ thường xuyên đi lễ đền, chùa, nhà thờ, và thậm chí đến cả một số nhà thờ Tin Lành nhân dịp Giáng sinh.

Chỉ thị hướng dẫn thi hành Pháp lệnh tôn giáo, tín ngưỡng năm 2005 quy định các ban tôn giáo địa phương phải chấp thuận việc xây dựng các cơ sở tôn giáo mới. Việc trùng tu hoặc nâng cấp các cơ sở tôn giáo mặc dù không nhất thiết phải được phép nhưng phải thông báo cho chính quyền, tuỳ thuộc vào mức độ cải tạo. Nghị định quy định rằng chính quyền phải có ý kiến trong vòng 20 ngày đối với đơn xin phép xây dựng.

Chính phủ không cho phép giảng về tôn giáo ở các trường công lập, tuy nhiên lại cho phép các mục sư giảng dạy ở các trường đại học các môn mà họ đủ trình độ giảng dạy. Các nhà sư được phép giảng dạy ở Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh trong khi các nữ tu sĩ và ít nhất một linh mục được phép giảng dạy tại các trường đại học ở Thành phố Hồ Chí Minh. Họ không được mặc lễ phục khi giảng dạy hoặc không để lộ ra mình là linh mục. Các nhóm Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo và Phật giáo được phép giảng đạo cho trẻ em. Việc giảng đạo Thiên chúa vào cuối tuần hoặc các buổi tối được phép tổ chức ở hầu hết các nơi và đã gia tăng trong những năm gần đây ở các nhà thờ trên cả nước. Các nhà sư phái Tiểu Thừa Khơme và những người theo đạo Hồi dân tộc Chăm thường xuyên tổ chức các lớp giảng đạo và ngôn ngữ cho trẻ em ngoài giờ học chính khóa tại các chùa và nhà thờ Hồi giáo của họ. Các nhóm tôn giáo không được phép mở các trường học độc lập, ngoại trừ mẫu giáo và nhà trẻ.

Chính quyền các tỉnh đã trả lại một ít cơ sở đất đai của nhà thờ bị tịch thu sau khi đất nước thống nhất năm 1975 và tiếp tục thảo luận về các cơ sở đất đai khác. Một Phó Chủ tịch Hội Phật giáo Việt Nam được chính phủ công nhận cho biết khoảng 30% cơ sở đất đai Phật giáo bị tịch thu ở Thành phố Hồ Chí Minh đã được trả lại, và khoảng từ 5-10% cơ sở đất đai bị tịch thu ở miền Nam đã được trả lại. Các tổ chức Công giáo và Tin Lành được công nhận đã nhận lại một số ít cơ sở đất đai bị tịch thu trước đó, nhưng vẫn còn tranh chấp với các quan chức về những cơ sở đất đai khác. SECV ước tính có hơn 250 cơ sở đất đai mà tổ chức này đang đòi lại. Các giáo phái Tin Lành khác hoạt động ở miền Nam trước năm 1975 cũng đòi lại cơ sở đất đai. Một số cơ sở đất đai cũng đã được trả lại cho Hội đồng Trị sự giáo phái Hòa Hảo, nhưng theo các chức sắc của giáo hội thì rất ít cơ sở đất đai được trả lại cho đạo Cao Đài. Rất nhiều cơ sở đất đai bị tịch thu trước kia là các trường đào tạo về tôn giáo và bệnh viện đã được sát nhập vào hệ thống trường và bệnh viện công.

Mặc dù Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo “khuyến khích” các tổ chức tôn giáo tổ chức các hoạt động từ thiện trong lĩnh vực giáo dục và y tế, nhưng mức độ giám sát của chính quyền đối với các hoạt động này khác nhau tùy theo địa phương. Ở một số vùng, đặc biệt là miền Nam, các linh mục và nữ tu sĩ Công giáo đã mở các nhà trẻ, các trại trẻ mồ côi, các trung tâm dạy nghề, các trạm y tế và tham gia vào nhiều chương trình nhân đạo khác. Ở Thành phố Hồ Chí Minh và Huế, Giáo hội Công giáo tham gia hỗ trợ xây dựng các trung tâm điều trị và bệnh viện cho bệnh nhân HIV/AIDS và tư vấn cho thanh niên. Các nhóm Phật giáo cũng tham gia phòng chống HIV/AIDS và các công tác từ thiện khác trên cả nước. Giáo khu tại Thành phố Hồ Chí Minh thay mặt chính quyền thành phố điều hành một trạm y tế phòng chống HIV/AIDS tại trung tâm cai nghiện Trọng Điểm. Chính quyền thành phố và Giáo hội Công giáo đã thảo luận về cách phê chuẩn chính thức các sáng kiến mới, ví dụ phòng khám cho bệnh nhân có khả năng nhiễm HIV/AIDS, mặc dù chính quyền cho phép Giáo hội ngầm thực hiện các sáng kiến đó. Các hoạt động từ thiện của Giáo hội Công giáo bị hạn chế nhiều hơn ở miền Bắc Việt Nam, tuy nhiên trong thời gian báo cáo này tường trình có tin là một số tỉnh miền bắc đã được cho phép. Ví dụ, tỉnh Thái Bình tích cực khuyến khích hoạt động của Giáo hội Công giáo về HIV/AIDS và điều trị cho người bệnh và người tàn tật. Trong thời gian báo cáo này tường trình, chính quyền Thành phố Hải Phòng cũng bắt đầu hợp tác với Giáo hội Công giáo trong các lĩnh vực liên quan tới điều trị nghiện ma túy và HIV/AIDS. Tỉnh Thanh Hóa đã tham gia với Giáo khu Công giáo trong các chương trình xây dựng cơ sở hạ tầng tôn giáo và hạ tầng công cộng. Thành phố Hà Nội đã cho phép một số đền do VBS điều hành được mở các trại trẻ mồ côi dành cho trẻ mồ côi và tàn tật, cũng như thực hiện các chương trình điều trị cho những người nhiễm HIV/AIDS.

Giáo hội Phật giáo Việt Nam tham gia nhiều hoạt động nhân đạo ở nhiều vùng trên cả nước, trong đó có phòng chống ma túy và phúc lợi trẻ em. Trong thời gian báo cáo này tường trình, Giáo phái Hòa Hảo được công nhận chính thức cũng cho biết họ đã tham gia nhiều hoạt động nhân đạo và các dự án phát triển ở địa phương.

Lạm dụng tự do tôn giáo

Báo cáo về các trường hợp lạm dụng tôn giáo giảm dần trong khoảng thời gian bản báo cáo này đề cập. Tuy nhiên, nhiều tín đồ tiếp tục bị đàn áp hoặc sách nhiễu do hoạt động trái phép. Trong một số vụ lẻ tẻ, cán bộ địa phương đàn áp các tín đồ Tin Lành tại một số khu vực ở Tây Nguyên và Tây Bắc và các khu vực khác bằng cách bắt chấm dứt các cuộc tụ họp tại nhà thờ, đóng cửa các nhà thờ tại gia và buộc các tín đồ phải từ bỏ tôn giáo, tín ngưỡng của mình, nhưng thường thất bại.

Một số tín đồ người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên - đặc biệt ở những vùng bị nghi là có liên quan tới “Giáo hội Đề-ga” tiếp tục bị ngăn không cho tụ họp hành đạo. Tuy nhiên, số báo cáo đáng tin cậy về các vụ việc xảy ra đã giảm đáng kể so với những năm trước và có vẻ như phản ánh sự thiên vị cá nhân ở cấp địa phương chứ không phải chính sách của Chính phủ trung ương. Trong một số vụ, cán bộ địa phương liên quan bị khiển trách hoặc bãi nhiệm.

Hạn chế đối với các chức sắc UBCV vẫn còn, quyền tự do đi lại, tự do phát biểu ý kiến và tự do hội họp của lãnh đạo bị hạn chế. Không có nhiều báo cáo đáng tin cậy về tình trạng cán bộ tùy tiện bắt giam, đe dọa trả thù và sách nhiễu vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt là ở các vùng dân tộc thiểu số miền núi.

Đầu năm 2007, chính quyền địa phương tỉnh Bến Tre từ chối đăng ký một nhà thờ Tin Lành tại gia; công an sau đó đã tìm cách ngăn cản nhóm này tụ họp. Theo các chức sắc tôn giáo, một nhà thờ tại gia ở tỉnh Trà Vinh - đồng bằng sông Cửu Long - bị ngăn cản không được tổ chức lễ Phục sinh năm 2006. Các bộ kinh và các tài liệu tôn giáo khác bị tịch thu. Tháng 1/2006 ở tỉnh Kiên Giang, công an cấm một nhà thờ tại gia có liên quan đến Hội giám lý được tụ họp và tịch thu các giấy tờ tuỳ thân của một vị mục sư đến thăm nhà thờ. Tháng 12/2005 công an đã giải tán buổi lễ Giáng sinh của một số nhà thờ tại gia ở Cần Thơ, Long An và Vĩnh Long, cũng ở đồng bằng sông Cửu Long. Tháng 5/2005 mục sư Nguyễn Văn Cầm cho một phóng viên biết chính quyền xã Đồng Lâm, huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình nhiều lần thuyết phục ông ký vào biên bản cam kết chấm dứt hoạt động hành lễ tại gia.

Tháng 6/2006, hai tín đồ Tin Lành ở Thanh Hóa đã bị công an địa phương đánh đập. Tháng 12/2006 có tin là công an địa phương đánh đập các tín đồ Phúc âm đang tụ họp tại một nhà thờ tại gia ở tỉnh Quảng Ninh. Cũng trong tháng 12/2006 chính quyền địa phương đã mạnh tay giải tán một buổi gặp gỡ với sinh viên tại một nhà thờ tại gia của giáo đoàn ECVN ở tỉnh Thừa Thiên-Huế.

Mục sư Thân Văn Trường đã được phóng thích tháng 9/2005 sau khi bị chính quyền tỉnh Đồng Nai ép buộc đưa vào trại tâm thần một năm do tham gia hoạt động tôn giáo và chính trị. Có tin là ông được thả với điều kiện ký vào một văn bản xác nhận bệnh tâm thần của mình, khiến ông có thể lại bị đưa vào trại tâm thần nếu “tái phát bệnh”. Mục sư Trường tiếp tục bị cán bộ địa phương theo dõi chặt chẽ. Có nhiều báo cáo đã được khẳng định cho biết ông tiếp tục bị sách nhiễu, còn các hoạt động tôn giáo của ông đã bị cấm ở tỉnh Đồng Nai và tại quê ông ở tỉnh Bắc Giang nơi ông đã giúp tổ chức một nhà thờ nhỏ. Tháng 6/2006 các nhà ngoại giao nước ngoài đã được Chính phủ cho phép đến thăm nhà thờ ở Bắc Giang và điều tra các cáo buộc cán bộ địa phương sách nhiễu.

Mục sư Tin Lành và là lãnh đạo nhà thờ tại gia Nguyễn Hồng Quang bị bỏ tù năm 2004 và được thả tháng 9/2005 trong đợt ân xá chính thức. Tháng 5/2006 mục sư Quang và một số tín đồ khác đã bị giam gần 24 giờ đồng hồ sau khi đụng độ với công an địa phương xung quanh việc xây dựng một nhà thờ tại gia của ông. Tuy nhiên, Chính phủ đã đưa ra một số bằng chứng cho rằng mục sư Quang đã cố tình làm ngơ các quy định về quy hoạch và yêu cầu tuân thủ các quy định quy hoạch của cán bộ địa phương.

Tháng 8/2005, có nhiều báo cáo đáng tin cậy cho biết cán bộ địa phương đã cố ép một nhà truyền giáo thuộc Tổng hội Hội thánh Tin Lành miền Nam từ bỏ tín ngưỡng và chấm dứt các hoạt động của đoàn mục sư của ông tại bản Hre ở tỉnh Quảng Ngãi. Có tin cho hay là nhiều đối tượng chưa rõ là ai đã đốt nhà của ông để trả đũa. Cộng đồng Tin Lành nhỏ này tiếp tục bị gây khó dễ đến tận tháng 5/2006.

Tuy nhiên, sau khi Chính phủ trung ương can thiệp, tình trạng sách nhiễu có vẻ giảm bớt và một trong hai mục sư liên quan được phép tham dự khóa đào tạo mục sư của SECV.

Trong thời gian báo cáo này tường trình, ít có báo cáo đáng tin cậy nào về việc các chức sắc của các giáo hội chưa đăng ký ở Tây nguyên và Tây Bắc bị sách nhiễu, bị giam giữ hoặc bị ép phải từ bỏ tín ngưỡng.

Việc tuyên truyền khuôn khổ pháp lý về tôn giáo vẫn còn chậm, đặc biệt ở miền Bắc và Tây Bắc, và đến tận thời điểm kết thúc thời hạn bản báo cáo này tường trình, nhiều chức sắc tại các địa điểm hành đạo cho biết công an và các nhà chức trách khác đã không thực hiện đầy đủ những văn bản quy phạm pháp luật này. Trong thời gian báo cáo này tường trình, một số tín đồ Tin Lành ở miền bắc và các tỉnh Tây Bắc cho biết cán bộ địa phương thường lấy cớ pháp luật để cản trở việc đăng ký.

Đầu tháng 6/2007 thành viên giáo đoàn ECVN tại huyện Bát Xát tỉnh Lào Cai cho biết chính quyền địa phương, kể cả thành viên của lực lượng đặc biệt bảo vệ biên giới, đã về huyện để tổ chức tập huấn về các luật trong Khuôn khổ Pháp lý. Theo thành viên giáo đoàn, chính quyền địa phương áp mức hình phạt lên tới khoảng 100 đô-la (1,7 triệu đồng Việt Nam) đối với tám “tín đồ Tin Lành bất hợp pháp” và áp đặt hình phạt vật chất (tịch thu gà) đối với chín người khác. Các “tín đồ Tin Lành bất hợp pháp” bị cáo buộc hành đạo Tin Lành mà không xin phép chính quyền tỉnh.

Tháng 3/2006 tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang, chính quyền địa phương phạt một mục sư nhà thờ tại gia 32 đô-la (500.000 đồng), hơn một nửa tháng lương của ông, vì tới Hà Nội để nhận đơn đăng ký từ Tổng hội Hội thánh Tin Lành miền Bắc (ECVN). Hơn thế nữa, những người trợ tế cho nhà thờ cũng bị phạt 6 đô-la (100.000 đồng) mỗi người vì là “tín đồ Tin Lành” và vì đã ký tên vào hồ sơ xin đăng ký của giáo đoàn.

Tháng 1/2006, chính quyền huyện Xín Mạn ở Hà Giang đã thông báo với một giáo đoàn Tin Lành chưa đăng ký rằng “cứ năm tín đồ tụ tập với nhau sẽ bị truy tố”. Giáo đoàn đã nộp đơn đăng ký nhưng chưa nhận được hồi âm chính thức nào.

Mặc dù có những tiến bộ rõ rệt ở Tây Nguyên, song hoạt động của các giáo đoàn thuộc Tổng hội Hội thánh Tin Lành miền Nam (SECV) ở Đắc Lắc đã bị hạn chế nghiêm ngặt. Tại huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum, nơi mà đầu năm 2006 cán bộ huyện không cho là có “tôn giáo” nào ở khu vực này, thì các quy định còn ngặt nghèo hơn. Trong khi đó những báo cáo mới đây từ Kon Tum cho thấy tình hình ở đây đang được cải thiện. Có dấu hiệu cho thấy ít nhất trong một số trường hợp cán bộ chính quyền cấp cao hơn đã