jump over navigation bar
Embassy SealBộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Đại sứ quán Hợp chúng quốc Hoa Kỳ - Hanoi, Vietnam flag graphic
Đại sứ quán Hoa Kỳ
 
  Ngài Đại sứ Đại sứ quán Phòng ban trong sứ quán Thông cáo báo chí 2008 2007 2006 2005 Các hoạt động nổi bật của Sứ quán

Thông cáo báo chí

Daniel M. Price
Trợ lý Tổng thống kiêm Phó Cố vấn An ninh Quốc gia về Kinh tế Đối ngoại

Họp báo – Hà Nội, Việt Nam
21/3/2008

Ông Price: Xin cảm ơn các bạn đã đến dự họp báo.

Hôm nay, tôi đã có những cuộc thảo luận tuyệt vời với Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư, Bộ trưởng Công Thương, Thứ trưởng Thương mại, và Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ.

Chuyến thăm Việt Nam của tôi có 3 mục đích. Thứ nhất, tôi muốn nhấn mạnh việc chính phủ của tôi coi trọng mối quan hệ với Việt Nam. Thứ hai, tôi muốn thảo luận và nhấn mạnh cam kết của chúng tôi về việc tiếp tục làm việc với Việt Nam để phát triển và làm sâu sắc hơn mối quan hệ đó và giúp Việt Nam tiếp tục hội nhập nền kinh tế toàn cầu. Thứ ba, chúng tôi muốn nhấn mạnh chúng tôi coi trọng ASEAN và cam kết đóng vai trò chủ đạo trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực.

Tôi xin chia sẻ một số suy nghĩ về 3 điểm này. Trước hết, về tình hình quan hệ kinh tế Mỹ-Việt. Mối quan hệ này đã phát triển rất nhanh chóng kể từ khi chúng ta tái lập quan hệ ngoại giao năm 1995. Chuyến thăm của Tổng thống Bush tới Hà Nội hồi tháng 11/2006 để dự cuộc họp APEC và chuyến thăm của Chủ tịch Triết tới Washington hồi tháng 6/2007 thể hiện những bước tiến trong mối quan hệ này. Nền móng cho mối quan hệ kinh tế là những hiệp định thương mại và đầu tư mà chúng ta đã hoàn tất cùng với nhau.

Như các bạn đã biết, trong năm 2001, Việt Nam và Mỹ đã ký Hiệp định Thương mại Song phương (BTA). Tháng 1/2007, Việt Nam gia nhập WTO. Và vào tháng 6/2007, Việt Nam và Mỹ hoàn tất Hiệp định khung về Thương mại và Đầu tư (TIFA), để giúp cho việc thực thi BTA và các cam kết WTO của Việt Nam.

Với các hiệp định này, quan hệ thương mại và đầu từ đã phát triển và gia tăng. Trong năm 2007, thương mại 2 chiều của chúng ta là 12,5 tỷ đôla, tăng 29% so với năm 2006.  Mỹ là đối tác thương mại lớn thứ 2 của Việt Nam, sau Trung Quốc. Chúng tôi là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Việt Nam cũng là một thị trường quan trọng đối với Mỹ. Xuất khẩu của Mỹ sang Việt Nam đã tăng 73% trong giai đoạn 2006-2007 và Mỹ là nhà đầu tư lớn thứ 7 ở Việt Nam.

Vậy hiện nay chúng ta đang làm gì để làm sâu sắc thêm và tăng cường cho mối quan hệ này? Thứ nhất, tôi xin nói về Hội đồng TIFA. Cuộc họp đầu tiên đã diễn ra ở Washington tháng 12 và chúng tôi vừa mới kết thúc các cuộc tham vấn ở Hà Nội ngày hôm nay. Chúng tôi đã đẩy mạnh các cuộc thảo luận trong khuôn khổ TIFA và hiện đang thảo luận một loạt các vấn đề về đầu tư, thương mại và thực thi các cam kết WTO.

Mỹ cũng đang trợ giúp kỹ thuật rất nhiều cho Việt Nam để giúp Việt Nam cải cách, hiện đại hoá kinh tế với trọng tâm đặc biệt là tính minh bạch. Về mặt này, chúng tôi xin chúc mừng ngài Thủ tướng về sáng kiến táo bạo tiến tới thực hiện một cuộc cải cách hành chính lớn, đó là Đề án 30. Đề án này sẽ trực tiếp liên quan đến 22 bộ và 64 tỉnh, họ sẽ thống kê, kiểm điểm và đề xuất những biện pháp đơn giản hoá thủ tục hành chính trong giai đoạn từ nay đến 2010. Đề án này tràn đầy hứa hẹn sẽ cải thiện môi trường đầu tư cho mọi người, cả nhà đầu tư trong cũng như ngoài nước. Mỹ hiện đang trợ giúp cho đề án này thông qua 2 chương trình trợ giúp kỹ thuật chính của chúng tôi, dự án Trợ giúp Thúc đẩy Thương mại (STAR), và chương trình Sáng kiến Cạnh tranh Việt Nam.

Ngoài ra chúng tôi còn đang làm gì khác? Chúng tôi đã bắt đầu thảo luận về một Hiệp định Đầu tư Song phương (BIT). Đây là bước đi lô gích tiếp theo trong tiến trình làm sâu sắc thêm mối quan hệ kinh tế của chúng ta. Việc hoàn tất thành công một Hiệp định Đầu tư Song phương sẽ phát đi tín hiệu về sự cởi mở của Việt Nam đối với đầu tư nước ngoài và những cải cách trong nước ấn tượng mà Việt Nam đã tiến hành trong những năm gần đây, và cho thấy những cải cách này là nghiêm túc và lâu bền.

BIT nói riêng sẽ mở rộng việc không phân biệt đối xử hoặc nghĩa vụ đối xử quốc gia tới các ngành chủ chốt như viễn thông, dịch vụ tài chính và dịch vụ phân phối vốn là những động cơ của tăng trưởng kinh tế. Nó cũng sẽ tăng cường các quy định cho phép các nhà đầu tư chuyến vốn tự do hơn vào và ra khỏi đất nước. Nó cũng sẽ củng cố các quy định chống lại các biện pháp bóp méo thương mại như hạn ngạch và các yêu cầu phải mua hàng trong nước. Tóm lại, nó sẽ củng cố cho tính ổn định và khả năng lường trước bằng cách đặt quan hệ đầu tư của chúng ta lên mức độ của một hiệp ước quốc tế.

Bây giờ tôi xin chuyển sang vấn đề thứ 3 mà chúng tôi đã thảo luận, đó là cam kết của chúng tôi đối với hội nhập kinh tế khu vực.  Quan hệ Mỹ-ASEAN rất mạnh và có tiềm năng tăng trưởng lớn. ASEAN là đối tác thương mại lớn thứ 5 và là thị trường xuất khẩu lớn thứ 4 của Mỹ. Mỹ là đối tác thương mại lớn nhất của ASEAN. Thương mại hàng hoá hiện lên đến xấp xỉ 170 tỷ đôla. Các con số đầu tư cũng ấn tượng không kém. Đầu tư của Mỹ vào ASEAN là gần 100 tỷ đôla và con số đó lớn hơn đầu tư của Mỹ ở Trung Quốc, Hồng Công và Đài Loan cộng lại với nhau.

Vậy chúng ta đang làm gì để thúc đẩy hội nhập kinh tế khu vực? Thứ nhất, Mỹ đang đàm phán các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) với một số nước trong khu vực Thái Bình Dương. Mỹ đã hoàn tất FTA với một phần ba các nền kinh tế APEC. Chúng tôi có 7 FTA trong khu vực APEC. Chúng tôi cũng đang tiếp tục các cuộc đàm phán FTA với Malaysia. Tất cả các FTA này đều có tiêu chuẩn rất cao và đã tạo ra những luồng luân chuyển thương mại và đầu tư mới. Chúng tôi cũng đang trợ giúp cho công việc quan trọng phía trước mà chúng tôi hy vọng sẽ tạo ra Khu vực Thương mại Tư do châu Á Thái Bình Dương (FTAAP).

Các nhà lãnh đạo APEC đã giao nhiệm vụ thực hiện một loạt các dự án quan trọng bao gồm cả một dự án được gọi là các thước đo mẫu hoặc các chương mẫu của 1 FTA, và chúng tôi đang làm việc rất tích cực với các nhà lãnh đạo APEC khác và chúng tôi cảm ơn sự hậu thuẫn của Việt Nam dành cho những nỗ lực APEC này.

Cùng lúc, chúng tôi đang làm việc siêng năng để hoàn chỉnh tầm nhìn về FTAAP. Chúng tôi cũng đang tìm hiểu về khả năng tham gia các Hiệp định Thương mại Tư do khu vực. New Zealand, Singapore, Chile và Brunei đã thực hiện đàm phán một Hiệp định Thương mại Tự do đa phương, gọi là các cuộc đàm phán P4, và Mỹ đã quyết định cùng tham gia các cuộc đàm phán này liên quan đến các vấn đề đầu tư và dịch vụ tài chính. Chúng tôi nhìn nhận các cuộc đàm phán P4 có nhiều hứa hẹn sẽ lập ra các FTA tiêu chuẩn cao ở trong khu vực.

Tôi xin kết luận với một vài lời nhận xét về Vòng đàm phán Doha về WTO. Việc hội nhập song phương và khu vực có thể tạo ra nhiều lợi ích, song chúng ta có thể có được những lợi ích lớn nhất nhờ tự do hoá đa phương thông qua WTO. Đó là lý do tại sao việc hoàn tất thành công Vòng đàm phán Doha, đạt được sự nhất trí giúp tạo ra những dòng chảy thương mại mới đã trở thành ưu tiên đàm phán thương mại quốc tế hàng đầu của Tổng thống chúng tôi.

Như tổng thống Bush đã đề cập trong bài phát biểu tại Đại hội đồng Liên hiệp quốc, vòng đàm phán Doha cho chúng ta cơ hội duy nhất trong cả một thế hệ để thúc đẩy phát triển kinh tế, tạo cơ hội, và đưa hàng chục triệu người ra khỏi cảnh nghèo đói.

Hiện vòng đàm phán Doha đang ở một điểm nối quan trọng.  Như tổng thống Bush đã tuyên bố gần đây, lúc này là thời điểm cho các nhà lãnh đạo đưa ra những lựa chọn khó khăn về chính trị. Những lựa chọn này sẽ cho phép các cuộc đàm phán đi đến kết thúc thành công. Chính các nước đang phát triển sẽ được hưởng lợi nhiều nhất từ sự thành công của vòng đàm phán Doha. Ngân hàng Thế giới World Bank ước tính các nước có thu nhập thấp và trung bình sẽ nhận được hai phần ba lợi nhuận trong thu nhập toàn cầu nhờ việc xoá bỏ các rào cản thương mại.

Các cuộc đàm phán Doha thường bị hiểu sai là một vấn đề giữa phía bắc và phía nam. Trên thực tế, các nước đang phát triển thu được lợi nhuận nhiều nhất từ việc giảm thuế quan tại các nước đang phát triển khác. Khoảng 70 phần trăm giá trị thuế quan do các nước đang phát triển này phải chi trả lại được thanh toán cho các nước đang phát triển kia. Thương mại giữa các nước đang phát triển cũng đang tăng trưởng với một tốc độ lớn hơn 50 % so với thương mại toàn cầu nói chung.  Do đó, thoả thuận của vòng đàm phán Doha sẽ là lời cam kết “đôi bên cùng có lợi” nhờ việc tạo ra các dòng chảy thương mại mới về hàng hoá công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ. 

Để kết thúc, tôi muốn bày tỏ sự cảm kích trước việc có cơ hội gặp gỡ các quan chức cao cấp của chính phủ Việt Nam. Tôi rất hài lòng với cam kết chung của hai bên trong việc làm sâu sắc thêm mối quan hệ và triển khai các bước tiến tiếp theo.

Xin cảm ơn các bạn.  Tôi sẽ trả lời một số câu hỏi của các bạn.

Câu hỏi:  Tôi là Jason Folkmanis, phóng viên Bloomberg.

Một lĩnh vực kinh tế được quan tâm đặc biệt tại Việt Nam trong thời gian gần đây là vấn đề tiền tệ.  Tất nhiên tôi hiểu tiền tệ không phải là lĩnh vực chuyên môn của ông.  Nhưng ông có thể cho biết vấn đề này có được nêu ra tại các cuộc họp của ông hôm nay hay không? Như ông biết, đồng đô-la đang giảm giá trị so với các đồng tiền khác. Tôi được biết Mỹ có chính sách về đồng đô la. Tôi không đề nghị ông nhắc lại điều đó. Tôi muốn biết vấn đề này có được nêu ra hay không, nhất là trong bối cảnh đồng nội tệ của Việt Nam đã được gắn kết một cách hiệu quả, dù không chính thức, với đồng đô-la trong một thời gian dài.  Có ai nêu vấn đề này ra hay không và liệu có sự quan ngại nào đó về diễn biến của đồng đô-la hay không?   

Mở rộng hơn, tôi muốn biết có câu hỏi nào cho ông về việc kinh tế Mỹ đang trải qua giai đoạn khó khăn hay không? Tuần trước chúng ta đã chứng kiến rất nhiều vấn đề tại thị trường tài chính. Một giám đốc cấp cao của Bloomberg đang làm việc tại Việt Nam trong tuần này và hôm qua chúng tôi đã có cuộc gặp với Ngân hàng trung ương. Tôi rất ngạc nhiên trước việc phía ngân hàng thực sự muốn hỏi vị giám đốc này ý kiến của ông ấy về sự suy thoái của kinh tế Mỹ, tính bất ổn của thị trường và tác động của những yếu tố này đối với Việt Nam.

Tôi muốn biết có ai đặt câu hỏi cho ông về những vấn đề này hay không? Liệu ông có ý kiến gì về những vấn đề đó hay không? Xin cảm ơn ông.

Ông Daniel Price:  Tôi sợ là tôi sẽ làm bạn thất vọng. Các cuộc thảo luận của chúng tôi chỉ tập trung vào quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư song phương cũng như các nỗ lực chung trong việc hội nhập kinh tế khu vực. Cảm ơn bạn.

Câu hỏi:  Tôi là phóng viên báo Thanh Niên.

Ông từng đóng vai trò cố vấn cho Việt Nam và Mỹ trong quá trình đàm phán Hiệp định Thương mại Song phương và WTO.  Xin ông cho biết Việt Nam cần làm gì để đơn giản hoá và hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm giúp Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế thành công?

Ông Daniel Price:  Cảm ơn bạn. Tôi cho rằng Đề án 30 là một đề án hoàn hảo. Như tôi đã nói ở trên, sáng kiến này sẽ có khả năng giải quyết vấn đề bạn nêu ra một cách chính xác. Đề án 30 tập trung vào việc đơn giản hoá thủ tục hành chính và tăng cường tính minh bạch. Hiển nhiên đây là một phần quan trọng trong việc giải bài toán đố của chúng ta. Một vấn đề quan trọng khác là Việt Nam cần tiếp tục các nỗ lực của mình trong việc cho phép khu vực tư nhân đóng vai trò ngày càng lớn hơn trong nền kinh tế. Tôi tin chúng ta sẽ được thấy những kết quả quan trọng khi Việt Nam thực thi các cam kết cho phép tăng tỉ lệ sở hữu nước ngoài trong các lĩnh vực quan trọng, cũng như tiếp tục cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước.  Xin cảm ơn bạn.  

Câu hỏi:  Tôi nghĩ ông cũng biết kinh tế Việt Nam đang gặp rất nhiều khó khăn. Giá cả tăng đồng thời với tỉ lệ lạm phát tăng cao trong khi chứng khoán đang sụt giảm. Ông có lời khuyên nào cho Chính phủ Việt Nam để giải quyết tình trạng này?

Ông Daniel Price:  Bạn đang đề cao tôi với câu hỏi này. Hiển nhiên là chính phủ Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thử thách. Chính phủ cần tự mình đưa ra quyết định về giải pháp tốt nhất cho các vấn đề này. Nếu được hỏi, lời khuyên của tôi sẽ là cần cảnh giác nhưng cũng không nên phản ứng thái quá. Tôi không thấy có lý do để cho rằng đang có sự phản ứng thái quá tại Việt Nam. Khi nền kinh tế gặp sức ép, chính phủ cần thực hiện các bước đi thận trọng và có tính toán. Qua trao đổi với các chuyên gia kinh tế cao cấp hôm nay, tôi cho rằng Việt Nam có đủ năng lực để xử lý các vấn đề nói trên một cách kỹ lưỡng và thận trọng.

Xin cảm ơn các bạn.

# # # #

lên đầu trang ^

Công cụ:

Printer_icon.gif In trang này



 

    Trang Web này được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ quản lý.
    Chúng tôi không chịu trách nhiệm về nội dung và tính bảo mật thông tin của các trang Web khác được liên kết đến.


Đại sứ quán Hoa Kỳ