PEPFAR tại Vietnam
CHƯƠNG TRÌNH CỨU TRỢ KHẨN CẤP VỀ PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS CỦA TỔNG THỐNG HOA KỲ (PEPFAR)
Tình hình năm 2007: Việt Nam
Tỉ lệ nhiễm HIV trong số người trưởng thành (từ 15-49 tuổi) trên toàn quốc: 0.5%1
Số người lớn và trẻ em (từ 0-49 tuổi) nhiễm HIV tính đến cuối năm 2005: 260.0001
Số người chết vì AIDS (cả người lớn và trẻ em) năm 2005: 13.0001
Trẻ mồ côi vì AIDS tính đến cuối năm 2005: Chưa có số liệu1
1: Theo Báo cáo năm 2006 về Đại dịch AIDS Toàn cầu của UNAIDS
Tháng 6 năm 2004, Việt Nam trở thành nước trọng điểm thứ 15 của Kế hoạch Khẩn cấp về phòng chống HIV của Tổng thống. Tại 15 nước trọng điểm này có ít nhất 50% các trường hợp lây nhiễm HIV trên toàn thế giới. Theo Kế hoạch Khẩn cấp này, Việt Nam được nhận 17,3 triệu đô-la trong năm tài chính 2004, gần 27,6 triệu đô-la trong năm 2005 và khoảng 34,1 triệu đô-la trong năm tài chính 2006 để hỗ trợ các chương trình toàn diện dự phòng, điều trị và chăm sóc HIV/AIDS.
Nhận thức rằng đại dịch HIV/AIDS trên toàn cầu là một trong những thách thức về y tế lớn nhất ở thời đại chúng ta, Tổng thống George W. Bush đã thông báo Chương trình Cứu trợ Khẩn cấp về phòng, chống HIV/AIDS (Kế hoạch Khẩn cấp/PEPFAR) vào năm 2003 – một sáng kiến về y tế quốc tế lớn nhất trong lịch sử của một quốc gia để giải quyết riêng một căn bệnh. Chính phủ Hoa Kỳ hiện đang thay đổi mô hình phát triển, bác bỏ tâm lý “nước cho – nước nhận viên trợ” lỗi thời và thay thế bằng qui tắc hợp tác thực sự. Và những sự hợp tác này đang có tác động trên toàn cầu và làm thay đổi diện mạo thế giới của chúng ta ngày nay.
Hợp tác để chiến đấu với đại dịch HIV/AIDS
Tháng 3 năm 2004, Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã đề ra Kế hoạch Chiến luợc Quốc gia về Dự phòng và Kiểm soát HIV/AIDS ở Việt Nam tới năm 2010 với tầm nhìn đến năm 2020. Chiến lược vạch ra cơ cấu để đối phó một cách toàn diện với bệnh dịch, kêu gọi sự huy động của Chính phủ, Đảng và các tổ chức xã hội ở mọi ngành. Chính phủ Mỹ hợp tác với Chính phủ Việt Nam cũng như với các tổ chức quốc tế, các tổ chức cộng đồng và tôn giáo, các tổ chức phi chính phủ ở trong nước và quốc tế để thực hiện các chương trình toàn diện về dự phòng, chăm sóc và điều trị HIV phù hợp với Kế hoạch Chiến lược Quốc gia.
Đáp ứng của Chính phủ Hoa Kỳ tại Việt Nam bao gồm:
Giúp Việt Nam phát triển các mô hình toàn diện các mạng lưới dự phòng, điều trị, chăm sóc và hỗ trợ bệnh nhân HIV/AIDS;
Hỗ trợ những nỗ lực của Chính phủ Việt Nam nhằm giảm sự kỳ thị đối với những người bị nhiễm HIV/AIDS và những người bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS;
Thúc đẩy sự tham gia nhiều hơn của những người nhiễm HIV/AIDS vào việc xây dựng, thực hiện và giám sát các chương trình chống HIV/AIDS ở mọi cấp độ;
Tập huấn cho các bác sĩ Việt Nam trong việc chăm sóc và điều trị bệnh nhân HIV/AIDS;
Hỗ trợ Bộ Y tế Việt Nam phát triển chương trình giáo dục đồng đẳng tiếp cận những người có nguy cơ, phát triển các điểm tư vấn và xét nghiệm HIV/AIDS tự nguyện và các phòng khám ngoại trú ở 40 tỉnh, 24 tỉnh còn lại sẽ do các nhà viện trợ khác giúp;
Tăng cường năng lực quản lý y tế công của các nhân viên Chính phủ Việt Nam;
Hỗ trợ Bộ Y tế Việt Nam phát triển phòng thí nghiệm quốc gia về HIV, bao gồm cả các hệ thống đảm bảo và kiểm tra chất lượng;
Hỗ trợ phát triển ban điều phối chăm sóc và điều trị trực thuộc Bộ Y tế thông qua việc trả lương cho một vị trí điều phối viên mảng chăm sóc và điều trị của ban này; và
Hỗ trợ việc thiết lập hệ thống giám sát, theo dõi và đánh giá quốc gia.
Các kết quả của Kế hoạch Khẩn cấp tại Việt Nam
| Số người được điều trị kháng vi-rút tính đến 31/3/2007 | 10.200 |
| Số người có HIV được hỗ trợ bởi các dịch vụ chăm sóc và hỗ trợ giảm nhẹ/khám chữa bệnh cơ bản trong năm tài chính 2006 (bao gồm cả bệnh nhân lao có HIV -TB/HIV)1 | 24.200 |
| Số trẻ mồ côi và trẻ dễ bị ảnh hưởng (OVC) nhận được được hỗ trợ từ chương trình OVC trong năm tài chính 20061 | 2.000 |
| Số phụ nữ mang thai nhận được các dịch vụ dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con (PMTCT) kể từ khi bắt đầu Kế hoạch Khẩn cấp1,2 | 202.500 |
| Số phụ nữ mang thai được điều trị bằng liệu pháp kháng vi-rút cho dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con kể từ khi bắt đầu Kế hoạch Khẩn cấp1,3 | 700 |
| Số người được nhận dịch vụ tư vấn và xét nghiệm HIV tự nguyện (tại các cơ sở khác ngoài cơ sở cung cấp dịch vụ PMTCT) trong năm tài chính 20061,2 | 59.100 |
| Số người được tiếp cận qua các chương trình dự phòng HIV/AIDS thông qua tiếp cận cộng đồng nhằm thúc đẩy phương pháp dự phòng Kiêng khem và/hoặc Chung thủy theo yêu cầu của PEPFAR trong năm tài chính 20064 | 247.300 |
| Số người được tiếp cận qua các hoat động dự phòng HIV/AIDS thông qua tiếp cận cộng đồng nhằm thúc đẩy phương pháp sử dụng Bao cao su và các dịch vụ dự phòng có liên quan khác trong năm tài chính 20064 | 267.100 |
| Số lượng bao cao su do Chính phủ Mỹ chuyển đến trong năm 2006 | 7.683.000 |
Ghi chú: Các số liệu có thể thay đổi tuỳ theo tiêu chuẩn đánh giá và hệ thống báo cáo. Số lớn hơn 100 được làm tròn đến hàng trăm. 1 Kết quả tổng hợp về số người được tiếp cận thông qua các dịch vụ hỗ trợ từ trên xuống dưới và từ dưới lên trên. 2 Không loại trừ khả năng một số người có thể được tư vấn và xét nghiệm 2 lần hoặc nhiều hơn. 3 Không loại trừ khả năng một số phụ nữ mang thai được điều trị bằng liệu pháp kháng vi rút cho dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con 2 lần hoặc nhiều hơn trong vòng 2 năm, VD: số phụ nữ có HIV có thai 2 lần hoặc nhiều hơn. 4 Số người được tiếp cận thông qua các dịch vụ hỗ trợ cụ thể tại cơ sở từ trên xuống dưới bao gồm cả những người được nhận các dịch vụ tại các cơ sở cung cấp dịch vụ do Chính phủ Hoa Kỳ tài trợ. |
Những tác động của Kế hoạch Khẩn cấp tại Việt Nam cho đến nay
Tình hình HIV/AIDS ở Việt Nam
Việt nam hiện đang đối mặt với đại dịch HIV ở diện tập trung. Các số liệu về tình trạng nhiễm HIV ở Việt Nam chủ yếu dựa vào báo cáo về các ca bệnh HIV/AIDS và báo cáo Giám sát trọng điểm được tiến hành hàng năm ở 40 trong tổng số 64 tỉnh thành của Việt Nam. Hiện nay báo cáo của Chính phủ Việt Nam cho thấy tất cả các tỉnh thành, 93% các huyện và 49% số xã đều có trường hợp nhiễm HIV, thậm chí nhiều tỉnh có tỷ lệ lây nhiễm HIV cao báo cáo rằng 100% số xã có người bị nhiễm HIV. Tuy Việt Nam đã tiến hành việc báo cáo tình hình HIV/AIDS nhưng do thiếu phương tiện xét nghiệm HIV nên có thể số người bị nhiễm HIV trong thực tế còn cao hơn rất nhiều. Tỷ lệ lây nhiễm HIV trong dân chúng nói chung ước tính khoảng 0,5%, và vì các nguy cơ lây chéo giữa các hành vi tiêm chích ma túy và quan hệ tình dục không bảo vệ, tỷ lệ này còn tiếp tục gia tăng1. Tỷ lệ lây nhiễm HIV trong nhóm những người sử dụng ma túy ước tính chiếm khoảng 32% trong năm 2003 và một nghiên cứu khác trong năm 2005 ước tính tỷ lệ lây nhiễm trong nhóm người hành nghề mại dâm là 1.6%, so với 33% trong nhóm người hành nghề mại dâm có tiêm chích ma túy1.
Những thách thức đối với việc thực thi kế hoạch cứu trợ khẩn cấp
Kỳ thị và phân biệt đối xử là một thách thức lớn trong việc chống lại HIV và cần phải được ưu tiên giải quyết nhằm hỗ trợ mọị người có nhu cầu dễ dàng tiếp cận được các dịch vụ và những người làm công tác chăm sóc có thể công khai cung cấp các dịch vụ hỗ trợ, chăm sóc cho người bệnh. Tiêm chích ma túy là một nguyên nhân quan trọng làm gia tăng sự lây nhiễm HIV khắp Việt Nam, đặt ra một số những thách thức rất phức tạp. Các liệu pháp điều trị cắt cơn truyền thống và các trung tâm điều trị và phục hồi của nhà nước là những phương pháp điều trị lạm dụng ma túy chủ yếu tại Việt Nam. Những người không từ bỏ được việc sử dụng ma túy hoặc hành nghề mại dâm được đưa vào các trung tâm điều trị và phục hồi. Chi phí cho các trung tâm này rất tốn kém và đặt ra những lo ngại đáng kể về mặt y tế do số lượng người nhiễm HIV được đưa vào đây rất lớn. Theo báo cáo, 40% trong tổng số các học viên tại các trung tâm này là người bị nhiễm HIV và rất nhiều học viên là bệnh nhân lao hoặc bị nhiễm lao trong trung tâm. Việt Nam có lợi thế đáng kể vì là một quốc gia có đội ngũ nhân viên y tế khá đầy đủ, nhưng các nhu cầu triển khai công tác dự phòng, điều trị và chăm sóc HIV/AIDS đang ngày càng tăng và bộc lộ nhiều điểm còn thiếu và yếu trong khả năng thực hiện những chính sách và chương trình thiết yếu trong nước. Các kỹ năng hoạch định chính sách và quản lý chương trình còn rất thiếu ở cấp tỉnh. Các phòng thí nghiệm cũng có những khác biệt đáng kể về chất lượng của các kết quả nghiên cứu đầu ra.
Các can thiệp chủ yếu của PEPFAR về dự phòng HIV/AIDS:
Hỗ trợ tổ chức các cuộc hội thảo cho các nhân viên tiếp cận cộng đồng để chia sẻ và học hỏi kinh nghiệm về dự phòng HIV. Các cuộc hội thảo này còn có sự tham dự của các nhân viên tiếp cận cộng đồng đến từ các nước lân cận trong khu vực.
Hỗ trợ các hoạt động dự phòng HIV/AIDS tại nơi làm việc thông qua việc thúc đẩy các phương pháp dự phòng kiêng nhịn, chung thủy và sử dụng bao cao su đúng cách và thường xuyên, cũng như là các hoạt động nhằm giảm sự kỳ thị và phân biệt đối xử.
Các can thiệp chủ yếu của PEPFAR về điều trị HIV/AIDS:
Đào tạo lâm sàng về chăm sóc và điều trị HIV/AIDS cho các bác sĩ của Việt Nam do các bác sĩ chuyên khoa về HIV của Mỹ trực tiếp giảng dạy. Các khóa đào tạo này, ngoài các bài giảng, bao gồm thực hành nhóm nhỏ và các chuyên gia có kinh nghiệm trực tiếp hướng dẫn cho các bác sĩ của Việt Nam tiếp xúc với bệnh nhân để tiến hành quản lý ca bệnh.
Hỗ trợ các phòng khám cung cấp thuốc kháng vi-rút (ARVs) tại các bệnh viện trung ương, các bệnh viện tuyến tỉnh và huyện.
Nhanh chóng đảm bảo sự sẵn sàng cung cấp thuốc ARV tại 6 tỉnh trọng điểm. Chương trình điều trị bao gồm đào tạo lâm sàng do Chính phủ Hoa kỳ điều phối, Tài liệu hướng dẫn về tiêu chuẩn điều trị ARV, tập huấn tại chỗ để sẵn sàng tiếp đón bệnh nhân, đảm bảo việc theo dõi bệnh nhân và chất lượng tại địa điểm điều trị.
Hỗ trợ đào tạo cho các nhân viên chăm sóc y tế về quản lý thuốc ARV và theo dõi tình trạng tiến triển của bệnh nhân trong suốt quá trình điều trị.
Các can thiệp chủ yếu của PEPFAR về chăm sóc HIV/AIDS:
Hỗ trợ tổ chức các cuộc hội thảo ở cả hai miền nam bắc Việt Nam để phá bỏ những quan điểm rập khuôn về người sống chung với HIV (PLWHA).
Làm việc với các nhóm PLWHA nhằm điều phối công tác xúc tiến các vấn đề về nhân quyền và điều phối nỗ lực quốc gia một cách hiệu quả hơn.
Hỗ trợ các nỗ lực nhằm xây dựng các chương trình hồi gia cho các học viên có HIV tại các trung tâm điều trị cai nghiện và phục hồi nhằm hỗ trợ các học viên tái hòa nhập cộng đồng sau khi được ra khỏi trung tâm.
Hỗ trợ phòng khám đầu tiên về tư vấn và xét nghiệm HIV đặt tại bệnh viện, như là một phần không thể tách rời của các dịch vụ hỗ trợ y tế thường ngày với nỗ lực giảm bớt sự kỳ thị luôn đi kèm với căn bệnh này.
Hỗ trợ hàng chục các điểm tư vấn và xét nghiệm HIV tại 40 tỉnh thành.